ĐẠI H Ọ C Q U Ố C GIA HÀ NỘI
1RI M ỉ TÂM DÀO TẠO, l ỉ ồ l DƯỠNG GIẢNG VIÊN L Ý LUẬN CHÍNH TRỊ
VN L J LÊ THỊ HOA
ĐẢNG BỘ• THÀNH PHỐ HÀ NỘI
• LÃNH ĐẠO
•
XÂY DỤNG CHÍNH QUYỂN (1955 - 1965)
LU ẬN VĂN T H Ạ C s ĩ LỊCH s ử
Chuyèn ngàn h: Lịch sử Đảng C ộng sản Việt Nam
M ã số:
5. 03. 16
Người hướng dản khoa học: PGS.TS. TRẤN KIM ĐỈNH
HÀ NỘI - 2005
MỤC LỤC
Trang
Mở đ ầ u .............................................................................................................................I
Chương 1. Đáng bộ Hà Nội lãnh đạo xây dựng chính quyền (1955 -1 9 6 0 )......6
1.1. Đặc đicm lịch sử và thực trạng Hà Nội sau Hiệp định Giơnevơ
(7/1954).................................................................................................. 6
1.2. Đàng bộ Hà Nội với việc ổn định thành phố, bước đáu xây đụng
chính q u v ền ......................................................................................... 13
3. UBHCTP: ư ỷ ban Hành chính thành phố
4. UBNDTP: Uỷ ban nhân dân thành phố
5. ĐCSVN:
Đảng Cộng sản Việt Nam.
MỚ ĐÂU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi tiếp quản Hà Nội ngày 10.10.1954, thực dân Pháp đc lại cho
chúng ta một thành phố mang nặng tàn tích của chế độ cũ: Nạn trộm cắp,
cướp giật, mại dâm, ma tuý, sự hư hỏng xuống cấp của các cơ sở vật chất kỹ
thuật, nạn thất nghiệp tràn lan... Thực trạng đó tạo cho Hà Nội một khung
cảnh hỗn độn và xỏ bồ ngay trong những ngày đầu tiếp quản. Phải làm gì đế
nhanh chóng đưa thành phố vào trật tự ổn định? Phái làm gì đế Hà Nội xứng
tầm là thú đồ của cả nước? Đấy là những câu hỏi mà Đảng bộ và nhân dân thú
đó phải nhanh chóng tìm ra lời giải.
Trải qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ thủ đô Hù
Nội đã giữ vững truyền thống anh hùng song thực trạng của thành phố trong
ngày đầu liếp quản đã đặt ra vấn đc cấp hách mà Đảng bộ và nhân dân Hà Nội
nhận rõ là: Phái nhanh chóng xày dựng và kiện toàn bộ máy chính quyến
thành pho; chỉ có xây dựng được chính quyền thành phố vững mạnh mới có
the lãnh đạo nhún dân thủ đồ bước vào thời kỳ cách mạng mới - xây dựng chủ
nghĩa xã hội ớ Miền Bắc, tích cực chi viện cho Miền Nam. Bộ máy chính
quyền vững mạnh mới có thể huy động được sức mạnh của nhân dân thủ đô
tham gia xây dựng bộ máy chính quyền, công cụ quán lý đất nước của mình
để từ đó có thổ chuycn chính với kẻ thù, bảo vệ nhân dủn, bào vệ thành quả
cách mạng, đồng thời cải tạo những tàn tích của chế độ cũ, đảm bảo trật tự an
ninh trong nhân dân, cài tạo, phát triển kinh tế thú đô ngày một vững mạnh.
cc*ng nhán.viên chức lao động và tổ chức công đoàn Hà Nội, Nhà xuất bản
Lao> độn*. là Nội 2003...
2
Nhìn chung cho đến nay các công trình, các bài nghicn cứu mới đc cập
vé sự lãnh đạo chung của Đáng bộ Hà Nội trên các lĩnh vực (kinh tế, văn hoá,
tư tướng...). Còn nghiên cứu cụ thể về Đảng chỉ đạo xây dựng chính quyền
thành phố chưa được đé cập nhiều và chưa có công trình riêng biệt nghiên cứu
ve đề tài này.
