Đảng bộ thành phố hà nội lãnh đạo kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2006 - Pdf 65

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2006

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2006
Chuyên ngành:

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số:

62 22 03 15

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

CNH

: Công nghiệp hoá

EC

: Uỷ ban châu Âu

FDI

: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP

: Tổng sản phẩm trong nước

HĐH

: Hiện đại hoá

IMF

: Quỹ tiền tệ quốc tế

KTĐN

: Kinh tế đối ngoại

NGO


WB

: Ngân hàng thế giới

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 5
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ....................... 6
5. Đóng góp khoa học của luận án ................................................................ 8
6. Kết cấu của luận án ................................................................................... 8
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ........................................................................................9
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ........................ 9
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế đối ngoại ................... 9
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động kinh tế đối ngoại ..................................................................... 18
1.1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế đối ngoại Hà Nội .... 22
1.2. Kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết........ 30
1.2.1. Kết quả nghiên cứu ....................................................................... 30
1.2.2. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết ................................... 31
Tiểu kết chương 1........................................................................................ 32
CHƢƠNG 2. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO HOẠT

CHƢƠNG 4. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ............................................137
4.1. Một số nhận xét .................................................................................. 137
4.1.1. Ưu điểm và nguyên nhân ............................................................ 137
4.1.2. Hạn chế và nguyên nhân ............................................................ 146
4.2. Một số kinh nghiệm ........................................................................... 154
4.2.1. Nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của kinh tế đối
ngoại đối với phát triển kinh tế của Hà Nội ........................................ 154
4.2.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ thành phố, hiệu quả
quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh tế đối ngoại ....................... 157
4.2.3. Chú trọng phát triển kinh tế đối ngoại gắn với hội nhập kinh tế
quốc tế, kết hợp chặt chẽ thị trường trong nước với thị trường quốc tế161


4.2.4. Phát huy hiệu quả của công tác đối ngoại phục vụ hoạt động kinh
tế đối ngoại ............................................................................................ 164
4.2.5. Tăng cường các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm
thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển .................................................... 166
4.2.6. Phát triển kinh tế đối ngoại phải gắn liền với nhiệm vụ đảm bảo
an ninh quốc gia và mục tiêu phát triển bền vững ............................... 169
Tiểu kết chương 4 ..................................................................................... 173
KẾT LUẬN ...........................................................................................................175
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ....................................................................................................180
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................181
PHỤ LỤC ..............................................................................................................199


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), cách mạng khoa học - công

chủ trương tập trung mọi nguồn lực cho phát triển KTĐN. Nhờ đó, KTĐN đã có
bước phát triển, góp phần tích cực vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, đẩy nhanh
nhịp độ công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế - xã hội, nâng cao thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng chủ trương tập trung nhiều nguồn lực cho
việc đổi mới, mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động KTĐN. Văn kiện Đại hội Đảng
thời kỳ đổi mới, có phần đánh giá thực tiễn trước khi xác định phương hướng,
nhiệm vụ của hoạt động KTĐN, nêu rõ những tư tưởng chỉ đạo, phương châm và
cách thức thực hiện. Thời kỳ này Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết có liên quan
và Nghị quyết chuyên đề về hoạt động KTĐN như: Nghị quyết số 13 - NQ/TW của
Bộ Chính trị năm 1988, Nghị quyết số 06 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương
(BCHTƯ) Đảng (khóa VI) năm 1989, Nghị quyết 03 - NQ/TW của BCHTƯ Đảng
(khóa VII) năm 1992, Nghị quyết số 01/NQ - TW của Bộ Chính trị năm 1996, Nghị
quyết số 07 - NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2001. Các Văn kiện của Đảng gắn việc
đổi mới, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động KTĐN với “chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế” là một bước phát triển về lý luận, vừa kế thừa những luận
điểm ở các Đại hội trước, vừa là bước hoàn thiện có tính đột phá nhằm đáp ứng đòi
hỏi của sự nghiệp cách mạng và bản thân nền kinh tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào kinh tế quốc tế, góp phần tích cực
thúc đẩy kinh tế - xã hội thoát ra khỏi khủng hoảng và có bước phát triển ổn định,
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), thực hiện “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Hà Nội - Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, là
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và
giao dịch quốc tế. Hà Nội có vị trí địa lý thuận lợi, nơi hội tụ nhiều tiềm năng cho sự
phát triển so với nhiều thành phố khác. Vì vậy, Nghị quyết của Bộ Chính trị (15 - 12
- 2000) về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô, giai đoạn 2001 - 2010, nhấn
mạnh: “Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung
tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế”. Lợi thế này là


