ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ
***********
TRẦN THỊ VÂN
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số:
60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ MAI HOA
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 4
1. Lý do lựa chọn đề tài .................................................................................. 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 4
2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng bô ̣ thành phố Hà Nô ........
5
̣i
2.2. Nhóm công trình nghiên cứu về Hà Nội trên con đường đổi mới ......... 5
1.3.2. Đẩy mạnh công tác đối ngoại, tuyên truyền, nâng cao vị thế của
Thủ đô, tranh thủ mọi nguồn lực, khả năng hợp tác kinh tế
với thủ đô các nước ............................................................................. 38
Tiểu kết chƣơng 1:...................................................................................... 50
Chƣơng 2: QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1996 ............................................................... 53
2.1. Đặc điểm của giai đoạn và quan điểm, chủ trương về công tác
đối ngoại của Đảng bộ thành phố Hà Nội ................................................ 53
2.1.1. Đặc điểm tình hình và chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam .................................. 53
2.1.2. Quan điểm, chủ trương về công tác đối ngoại của Đảng bộ
thành phố Hà Nội .................................................................................. 61
2.2. Đảng bộ Hà Nội chỉ đạo công tác đối ngoại của thành phố ................ 64
2.2.1. Củng cố quan hệ với các đối tác truyền thống đi đôi với
mở rộng quan hệ ................................................................................... 64
2.2.2. Đẩy mạnh hợp tác kinh tế với các đối tác truyền thống
đi đôi với mở rộng diện và vùng hợp tác .............................................. 71
2.2.3. Tăng cường đối ngoại nhân dân .................................................. 78
Tiểu kết chƣơng 2:...................................................................................... 80
Chƣơng 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM .......................... 83
2
3.1. Một số nhận xét cơ bản ...................................................................... 83
3.1.1. Đảng bộ thành phố Hà Nội hoạch định quan điểm, chủ trương về
công tác đối ngoại trên cơ sở vận dụng các quan điểm đối ngoại của
Đảng vào điều kiện thực tế thành phố và có những sáng tạo riêng ........ 83
3.1.2. Đảng bộ thành phố Hà Nội đã đề ra các giải pháp, biện pháp
mới (1986 – 1996), dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố, song song với
việc mở rộng quan hệ đối ngoại với các địa phương trong cả nước, Thủ đô Hà
Nội không ngừng tăng cường và mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, các
thành phố, thủ đô, chính quyền và nhân dân các nước trong khu vực, cũng
như trên thế giới. Trong công tác đối ngoại, thành phố Hà Nội đã gặt hái được
những thành tựu đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào việc đưa Hà Nội
thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước nâng cao
vai trò, vị thế của Thủ đô trên trường quốc tế.
Hiện tại, Thủ đô Hà Nội vẫn tiếp tục đẩy mạnh công tác đối ngoại, đi
đầu trong phát triển kinh tế, gắn sự phát triển ổn định của Thủ đô với tăng
cường, phát triển quan hệ đối ngoại. Do vậy, nghiên cứu quá trình Đảng bộ
thành phố Hà Nội lãnh đạo thực hiện công tác đối ngoại từ năm 1986 đến năm
1996); trên cơ sở đó, đúc rút những kinh nghiệm phục vụ hiện tại là một việc
làm vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa có tính thời sự nóng hổi.
Đó chính là những lý do cơ bản để chúng tôi chọn chủ đề cho đề tài luận văn
thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành lịch sử ĐCSVN là “Đảng bộ thành phố Hà Nội
lãnh đạo công tác đối ngoại từ năm 1986 đến năm 1996”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kể từ khi Thủ đô Hà Nội cùng cả nước bước vào công cuộc đổi mới
(1986), công tác đối ngoại của Chính quyền Hà Nội dưới sự lãnh đạo của
4
Đảng bộ thành phố đã trở thành một lĩnh vực được giới nghiên cứu quan tâm.
Do vậy, đã có một số lượng không nhỏ những công trình nghiên cứu có liên
quan trực tiếp, hoặc gián tiếp đến vấn đề này. Có thể chia những công trình
nghiên cứu này thành những nhóm tư liệu như sau:
2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội
5
lịch sử văn hóa , phát triển bền vững T hủ đô Hà Nội đến năm 2010” (Phùng
Hữu Phú (chủ biên), Nxb Hà Nô ̣i, 2010),….