Vì vậy vân đé Đáng bộ Hà Nội lãnh đạo xây dựng chính quyén (19551965) tuy không hoàn toàn mới nhưns vẫn còn nhiều vấn đc cần tiếp tục
nghiên cứu, giải đáp. Việc lựa chọn đề tài: “Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh
đạo xây dựng chính quyền (1955 - 1965) làm luận văn thạc sĩ, tác giả mong
muốn có những đóng góp thiết thực vào việc nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Hà
Nội qua một chặng đường lịch sử.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Luận vãn nêu rõ vai trò lãnh đạo của Đáng bộ Hà Nội thông qua những
chủ trương chính sách của Đảng bộ với việc xây dựng chính quyền thành phố
trong giai đoạn (1955-1965). Tác giả sẽ làm rõ một số vấn để lớn:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước chỉ đạo tăng cường bộ máy
chính quyền đối với thủ đỏ.
- Đảng bộ thành phố Hà Nội chi đạo xây dựng bộ máy chính quyển thành phố.
- Hoạt động của chính quyền thành phố giai đoạn 1955 - 1965.
3.2. Nhiệm vụ
thống kc, phân tích, so sánh, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
- Thông qua việc nghiên cứu đề tài "Đảng bộ thành phô Hà Nội xáy
dựng chính quyéti (1955 - 1965)” góp phán làm rõ một số vấn đề:
- Vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của Hà Nội - thủ đô của cả nước.
- Sự lãnh đạo của Đảng xây dựng chính quyền và vai trò vị trí của chính
quycn trong giai đoạn lịch sử đặc biệt (1955 - 1965).
4
- Nghiên cứu chặng đường lịch sử Đảng hộ Hà Nội lãnh đạo xây dưng
chính quyến (1955 - 1965) mang một ý nghĩa thiết thực:
- Luận văn sẽ cố gắng khai thác các tư liệu mới, đặc biệt là nguồn tư liệu
lưu trừ trong giai đoạn này.
- Hà Nội đã gần một nghìn năm tuổi, lịch sử của Hà Nội qua các chặng
dường là sự gắn kết máu thịt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì vậy nghiên
cứu một thời điểm lịch sử đặc biệt đc từ đó góp phần rút ra những bài học kinh
nghiệm cụ thể cho việc chỉ đạo xây dựng chính quyền của Hà Nội nói riêng và
cả nước nói chung có một ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới của
toàn Đáng và nhân dân ta ngày nay.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn hao
lỊồm 3 chươnq:
Chương ì : Đáng bộ Hà Nội xây dựng chính quyền ( 1955-1960 )
Chương 2: Đảng hộ Hà Nội xây dựng chính quyển ( 1961-1965)
Chương 3: Những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm.
6
Hà Nội hòa mình vào dòng chảy thắng lợi cách mạng trên cả nước, kết
thúc cuộc kháng chiến chống Pháp đầy oanh liệt, hy sinh, gian khổ, Hà Nội
vui mừng đón Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch từ chiến khu Việt
Bắc trớ lại thủ đô.
Từ đây thủ đô Hà Nội bước vào thời kỳ lịch sử mới, giai đoạn chuyển
tiếp từ chiến tranh sang hòa bình; giai đoạn cải tạo xã hội cũ; xây dụng xã hội
mới với bộn bề công việc.
Lúc này Hà Nội mang những dấu ấn lịch sử đặc biệt của thời kỳ sống
trong hòa bình chỉ là tương đối vì phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của
cách mạng của cả nước: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc,
tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miên Nam, thực hiện
thống nhất đất nước.
Nhận thức rõ vị trí Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, trái
tim của cá nước. Công cuộc cải tạo, xây dựng báo vệ thủ đô theo con đường xã
hội chủ nghĩa có ảnh hưởng quyết định tới sự nghiệp cách mạng chung của
nước nhà. Sự phát triển của thủ đô Hà Nội không chỉ tác động toàn diện đến
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc, còn ảnh hưởng tới sự vững
mạnh của cả nước, của chế độ xã hội mới, quyết định cuộc đấu tranh giải
phóng miền Nam.