triển KTĐN trong thời gian qua, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế, nghiêm túc tìm ra
nguyên nhân, từ đó rút kinh nghiệm làm căn cứ khoa học cho sự điều chỉnh, bổ sung
hoàn thiện chủ trương, chính sách phát triển KTĐNh trong giai đoạn hiện nay là một
3


vấn đề hết sức cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Với những lý do đó tôi lựa
chọn vấn đề “Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo kinh tế đối ngoại từ năm 1986
đến năm 2006” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo hoạt động
KTĐN từ năm 1986 đến năm 2006; chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân
thành công và nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố; trên
cơ sở đó, đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với các thành phố
khác trong cả nước khi lãnh đạo KTĐN.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án giải quyết những nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, phân tích và làm rõ tiềm năng, lợi thế so sánh của Thành phố Hà
Nội đối với việc phát triển KTĐN và những yếu tố tác động đến phát triển KTĐN
của Thành phố Hà Nội từ năm 1986 đến năm 2006.
Thứ hai, hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương về KTĐN của Đảng bộ
Thành phố Hà Nội từ năm 1986 đến năm 2006, từ đó làm rõ quá trình nhận thức và
đổi mới chủ trương về KTĐN của Đảng bộ Thành phố Hà Nội từ năm 1986 đến
năm 2006.
Thứ ba, làm rõ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội chỉ đạo phát triển
KTĐN trong những năm 1986 - 2006 trên bốn lĩnh vực (i) hoạt động xuất - nhập
khẩu, (ii) thu hút vốn đầu tư nước ngoài, (iii) hợp tác khoa học - kỹ thuật và chuyển

đầu tư nước ngoài; 3. Các hoạt động hợp tác, chuyển giao công nghệ với nước
ngoài; 4. Các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ.
Về không gian: Luận án nghiên cứu trong phạm vi Thành phố Hà Nội.
Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội
lãnh đạo KTĐN trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm 2006. Sở dĩ chọn
năm 1986 là mốc thời gian bắt đầu nghiên cứu là vì đây năm diễn ra Đại hội Đảng
bộ Thành phố Hà Nội lần thứ X, mở ra thời kỳ đổi mới địa phương, trước hết là
đổi mới về tư duy kinh tế. Chọn thời gian kết thúc nghiên cứu là năm 2006 vì đây
là năm diễn ra Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIV, tổng kết 20 năm đổi mới
5


của Thành phố Hà Nội, tạo tiền đề quan trọng để Hà Nội bước vào giai đoạn mới giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nhất là năm 2007, Việt Nam nói
chung, Hà Nội nói riêng tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tuy
nhiên, trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án có mở rộng thời gian nghiên
cứu trước năm 1986.
Thời kỳ 20 năm (1986 - 2006) nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố
Hà Nội đối với KTĐN được phân chia thành 2 giai đoạn tương thích với các nhiệm kỳ
Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội; đồng thời, phù hợp với sự phát triển KTĐN
dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong các khoảng thời gian đó. Cụ thể
như sau: Giai đoạn 1986 - 1995 là giai đoạn Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo phát
triển KTĐN trong lúc Hà Nội bị bao vây, cấm vận, kinh tế - xã hội vẫn còn khủng hoảng.
Giai đoạn 1996 - 2006, Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo KTĐN trong lúc Hà Nội
thoát khỏi bao vây, cấm vận, ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tích cực và chủ động
hội nhập quốc tế. Sở dĩ có sự khác nhau giữa hai giai đoạn này là do bối cảnh lịch sử tác
động. Trong đó, giai đoạn 1986 - 1995, Việt Nam bị Mỹ và các nước khác bao vây, cấm
vận, tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn; giai đoạn 1996 - 2006, Việt Nam
thoát khỏi bao vây cấm vận, gia nhập nhiều tổ chức kinh tế của khu vực và quốc tế như:
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm 1995, Diễn đàn hợp tác Á - Âu (1996), Diễn
đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (1998)… Hà Nội là Thủ đô của Việt