Những công trình này đi sâu nghiên cứu về Hà Nô ̣i trên con đường đổ i
mới, tâ ̣p trung vào những nô ̣i dung căn bản nhấ t của công cuô ̣c đổ i mới ở Thủ
đô Hà Nô ̣i. Trong các công trình , các tác giả đã làm rõ nhiều vấn đề liên quan
đến quá trình hoạch định đường lối đối ngoại của Hà Nội , đổi mới tư duy đố i
ngoại, quá trình nhâ ̣n thức các vấ n đề quố c tế ,…. Các nội dung liên quan đến
chủ trương , quan điể m của Đảng bô ̣ thành phố Hà Nô ̣i về đối ngoại cũng
đươ ̣c đề câ ̣p đế n , nhưng ở chừng mực nhấ t đinh
̣ , trên những khía ca ̣nh đơn lẻ
hoă ̣c hế t sức tổ ng quát . Diễn tiế n của mố i quan hê ̣ trên mo ̣i phương diê ̣n vẫ n
là khoảng trống trong mảng công trình này
. Phầ n tổ ng kế t kinh nghiê ̣m về
hoạch định chủ trương đố i ngoa ̣i và chỉ đa ̣o củng cố
, thúc đẩy quan hệ đối
ngoại Hà Nội mới chỉ được nghiên cứu ở tầm mức vừa phải .
2.3. Nhóm công trình nghiên cứu về quan hệ đối ngoại của Hà Nội
“Hà Nội trong quá trình hội nhập kinh tế quố c tế ” (Nghiêm Xuân Đa ̣t ,
Nxb Chin
́ h tri ̣quố c gia , 2002); “Công tác đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế của Hà Nội và định hướng đến năm 2010”
(Sở Ngoại Vụ Hà Nội, 2005); “Đố i ngoại Thủ đô Hà Nội thời kỳ đổ i mới và
Một cách tổng quát, những công trình nêu trên từ nhiều khía cạnh khác
nhau đã đánh giá một cách khái quát về công tác đối ngoại của thành phố Hà
Nội với cả những thành tựu, hạn chế; tuy nhiên, chưa có một công trình nào
đề cập một cách hệ thống, toàn diện, trực tiếp về quá trình Đảng bộ thành phố
Hà Nội lãnh đạo công tác đối ngoại từ năm
1986 đến năm 1996 dưới góc độ
lịch sử Đảng như đề tài mà chúng tôi đã lựa chọn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố
Hà Nội đối với công tác đối ngoại những năm 1986 – 1996.
- Làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong quá
trình Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác đối ngoại từ năm 1986 đến
năm 1996; trên cơ sở đó, đúc rút một số kinh nghiệm phục vụ hiện tại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ những yếu tố, điều kiện lịch sử quy định, chi phối
quá trình hình thành và nội dung các chủ trương, biện pháp Đảng bộ phố Hà
Nội đề ra trong lãnh đạo công tác đối ngoại những năm 1986 - 1996.
- Trình bày, làm rõ hệ thống chủ trương, biện pháp, giải pháp của Đảng
bộ thành phố Hà Nội trong lãnh đạo công tác đối ngoại qua hai giai đoạn:
7
1986 - 1990; 1991 - 1996; bước đầu dựng lại một cách khách quan, khoa học
bức tranh lịch sử về công tác đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành
phố Hà Nội từ năm 1986 đến năm 1996.
- Phân tích những thành tựu, tồn tại, khó khăn và thách thức trong quá
sánh để xử lý các sự kiện, con số để dựng lại bức tranh lịch sử Đảng bộ thành
phố Hà Nội lãnh đạo công tác đối ngoại.
Luận văn cũng đi sâu, làm rõ những sự kiện chủ yếu, quan trọng, phản
ánh bản chất, sự vận động trong quan hệ đối ngoại của thành phố Hà Nội; làm
rõ những thành tựu, hạn chế của quá trình Đảng bộ Hà Nội chỉ đạo thực hiện
công tác đối ngoại của thành phố bằng các phương pháp lịch sử, logic, phân
tích, đối chiếu, thống kê... Để luận giải và rút ra những kinh nghiệm chủ yếu,
luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp logic - lịch sử, so sánh và hệ thống hóa.
5.2. Nguồn tài liệu và hướng sử dụng
- Các tác phẩm kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin và của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về đối ngoại, về quan hệ quốc tế là cơ sở lý luận cho luận văn.
- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh, thông tri... của Đảng Cộng
sản Việt Nam; Đảng bộ, Chính quyền thành phố Hà Nội về công tác đối
ngoại; các báo cáo, văn bản tiếp xúc của các cơ quan, phái đoàn quốc tế với
Hà Nội hiện đang được lưu trữ tại Phòng lưu trữ Thành ủy Hà Nội, Chi cục
văn thư lưu trữ thuộc Sở nội vụ thành phố Hà Nội, Sở kế hoạch đầu tư thành
phố Hà Nội.... là những tài liệu gốc của luận văn.
- Các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, sách có liên quan do
các cơ quan nghiên cứu uy tín đã công bố là nguồn tư liệu quan trọng.
- Các tư liệu, sách báo về lịch sử thành phố Hà Nội, lịch sử Đảng bộ
thành phố Hà Nội là nguồn tài liệu bổ trợ quan trọng.
- Tài liệu thống kê của Tổng cục thống kê được sử dụng để làm rõ một
số nội dung có liên quan.
9
6. Đóng góp của luận văn
- Trình bày có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội đối
với công tác đối ngoại những năm 1986 – 1996; tái hiện một cách tương đối
cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực
phong phú, tốt tươi. Xem khắp nước ta, chỉ nơi này là thắng địa.” [40, tr. 19].
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, trải qua những bước thăng
trầm, Hà Nội vẫn mang sắc thái riêng biệt, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hoá xã hội và bắt đầu từ những năm đổi mới, trở thành trung tâm khoa học
công nghệ, du lịch và giao lưu quốc tế của cả nước.
Hà Nội là trung tâm chính trị của cả nước, là nơi đặt trụ sở các cơ quan
lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể xã hội.
Thủ đô Hà Nội cũng là nơi diễn ra các đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng,
các kỳ họp Quốc hội, trực tiếp tiếp thu các Nghị quyết, chủ trương, đường lối,
sách lược đối nội và đối ngoại cho từng giai đoạn xây dựng và chiến đấu bảo
vệ Tổ quốc. Hà Nội là nơi đặt đại sứ quán của nhiều quốc gia trên thế giới và
diễn ra mọi hoạt động ngoại giao quan trọng. Tất cả các cơ quan thông tấn,
11
báo chí, xuất bản cấp quốc gia đều đóng tại Hà Nội. Tin tức của mọi vùng
lãnh thổ trên đất nước cũng được phát ra từ đây trên sóng phát thanh và
truyền hình. Hàng trăm tờ báo và tạp chí, hàng nghìn đầu sách mới của gần 40
nhà xuất bản Trung ương phát hành trong nước, nước ngoài, làm phong phú
đời sống văn hoá của nhân dân và giới thiệu hình ảnh Việt Nam với bạn bè
thế giới. Hà Nội có nền tảng chính trị ổn định và chính sách đối ngoại mở cửa
linh hoạt, yếu tố này tạo khả năng mở rộng quan hệ với các nước Đông
Dương, các nước Đông Nam Á, với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và
các nước trên thế giới.
Hà Nội là trung tâm kinh tế lớn nhất ở Bắc Bộ, trung tâm kinh tế lớn
của cả nước, có sức hút và khả năng lan toả rộng lớn, tác động trực tiếp tới
quá trình phát triển của vùng Bắc Bộ và cả nước. Đồng thời, Hà Nội có khả
năng khai thác thị trường rộng lớn của vùng và của cả nước để sản xuất, tiêu
Mặt khác, Mỹ và hệ thống tư bản chủ nghĩa bị rơi vào khủng hoảng kinh tế.
Ba trung tâm của hệ thống tư bản chủ nghĩa là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu đều
bị lạm phát và suy thoái.
Bên cạnh đó tình hình quốc tế cũng có những mặt tiêu cực. Ở các nước
XHCN xảy ra tình trạng quan liêu về quản lý, các hiện tượng tiêu cực ngày
càng tăng. Sau 7 năm hòa hoãn Đông – Tây, từ năm 1978, Mỹ thúc đẩy chạy
đua vũ trang, tăng cường phản kích phong trào giải phóng dân tộc. Sau khi
Việt Nam thống nhất, một số lực lượng thù địch đẩy mạnh hoạt động chống
Việt Nam, hỗ trợ Khơ me đỏ gây cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Ở phía
Bắc, Trung Quốc gây ra hàng trăm vụ lấn chiếm biên giới. Sức ép từ biên giới
phía Bắc ngày càng gia tăng.