Làm sao để Hà Nội là thành phố gương mẫu cho cả nước noi theo và học
tập, là thành phố kiểu mẫu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa để nhân dân thêm
tin yêu vào Đảng, vào chế độ mới.
Trước yêu cầu của lịch sử, đòi hỏi Đảng hộ và nhân dân thành phố Hà
Nội phải nhanh chóng đưa thành phố đi vào ổn định, kiện toàn tổ chức, xây
dựng chính quycn vững mạnh để giải quyết những mục tiêu và nhiệm vụ cách
mạng trong thời kỳ mới.
8
Tinh hình thương mại, thương nghiệp, dịch vụ là nét nổi bật của kinh tê
Hà Nội sau 8 năm cai trị của Pháp lúc này dien hiến phức tạp.
Cho đến giữa năm 1954, Hà Nội vẫn có các hãng buôn và các công
ty lớn cúa tư bản Pháp 12 4 Ị như Dumaret; PoinSard, Veyret; Chaffanjon;
L.U.C.I.A... Những khách sạn lớn như: Metropole; HotclDclapaix; Hotel
Splendid... Song đến trước ngày Ỉ0/10/1954, các hãng kinh doanh lớn
cúa thương nhân ngoại kiều hầu hết đã chuyển vốn khỏi Hà Nội và ngừng
hoạt động.
Sau 10/10/1954, ở thành phố còn 9.714 cửa hiệu và quầy hàng của các
thương nhân vừa và nhỏ, trong đó có 2.021 quầy hàng của thương nhân đặt ờ
vía hè. Họ kinh doanh 78 loại mặt hàng, nhiều nhất là bách hóa: 247 cứa hiệu;
thực phẩm: 164 cửa hiệu; xuất nhập khẩu: 168 cửa hiệu; hàng tơ lụa: 149 cửa
hiệu. Ngoài ra còn có 1.468 tiểu thương ở 8 chợ nội thành chưa kể vài nghìn
người buôn chuyến chợ giời [14].
Các ngán hàng lớn của các hãng tư bản tài chính Pháp, Hoa đã di dời
khỏi Hà Nội hoặc chỉ tồn tại dưới danh nghĩa còn quỹ thì trống rỗng.
Nhìn chung, tình hình kinh tế của Hà Nội sau 1954 là kết quả của một
nền kinh tê thuộc địa điển hình, yếu kém, manh mún, lạc hậu, què quặt về mọi
mặt. Cộng với sự phá hoại của thực dân Pháp trước khi rút chạy làm cho việc
sản xuất càng khó khăn.
Thực trạng đó đã đật ra nhiều vấn đề cấp bách cho Đảng bộ và nhân dân
thành phố Hà Nội. Làm sao nhanh chóng giải quyết giảm bớt khó khăn, nâng
cao đời sống cho nhân dân, đưa các hoạt động san xuất đi vào ổn định, thúc
đẩy hoạt động kinh tế cùa Hà Nội theo con đường chủ nghĩa xã hội... Đó là
những vấn đề đòi hỏi lãnh đạo Đáng bộ, các cấp, các ngành và mọi người dân
Hà Nội phái chung sức cùng nhau xây dựng.
10
Cúc tệ nạn mại dâm, cờ bạc, trộm cắp hoành hành khắp nơi (2000 tiệm
hút. gần 2 vạn gái điếm, 200 - 300 vụ ăn cắp/ ngày, 45 nhà chứa, 50 nhà cô
dâu, 13 tiệm nhảy ...[26]. Những dấu ấn sinh hoạt vãn hóa độc hại của chế độ
thuộc địa vẫn tồn tại và hoạt động.
Tất cả những vấn đề trên đặt ra yêu cầu mới cho Đàng bộ và nhân dân
ihành phố Hà Nội: phải lãnh đạo nhàn dân thủ đô nhanh chóng đi vào công
cuộc khôi phục, cải tạo và phát triển kinh
tế vãnhóa, chính trị,xã hội
một
cách tốt nhất, đặc biệt là công việc xây dựng củng cố chính quyền để nhanh
chónu đưa thành phố vào hoạt động ổn định.