để khái quát, tổng kết lịch sử về ưu điểm, hạn chế và những kinh nghiệm rút ra từ
quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo phát triển KTĐN từ năm 1986 đến
năm 2006.
Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
được kết hợp sử dụng ở các chương để làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển
KTĐN của Đảng bộ thành phố trong từng giai đoạn lịch sử; những thành tựu đạt
được, những hạn chế, yếu kém cần khắc phục, nguyên nhân hạn chế và rút ra những
kinh nghiệm lịch sử trong quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo, chỉ đạo
phát triển KTĐN từ năm 1986 đến năm 2006.
4.3. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho tính khả thi của một luận
án. Để thực hiện luận án, tác giả dựa vào các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện của Đảng bộ Thành
phố Hà Nội về kinh tế, KTĐN.
7


Công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập
hoặc liên quan đến đề tài được đăng tải trên sách, báo, tạp chí.
Một nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu là các
Nghị quyết, Chỉ thị, Kế hoạch của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong lãnh đạo phát
triển KTĐN.
Báo cáo tổng kết của các cơ quan, sở, ban, ngành trên địa bàn thành phố về
kinh tế, kinh tế - xã hội, KTĐN được lưu trữ ở Văn phòng Thành uỷ, Uỷ ban nhân
dân thành phố.
Kết quả nghiên cứu, tổng hợp của các đề tài khoa học có liên quan đã được
xã hội hóa.
Niên giám thống kê hàng năm.
5. Đóng góp khoa học của luận án
Một là, hệ thống hóa, phân tích, làm rõ những quan điểm, chủ trương và quá

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế đối ngoại
Đối với nghiên cứu KTĐN về Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong nước và
quốc tế đã có các cuốn sách, bài báo viết về toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế
quốc tế và các hoạt động KTĐN:
Công trình “Kinh tế đối ngoại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Pháp, năm 1990 [97]. Tác giả đã làm rõ một số điều kiện của
môi trường kinh tế thế giới đối với KTĐN XHCN và điều kiện, khả năng của Việt
Nam để phát triển KTĐN. Tác giả làm rõ những hình thức hoạt động của KTĐN:
ngoại thương, hợp tác sản xuất quốc tế, hợp tác đầu tư nước ngoài, hợp tác khoa
học - kỹ thuật, du lịch, hợp tác tín dụng quốc tế, hợp tác lao động... Ngoài ra, tác
giả còn đề cập đến vấn đề thị trường và giá cả, vấn đề quản lý các hình thức hoạt
động của KTĐN.
Năm 1991, Hà Huy Toàn bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ Kinh tế về
“Vai trò của kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh tế theo quan điểm hệ
thống” [181]. Trên cơ sở sử ,dụng cách tiếp cận hệ thống, tác giả đã làm sáng tỏ
chiến lược phát triển kinh tế của đất nước một cách tổng thể từ cơ cấu, đầu ra, đầu
vào, đến cơ chế và môi trường tồn tại. Bên cạnh đó, tác giả còn chứng minh: “Kinh
tế đối ngoại đóng vai trò mũi nhọn của phát triển kinh tế” [181, tr. 2]. Từ đó, tác giả
9