Việt Nam vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21
năm tuy có những khó khăn về kinh tế - xã hội, song uy tín, vị thế quốc tế
được nâng cao. Đến ngày 19 – 8 – 1976, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao
13
với 97 nước trên thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã đặt quan hệ với Việt Nam,
sẵn sàng giúp Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định sản xuất và
đời sống. Tuy nhiên, việc Mỹ bao vây, cấm vận Việt Nam đã gây ra những
khó khăn to lớn trong quan hệ đối ngoại.
Trong điều kiện đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương “tranh thủ
điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội, đồng thời củng cố quốc phòng và an ninh,...” [98, tr. 5];
trên cơ sở đó, tích cực mở rộng quan hệ đối và hợp tác kinh tế với nước ngoài,
nhằm thu hút vốn, thiết bị kỹ thuật phục vụ công cuộc hàn gắn vết thương
chiến tranh, xây dựng lại đất nước.
Sau chiến tranh, cùng với cả nước, Hà Nội tiến hành khôi phục và phát
triển kinh tế. Trên chặng đường mới, để xây dựng Hà Nội xứng đáng với vai
Thủ đô; thứ ba, góp phần cùng với Đảng và Nhà nước làm nghĩa vụ quốc tế
[88, tr. 36]. Nhất quán với quan điểm Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần
thứ VII (6 – 1977), Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ VIII
(02 – 1980), Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ IX (6 –
1983) khẳng định trọng tâm công tác đối ngoại của Hà Nội là tôn trọng, tăng
cường quan hệ hữu nghị, đề cao vị trí quốc tế của Thủ đô; góp phần thực hiện
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Thủ đô theo các mục tiêu kinh tế - xã hội của
Thành phố đề ra.
Triển khai các nhiệm vụ nêu trên, đối với công tác đối ngoại, Đảng bộ
thành phố yêu cầu phải tích cực tạo điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác với
thủ đô các nước; đặc biệt, chú trọng quan hệ với thủ đô các nước láng giềng,
truyền thống. Đảng bộ thành phố Hà Nội chỉ đạo tổ chức các chuyến viếng
thăm các cấp lãnh đạo của hai Thủ đô Hà Nội và Viêng Chăn, nhằm củng cố
tình hữu nghị. Ngày 01- 4 – 1975, Uỷ ban Hành chính thành phố Hà Nội tổ
chức đón tiếp Đoàn đại biểu thành phố Viêng Chăn do Thị trưởng thành phố
Viêng Chăn Phagna Boun Không Prađichít làm Trưởng đoàn sang thăm hữu
nghị Thủ đô Hà Nội. Ngày 28 – 12 – 1978, Đoàn cán bộ đầu tiên của Thành
uỷ Hà Nội do Phó Bí thư Thành uỷ Trần Sâm làm Trưởng đoàn đã đến Thủ
đô Viêng Chăn để khảo sát và nghiên cứu tình hình, xây dựng đề án giúp đỡ
15
Viêng Chăn “kinh nghiệm lãnh đạo, cải tạo, xây dựng, tổ chức và quản lý
thành phố; đào tạo bồi dưỡng một số cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật;
giúp cán bộ hướng dẫn tổ chức thực hiện; giúp xây dựng một số xí nghiệp sản
xuất” [120, tr. 1]. Những chuyến viếng thăm giữa hai Thủ đô đã góp phần
củng cố tình hữu nghị truyền thống, tiếp tục phát triển quan hệ phục vụ mục
tiêu xây dựng Thủ đô.
Nhằm tăng cường đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa Thủ đô Hà Nội –
Với Phnômpênh (Campuchia), ngày 22 – 8 – 1984, Hà Nội và
Phnômpênh chính thức ký kết văn bản thiết lập quan hệ giữa các tổ chức
Đảng, chính quyền, các tổ chức quần chúng, các ngành chuyên môn với mục
tiêu tăng cường quan hệ hữu nghị, trao đổi kinh nghiệm về các lĩnh vực mà cả
hai bên đều quan tâm. Hà Nội nhận đào tạo cán bộ Phnômpênh về công tác
Đảng, công tác quần chúng, nhận cán bộ và công nhân kỹ thuật sang học tại
Hà Nội hoặc cử chuyên gia sang giúp đào tạo tại Phnômpênh. Dưới sự chỉ đạo
của Đảng bộ thành phố, năm 1984, Thủ đô Hà Nội đón hai đoàn cán bộ của
Phnômpênh sang thăm và cử hai đoàn cán bộ Thủ đô Hà Nội tới
Phnômpênh trao đổi kinh nghiệm. Qua nghiên cứu, tìm hiểu Hà Nội,
Phnômpênh đã yêu cầu Hà Nội giúp đỡ trong các lĩnh vực văn hóa, tư
tưởng, y tế, xã hội.