ỉ . 1.3. Tình hỉnh cơ sở Đảng và các giai cấp,tầng lớp,tổ chức quần
chúng ở Hà Nội sau 1954
Đáng bộ Hà Nội là một Đảng bộ vững mạnh, kiên định, đfì được tôi
luyện và trưởng thành trong cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống
Pháp, gắn bó máu thịt với quần chúng nhân dân. Khi vào tiếp quản, số
lượng đảng viên và số quần chúng trung kiên, cốt cán, cảm tinh của Đảng
cụ thế như sau:
Đảng viên của Đảng bộ có gần 80 đổng chí.
Quần chúng ở các đoàn thể:
Nội thành có: 1.473 trung kiên và cảm tình Đảng, 1.314 tự vệ.
Ngoại thành: 1.585 trung kiên và cốt cán, 809 tự vệ.
viên, 9 gia đình hộ đội, 182 gia đình là cơ sở cách mạng, 258 gia đình tham
gia trong các tổ chức chính trị cách mạng.
Các nhà tư sán mại han và tư sản lớn đã di cư hoặc sang Pháp, bộ phận tư
sán vừa và nhỏ ớ lại thành phố sau ngày tiếp quản.
Nông dân (chủ yếu ở ngoại thành). Tháng 6/1954, số dân ở 115 thôn
ngoại thành là 150.000 người (nội thành có 286.624 người) [27]. Họ là lực
12
lương cách mạng ycu nước, trung (hành với Đảng là bộ phận chủ lực trong
phong trào chiến tranh chống đê quốc và phong kiến, góp phán to lớn vào
thắng lợi của cuộc kháng chiến. Họ là lực lượng quan trọng đế’ xây dựng chính
quyền cấp cơ sớ.
Tầng lớp địa chủ quan lại: vốn là lực lượng thân Pháp, là đối tượng của
cách mạng trong giai đoạn cải lạo kinh tế sau này.
Các tổ chức tôn giáo: Đến tháng 10/1954 Hà Nội có các tổ chức tôn giáo
lớn là Phật giáo, Ki tô giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài. Các tổ chức tôn giáo
và tín đồ Hà Nội hướng các hoạt động của họ chủ yếu vào tâm linh và từ thiện
xã hội. Phẩn ít lẫn trong Thicn chúa giáo làm gián điệp. Đa số giáo dân là
nghèo khổ, có tinh thần kính chúa, yêu nước. Sau ngày giải phóng họ là lực
lượng tích cực tham gia xây dựng chế độ mới.
Có thể nói, Hà Nội sau giải phóng là một thủ đổ từ chiến tranh chuyển
sang hòa bình. Là một trung tâm chính trị, quân sự quan trọng của Pháp ở
Đông Dương, toàn bộ bộ máy chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội đều nhằm
phục vụ cho quân đội Pháp và chính quyén tay sai. Sau tiếp quản Hà Nội trở
lại là thủ đổ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bắt tay vào xây dựng, cái
tạo lại toàn bộ hệ thống chính trị, cơ cấu kinh tế - xã hội theo chế độ mới - chế
độ chủ nghĩa xã hội.
1.2.
Khỏi kinh tế tài chính: Sở tài chính, Sở địa chất, Sở công thương, Sở canh
nông, Sở lao động, Sở thuế, Sớ kho thóc, sỏ kho bạc, Sở ngân hàng, Sớ trước
bạ điền thổ.
Khối xí nghiệp công ích: Sớ hỏa xa, Sở bưu điện, Sỡ giao thông, Sơ công
dụng. Sớ công vụ.
Khối tuyên - văn - xã: Sở tuyên truyển, Đài phát thanh, Báo tin tức, Nhà
in Quốc gia, Ban tiếp quản giáo dục, Ban tiếp quản y tế.
Ngày 9/10/1954, Quân đội nhân dân tiến vào nội thành, 16h30' ngày
9/10/1954, Quân đội ta đã làm chủ thành phố Hà Nội, tiếp quản thành phố trật
tự, gọn gàng. Đến sáng 10/10/1954, Ưỷ ban quân chính thành phố cùng đại
đoàn 308, đi đầu là Trung đoàn Thủ đồ từ nhiều ngã tiến vào Hà Nội, chúng ta
chính thức làm chú, Thú đô được hoàn toàn giai phóng.