nhấn mạnh: KTĐN là “con đường chủ yếu để đưa đất nước thoát khỏi bế tắt và tiến
lên nhanh chóng, vững chắc” [181, tr. 2]. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến
nghị và giải pháp để thực hiện đổi mới cơ chế quản lý KTĐN, nhằm đưa KTĐN
thực sự đóng vai trò mũi nhọn trong bối cảnh đổi mới đất nước.
Cũng trong năm 1991, tác giả Nguyễn Trần Quế biên soạn cuốn sách “Kinh
tế đối ngoại Việt Nam - Thực tiễn và chính sách” [108]. Tác giả đã khái quát sự
phát triển của KTĐN Việt Nam qua hai giai đoạn: trước 1976 và 1976 - 1991; phân
tích các nguồn lực phát triển KTĐN (dân số và lao động, cơ sở vật chất và kỹ thuật,

mại và bảo hộ mậu dịch ở mức cao” [54, tr. 131].
Công trình “Đổi mới kinh tế Việt Nam và chính sách kinh tế đối ngoại” của
nhóm tác giả Viện Kinh tế Thế giới, do Võ Đại Lược làm chủ biên, năm 1995 [91].
Nhóm tác giả phác họa bức tranh tổng quát về quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
từ những năm 80 của thế kỷ XX đến năm 1995; phân tích các kế hoạch phát triển
kinh tế (các kế hoạch 5 năm) từ năm 1981 đến năm 2000, chiến lược ổn định, phát
triển kinh tế - xã hội từ năm 1991 đến năm 2010 và chiến lược phát triển các vùng
kinh tế đến năm 2010; phân tích các khu vực sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
chế biến; phân tích vai trò viện trợ nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Việt
Nam; phân tích vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam; phân tích
quan hệ thương mại Việt Nam với khu vực châu Á - Thái Bình Dương; lập pháp
trong chính sách đổi mới.
Chính sách KTĐN của các nước phát triển trên thế giới tác động mạnh mẽ
đến chính sách KTĐN của Việt Nam. Luận điểm này thể hiện rõ thông qua cuốn
sách “Chính sách kinh tế đối ngoại - Lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế” do tác giả
Tô Xuân Dần làm chủ biên, năm 1998 [33]. Nhóm tác giả đã trình bày tổng quan về
chính sách KTĐN của các quốc gia (cơ sở của chính sách, nguyên tắc, xu hướng cơ
bản của KTĐN); chính sách KTĐN của nhóm NICs, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn
Độ, Mỹ và một số nước châu Âu; làm rõ sự hình thành, phát triển của chính sách
KTĐN, những đặc điểm trong chính sách KTĐN ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, nhóm
tác giả đã đưa ra những kinh nghiệm vận dụng để hoàn thiện chính sách KTĐN của
Việt Nam.
Thông qua công trình “Quản lý kinh tế đối ngoại của Việt Nam” được xuất
bản năm 2001 [51], tác giả Thế Đạt đã lý giải những nguyên nhân dẫn đến kinh tế
quốc dân của từng nước phải tham gia lĩnh vực KTĐN. Bên cạnh đó, tác giả còn đề
11


cập đến hai lĩnh vực quan trọng trong KTĐN (thương mại và đầu tư quốc tế) về chức
năng, hoạt động, thành tựu và hạn chế; sự quản lý nhà nước đối với KTĐN trên lĩnh