Được sự nhất trí của Đảng bộ thành phố, phục vụ mục tiêu củng cố
và phát triển quan hệ hợp tác giữa Thủ đô ba nước Đông Dương, ngày 21 –
12 – 1984, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định thành lập Ban
hợp tác kinh tế văn hóa Hà Nội - Viêng Chăn - Phnômpênh trực thuộc
Thành phố. Ban có nhiệm vụ: Nghiên cứu giúp Thành ủy và Ủy ban Nhân
dân Thành phố những chủ trương và biện pháp để tăng cường đoàn kết,
hữu nghị, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong các lĩnh vực kinh tế và văn hóa
giữa ba thành phố; giúp Thành ủy thành lập các đoàn cán bộ, chuyên gia
Hà Nội đi công tác giúp Viêng Chăn, Phnômpênh, hướng dẫn và quản lý
17
phối hợp với các ngành của thành phố để tổ chức thực hiện; có đại diện và tổ
công tác đặt ở Thủ đô nước bạn [102, tr. 16].
Để hoạt động hợp tác giữa ba thủ đô có hiệu quả, tháng 6 – 1985, Uỷ
ban Nhân dân thành phố Hà Nội quyết định thành lập Ban quản lý các chương
trình hợp tác Hà Nội - Viêng Chăn - Phnômpênh. Ban có nhiệm vụ tiếp nhận
công đoàn thành phố Hà Nội sang thăm Matxcơva (9-1977); UVTƯ Đảng,
Phó Bí thư, Chủ tịch thành phố Hà Nội Trần Vĩ sang thăm Praha (1980);
Đoàn đại biểu Thành ủy Hà Nội sang thăm Matxcơva, Xôphia, Buđapet và
Berlin ( từ tháng 6 đến tháng 7-1984)…
Các thủ đô nước khối các nước XHCN cũng tích cực cử các đoàn tới thăm
Thủ đô Hà Nội phục vụ mục tiêu tăng cường hợp tác: Thị trưởng Praha Zuska
sang thăm Hà Nội (1976); Đoàn đại biểu Xôphia đến thăm Hà Nội (6- 1977)…
Qua các chuyến viếng thăm, Thủ đô Hà Nội đã ký kết các văn bản hợp
tác với các thủ đô các nước XHCN chủ yếu trên bốn vấn đề: 1). Trao đổi đoàn
và yêu cầu đào tạo cán bộ; 2). Trao đổi tài liệu, văn kiện về Đảng, các tài liệu
về tuyên truyền; 3). Hợp tác kinh tế - khoa học kỹ thuật; 4). Thiết lập quan hệ
kết nghĩa giữa các cấp, các ngành về Đảng, chính quyền, đoàn thể, một số xí
nghiệp, hợp tác xã, bệnh viện, trường học,....
Nhìn chung, ba trong bốn nội dung nói trên đã được cụ thể hoá và triển
khai từng bước như sau:
Về trao đổi Đoàn và giúp đỡ đào tạo cán bộ, ngoài đoàn đại biểu
Thành uỷ, còn có đoàn báo Hà Nội mới tới Matxcơva, Berlin (1982), đoàn
Thanh niên thăm Matxcơva, Berlin, Budapest (1983); đón đoàn Công đoàn,
đoàn Xô Viết hữu nghị và đoàn Thanh niên Berlin (1984), đã phát triển thêm
mối quan hệ và nghiên cứu học tập kinh nghiệm. Nổi bật là đoàn Đại biểu
Thành uỷ qua chuyến đi thăm bốn Thủ đô (1984) đã làm cho nhân dân
Thủ đô một số nước hiểu rõ về tình hình nhiệm vụ, những thuận lợi và
khó khăn của Hà Nội.
19
Về trao đổi các văn kiện, tài liệu tuyên truyền, Hà Nội và Thủ đô một
số nước đã trao đổi nhiều kinh nghiệm về công tác tuyên truyền các ngày kỷ
niệm, các ngày lễ lớn của Thủ đô, đất nước, đặc biệt là dịp kỷ niệm 30 năm
xây dựng Đảng, tuyên truyền, xúc tiến việc thiết lập mối quan hệ giữa cơ
quan chính quyền, các tổ chức, các đoàn thể quần chúng giữa hai Thủ đô. Với
các thủ đô các nước XHCN khác, công tác cũng như hoạt động đối ngoại chú
trọng đến hợp tác kinh tế, văn hóa, đặc biệt chú ý đến phát huy các thế mạnh
bổ sung, dựa trên lợi ích của hai bên.