15
Trong quá trình tiếp quán quân đội và nhân dân Hà Nội tập trung mọi nỗ
[ực đấu tranh chống sự phá hoại của địch. Trước ngày Thú đô được giải phóng
Hồ Chủ Tịch đã trực tiếp chỉ đạo, kêu gọi đồng bào Hà Nội: "Chính phu và
nhân dân phải cùng nhau ra sức giữ gìn trật tự, an ninh.
Chúng ta cần phái duy trì và khôi phục mọi hoạt động sán xuất, buôn
bán. kinh tế và tài chính của Thủ đô ta. Các nhà văn hóa, giáo dục phải
hãng hái phục vụ nhân dàn. Chúng ta phai duy trì và khôi phục mọi hoạt
động văn hóa.
Về chính trị, chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, thực hiện tự do dân chủ.
Mọi người đều đưa hết tài đức của mình để khỏi phục thủ đô và xây dựng một
nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ.
Nói tóm lại, nhân dân, bộ đội và cán bộ phải thi hành đúng chính sách và
tuân theo kỷ luật mà Uỷ ban quân chính đã ban bố" [ 11, tr. 45].
Sau ngày tiếp quản, toàn thể nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước đều
vàn hỏa 1955 - ỉ 957
Ngày 1/1/1955, tại buổi lề chào mùng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung
ương Đảng và chính phủ trở về thú đô, Bác Hổ đọc diễn vãn nêu rõ nhiệm vụ
cho nhân dân cả nước trong thời kỳ mới: "Nhằm mục đích củng cố hòa bình,
thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
- Chúng ta kiên quyết thi hành đúng đắn hiệp định đình chiến.
- Chúng ta phai ra sức khôi phục lại kinh tế: nồng nghiệp, công nghiệp,
thương nghiệp, vận tải, để nâng cao dần đời sống của nhân dân.
- Chúng ta phái ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta
phái củng cố quốc phòng, bộ đội ta phải thi đua học tập chính trị và kỹ thuật,
giữ vững kỷ luật và tác phong khắc khổ.
- Chúng ta phải tiếp tục vận động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng
đất, để thực hiện người cày có ruộng" [ 11, tr. 66].
Thực hiện lời dạy của Hổ Chú Tịch, ngày 18/01/1955, Hội nghị Ban chấp
hành Đang bộ thành phố' Hà Nội đã ra nghị quyết về nhiệm vụ công tác 6
tháng đầu năm 1955, Thành úy chủ trương ra sức khai phá ruộng hoang, đào
17
mương, đắp đập, lấy nước chống hạn. Sau 3 năm thực hiện, nông dàn ngoại
thành đã phục hồi hầu hết diện tích hoang hóa, năng suất lúa được nâng lổn,
chăn nuôi có bước phát triển.
Tháng 4/1955, theo đề nghị của Thành uý Hà Nội, thú tướng chính phủ
đã quyết định thành lập Ban liên lạc thành thị nông thôn trực thuộc Uỷ ban
hành chính thành phố để thực hiện quá trình cải cách ruộng đất ở Hà Nội.
Bên cạnh những thành quả to lớn, công tác quản lý hộ khẩu, cải cách
ruộng đâì đã phạm những sai lầm khuyết điểm. Do trong quá trình chỉ đạo,
Thành uỷ, Uỷ han hành chính đã chưa sâu sát tình hình thực tế. Một số cán bộ
chưa được giáo dục một cách đầy đủ về chủ trương, chính sách, luật pháp và
Phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng phát triển mạnh mẽ ở khắp các
xã ngoại thành, khu phố nội thành, cơ quan, xí nghiệp để tạo không khí vui
tươi, phấn khới sau ngày giải phóng. Công tác cải tạo hủ tục, chống mê tín dị
đoan, văn hóa phẩm đồi trụy có kết quả lớn. Sớ Vãn hóa phối hợp chặl chẽ
cùng với các cấp chính quyền cơ sở và đoàn thể quần chúng tổ chức nhiều đợt
tuyên truyền, học tập rộng rãi trong nhân dân, phê phán tác hại của mê tín dị
đoan, hài trừ các tộ nạn xã hội và văn hóa phẩm đồi trụy.