[185]. Tác giả đã đề cập đến vai trò, vị trí khách quan của FDI đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội ở Việt Nam; làm nổi bật những thành công, cũng như hạn chế chủ
yếu trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất
một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy thu hút mạnh hơn và sử dụng hiệu quả hơn
nguồn vốn này như: Rà soát toàn bộ chủ trương, chính sách, danh mục dự án kêu
gọi FDI giai đoạn 2001 - 2005; cải tiến thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư
nước ngoài; thực hiện lộ trình giảm chi phí đầu tư; đa dạng hóa các hình thức đầu tư
tích cực thí điểm các hình thức mới; đẩy mạnh hoạt động vận động, xúc tiến đầu tư
cả trong nước và ở ngoài nước; giải quyết giữa nhận thức và điều hành của cán bộ
nhằm tạo ra lòng tin, uy tín với các nhà đầu tư nước ngoài [185, tr. 251 - 255].
Trong cuốn sách “Kinh tế đối ngoại Việt Nam” [59], năm 2007, tác giả Phan
Huy Đường đã đề cập đến quan hệ KTĐN trong nền kinh tế thế giới; tóm tắt sự phát
triển của KTĐN Việt Nam qua các giai đoạn: trước - 1986, 1986 - 1992, 1992 2007, từ đó đưa ra những thành tựu và hạn chế trong phát triển KTĐN; xác định
những định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng, phát triển KTĐN
Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá “Kinh tế đối ngoại đóng vai trò hết sức
quan trọng trong sự phát triển kinh tế, khoa học công nghệ và tham gia tích cực vào
phân công lao động, nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực của mỗi quốc gia,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội và sự tiến bộ của mỗi nước” [59, tr. 9]. Tác giả
nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc nhận thức đúng đắn về vai trò của
KTĐN và kịp thời có những chính sách phù hợp, dựa trên nguyên tắc tôn trọng,
bình đẳng, cùng có lợi, làm hoạt động KTĐN đạt được những thành tựu to lớn thu
hút vốn đầu tư nước ngoài, hoạt động xuất nhập khẩu, hợp tác chuyển giao công
nghệ, du lịch, dịch vụ... đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế nhanh, cải
thiện đời sống nhân dân, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và không ngừng
củng cố vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế [59, tr. 9].
Cuốn sách “Kinh tế đối ngoại - Những nguyên lý và vận dụng tại Việt Nam”
của tác giả Hà Thị Ngọc Oanh, năm 2007 [96] đã đề cập đến những vấn đề chung
của KTĐN (khái niệm một số lĩnh vực cơ bản của KTĐN, nguyên nhân phải phát
triển KTĐN, tình hình kinh tế ở một số khu vực trên thế giới, vị trí của KTĐN

và thế giới” [186] được công bố năm 2005, tác giả Trần Nguyễn Tuyên đã xác định
những yếu tố thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động KTĐN. Trong đó, tác giả
nhấn mạnh: Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế “đã làm tăng thêm
14


cơ hội phát triển cho các quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Bên cạnh
đó, quá trình này cũng làm tăng thêm độ không ổn định và dễ bị tổn thương của các
nền kinh tế ở các nước đang phát triển trước sức ép của quá trình toàn cầu hóa kinh
tế” [186, tr. 2]. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy yếu
tố thuận lợi và hạn chế yếu tố khó khăn. Một là, gắn quá trình hội nhập với cải cách
về thể chế, xây dựng môi trường pháp lý, chính sách minh bạch, công khai, dễ thực
hiện. Hai là, cải thiện nhanh môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư để thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài, thống nhất quy định pháp lý giữa đầu tư trong nước và
đầu tư nước ngoài... Ba là, phối hợp hành động giữa các nước đang phát triển trên
cơ sở thống nhất lợi ích trong các vòng đàm phán thương mại quốc tế với các nước
phát triển... [186, tr. 5].
Trong bài viết “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời kỳ đổi mới
1988 - 2005”, năm 2007 [106], tác giả Từ Quang Phương đã xác định vai trò, vị trí
của đầu tư trực tiếp nước ngoài là một “nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư
phát triển”, “giữ vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia
trong điều kiện toàn cầu hoá” [106, tr. 5]. Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá thực
trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời kỳ 1988 - 2005. Trên cơ sở đó, tác
giả nêu ra những thành công và hạn chế chủ yếu trong thu hút nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, từ đó rút ra một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả
nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Năm 2007, Tạp chí Kinh tế và Phát triển đã đăng tải bài viết “Phát triển lĩnh
vực kinh tế đối ngoại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả
Nguyễn Thường Lạng [79]. Tác giả đã đưa ra một số quan niệm về lĩnh vực KTĐN.
Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh: Lĩnh vực KTĐN là “một lĩnh vực hết sức đa dạng,