Công tác đối ngoại nhằm phát triển quan hệ giữa Hà Nội với Thủ đô
các nước XHCN trong giai đoạn (1975 – 1985) không tránh khỏi những hạn
chế như: Nặng về mục tiêu chính trị; phương thức đối ngoại chưa thực sự
chủ động, linh hoạt; nội dung đối ngoại chưa phong phú, cơ bản vẫn là thông
qua các cuộc tiếp xúc, trao đổi giữa các đoàn đại biểu và một số khoản viện
trợ.
Bên cạnh đó, Đảng bộ thành phố còn chú trọng đẩy mạnh công tác đối
ngoại nhằm phát triển quan hệ của Hà Nội với thủ đô các nước khác (ngoài
khối XHCN) và có bước phát triển mới. Đảng bộ thành phố chỉ đạo tổ chức
các cuộc viếng thăm, ký kết hợp tác kinh tế với các cơ quan tương ứng của
thành phố Stockhomlm (Thụy Điển), New Delhi (Ấn Độ), thành phố Ville
Juif – Pháp, thiết lập quan hệ giữa Helsinki - Hà Nội… Hợp tác với các Thủ
đô nói trên đã đạt được một số kết quả: Hà Nội và Stockhomlm ký kết
nghiên cứu các vấn đề điện nước, giao thông, hợp tác lắp ráp và sản xuất đèn
elatec (1979); hợp tác kinh doanh, sản xuất các mặt hàng công nghiệp nhẹ
như máy móc dệt, đay, dừa (New Delhi, Ấn Độ, 1983); Helsinki giúp đỡ Hà
Nội xây dựng và cải tạo hệ thống cấp thoát nước trị giá 19 triệu USD (1984);
thành phố Ville Juif (Pháp) viện trợ về y tế cho Hà Nội (1985); Hà Nội đặt
mua một số mặt hàng của Nhật Bản, gồm 2 tàu vận tải hàng khô, máy điều
hòa, phụ tùng, nguyên liệu dùng cho máy photocopy, máy (1985)…
21
Một số thủ đô các nước như Angeri, Madagascar, Ethiopie, Angola,...
với tốc độ nhanh, các nước ASEAN cũng phát triển mạnh mẽ hơn ba nước
Đông Dương. Mỹ, phương Tây và các nước ASEAN muốn tạo ra một thế cân
bằng chiến lược ở Đông Nam Á. Mong muốn chung của các nước trong khu
vực Đông Nam Á là xây dựng khu vực này thành khu vực hòa bình, trung lập,
phát triển.
Sau một chặng đường phát triển, Việt Nam thu được một số thành tựu
nhất định, song cũng đứng trước những khó khăn to lớn: về đối nội, phải đối
mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng; về đối ngoại, phải
đương đầu với tình trạng bị cô lập về chính trị, bị bao vây cấm vận về kinh tế.
Trước tình hình đó, vấn đề quan trọng mang ý nghĩa quyết định là phải tiến
hành đổi mới đường lối, chính sách, đổi mới đường lối đối ngoại, chủ động
chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới trong cùng tồn tại hòa bình với
Trung Quốc, các nước ASEAN, Mỹ, xây dựng Đông Nam Á thành một khu
vực hòa bình, ổn định, hợp tác. Muốn thế cần có một giải pháp về Campuchia,
tăng cường khối liên minh ba nước Đông Dương, tạo được môi trường hòa
bình ở Đông Nam Á.
Xuất phát từ nhận thức mới về thời đại và những xu thế chủ yếu trên
thế giới, từ yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, trên quan điểm:
“Chính sách đối ngoại phải xuất phát từ lợi ích của dân tộc Việt Nam, dựa
trên cơ sở chính sách đối nội, truyền thống ngoại giao của dân tộc và phù hợp
với bối cảnh quốc tế” [25, tr. 144], Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những
đổi mới nhận thức quan trọng về đối ngoại và công tác đối ngoại. Tháng 7 –
1986, Bộ Chính trị khóa V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết 32,
chủ trương điều chỉnh bước đầu chính sách đối ngoại của Việt Nam, nhằm
mục tiêu “đẩy lùi chính sách bao vây cấm vận về kinh tế, cô lập về chính trị
đối với nước ta, mở rộng quan hệ quốc tế” [1, tr. 41]. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của ĐCSVN (12 – 1986) xác định: “…ra sức kết hợp sức
23