1.2.4.
Đàng bộ Hà Nội chỉ đạo củng cố các tổ chức Đàng và xây dựng
hệ thống chính quyền thành phô
Từ khi tiếp quản, Trung ương tiếp tục tàng cường cho Hà Nội một số lớn
cán bộ đáng viên. Cuối năm 1955, toàn thành phố có hơn 3.500 đảng viên tăng
27 lần so với lúc tiếp quản, chia thành hơn 100 chi bộ, số chi bộ thuộc các
chính quyền công sở chiếm đa số (63 chi bộ). Tuy nhiên ở các nhà máy, khu
phố. trường học và các xã ngoại thành tổ chức Đảng còn rất mỏng nhiều nơi
không có cơ sở Đảng.
Từ thực tế đó, Đảng hộ Hà Nội đã tăng cường công tác xây dựng Đang,
củng cố chi bộ cho kịp thời với nhiệm vụ chính trị, tháng 1/1995, Ban chấp
19
hành Đàng bộ Hà Nội họp ra nghị quyết nêu rõ: để thực hiện nhiệm vụ khôi
phục kinh tố cần ra sức củng cố và xây dựng chi hộ, đặc biệt phái phát triển cơ
sớ Đáng ờ nhà máy và nông thôn là việc rất trọng yếu đối với Đảng bộ, tháng
2/1955, Thành úy đã điều động 150 cán bộ tăng cường cho cơ sở.
Thành ủy mở nhiều đợt cúng cố chi bộ nông thôn, các chi bộ khu phố,
ánh lên cấp trên ý kiến và yêu cẩu của nhân dân, đảm nhận những công tác
hình dân học vụ, trị an, vệ sinh, tương trợ...
ớ ngoại thành, sau đợt cái cách ruộng đất, đã bãi bỏ ban đại diện Uỷ ban
quân chính và Uỷ ban hành chính tại ngoại thành. Ban đại diện Uỷ ban quân
chính và Uý ban hành chính tại quận đổi thành Uỷ ban hành chính quận. Mỗi
xã có Uỷ ban hành chính xã và chia ra thành xóm, do trưởng thôn phụ trách.
Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ Tịch 'Thủ đô ià thú dỏ của nhân dân, nhân
dân là người chủ thủ đô" [11, tr.85].
Từ sau ngày Chính phủ quyết định thành lập Ưỷ ban hành chính thành
phổ, trong khi chưa bầu cử được Hội đồng nhân dân, u ỷ ban hành chính thành
phố đà tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân thành phố. Tại Hội nghị, Uỷ ban
hành chính báo cáo tình hình chung của thành phố và tập hợp những ý kiến
của đại biểu nhân dân. Qua Hội nghị, quần chúng được phát huy quyển dân
chủ của mình bằng việc tham gia vào công tác quản lý xã hội; quán chúng
không chỉ để đạt nguyện vọng, kiến nghị mà còn tham gia phê bình, nhận xét,
góp ý kiến cho chính quyền thành phố.
Tại Hội nghị đại biểu nhân dân lần thứ 8/1956, báo cáo của Uỷ han hành
chính thành phô đã nêu rõ: "Nhân dân và chính quyền thành phô luôn hoàn
thành thắng lợi kế hoạch Nhà nước 6 tháng đầu năm 1956.
Chính quyền nhân dân thủ đô được sự ủng hộ tích cực của các tầng lớp
nhàn dàn, của các đảng phái đoàn thể trong Mặt trận Tổ quốc ngày càng được
củng cố vững mạnh. Hệ thống chính quyền thành phố đã được xây dựng từ cơ
sứ mà lên".
21
Tlìành ủy chú trọng chăm lo, cúng cố và xây dụng lực lượng công an.
quân đội, tòa án. Đầu năm 1957, Mặt trận Hà Nội chuyển thành Thành đội Hà
Nội, chí dạo công tác quân sự địa phương cả ở nội thành và ngoại thành. Dân