và giải pháp về đổi mới nội dung, phương thức tổ chức hoạt động xúc tiến thương
mại, hoàn thiện hệ thống xúc tiến thương mại và tạo lập nguồn ngân sách cho hoạt
động xúc tiến thương mại [61, tr. 4 - 7].
Đề cập xung quanh đến vấn đề vàng và kiều hối, năm 2007, tác giả Hoàng
Xuân Quế có bài viết “Vai trò của vàng và kiều hối trong điều hành chính sách
tiền tệ ở nước ta hiện nay” [109]. Tác giả nhấn mạnh: “Trong những năm gần đây,
lượng vàng và kiều hối trong nước tăng nhanh, buộc các nhà hoạch định chính
sách, đặc biệt là chính sách tiền tệ phải có cái nhìn toàn diện hơn, lượng hóa các
tác động trực tiếp và gián tiếp của chúng để có các quyết định phù hợp hơn” [109,
16


tr. 11]. Bằng phương pháp thống kê, so sánh và logic, tác giả đã làm rõ sự phát
triển của lượng vàng và kiều hối ở Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2006; giải
thích xu hướng tăng nhanh lượng vàng và kiều hối tại Việt Nam; trình bày những
cơ hội và thách thức, khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội do lượng vàng và
kiều hối tăng nhanh.
Khi đề cập đến vấn đề xuất nhập khẩu trong KTĐN, trong bài viết “Tác động
của hội nhập quốc tế vào hoạt động xuất khẩu của Việt Nam: Phân tích mô hình sức
hút”, năm 2007 [94], tác giả Phan Thị Nhiệm đã phân tích “mô hình sức hút”
(gravity model), làm sáng tỏ những nhân tố tác động đến các mặt hàng xuất khẩu;
mức độ ảnh hưởng của các hàng rào thương mại của các nước nhập khẩu tới các
mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam; đưa ra cách nhìn khoa học về tác động của Hiệp
định thương mại Việt Mỹ và Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
đến các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Đề cập đến sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, năm 2007, tác
giả Từ Quang Phương có bài viết “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam” [105]. Bài viết đã đánh giá: ODA “là
nguồn lực rất quan trọng để đầu tư phát triển kinh tế xã hội” [105, tr. 6]. Bên cạnh
đề cập đến những thành tựu, tác giả đã đề cập những hạn chế trong sử dụng vốn

đó, các công trình trên còn đề cập đến thực trạng hoạt động KTĐN, thành tựu và hạn
chế trong hoạt động KTĐN của Nhà nước, đề ra những biện pháp và chính sách phát
triển KTĐN; vận dụng những kinh nghiệm xây dựng và thực hiện chính sách phát triển
KTĐN của nhiều nước trên thế giới (Mỹ, các nước châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái
Lan...); làm rõ những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách KTĐN. Đặc biệt,
hầu như tất cả các công trình đều đề cập đến vai trò, vị trí của KTĐN đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội, là yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia, bảo vệ
độc lập, chủ quyền của quốc gia. Các công trình nghiên cứu trên đã luôn nhấn mạnh
tính tất yếu phải phát triển KTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế và công cuộc CNH,
HĐH đất nước của Việt Nam.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động kinh tế đối ngoại
Trong công trình “Kinh tế đối ngoại Việt Nam” [142], năm 1994, tác giả Vũ
Phạm Quyết Thắng đã làm rõ một số tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của Đảng trong
chính sách KTĐN của Việt Nam (tư duy về KTĐN, quan điểm “vừa sức” trong quá
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status