ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------
LÊ HỒNG NHUNG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI (FDI) TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2013
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Hồng
HÀ NỘI - 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài...............................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..............................................................................................1
3. Mục đích và nhiệm vụ .......................................................................................................4
4. Đối tƣợng và phạm vi
.......................................................................................................5
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp
...................................................................................5
2.1.2. Đường lối của ĐCS Việt Nam và chủ trương của Đảng bộ TP.Hà Nội
về thu hút vốn FDI ....................................................................................................................62
2.2. Quá trình thực hiện thu hút vốn FDI của TP.Hà Nội.................................69
2.2.1. Xây dựng kế hoạch thu hút vốn FDI.....................................................................69
2.2.2. Cải cách thủ tục hành chính ....................................................................................75
2.2.3. Ban hành chính sách hỗ trợ .....................................................................................77
2.2.4.Tăng cường xúc tiến đầu tư.......................................................................................80
2.2.5. Nâng cao năng lực cạnh tranh................................................................................84
2.2.6. Kết quả thu hút vốn FDI vào TP.Hà Nội ............................................................86
Tiểu kết.........................................................................................................................................91
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.......93
3.1.Một số nhận xét................................................................................................................93
3.1.1. Ưu điểm............................................................................................................................93
3.1.2. Hạn chế............................................................................................................................99
3.2. Một số bài học kinh nghiệm ...................................................................................106
Tiểu kết.......................................................................................................................................112
KẾT LUẬN ..............................................................................................................................113
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT: Chỉ thị
CTr: Chương trình
HĐND: Hội đồng nhân dân
KCN: Khu công nghiệp
KCX: Khu chế xuất
NQ: Nghị quyết
QĐ: Quyết định
Sở KH và ĐT: Sở Kế hoạch và đầu tư
TP.Hà Nội: Thành phố Hà Nội
TTHC: Thủ tục hành chính
1
kinh tế ở Việt Nam, Nxb Tư pháp; Lê Xuân Bá (2006). Đặc biệt cuốn sách
"Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh" (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội), đã nghiên cứu tổng quan về tác động
của đầu tư nước ngoài trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế, xã hội trên 2 địa
bàn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; phân tích hoạt động của các doanh nghiệp có
vốn FDI dựa trên các kết quả điều tra, đưa ra các kiến nghị về chiến lược định
hướng thu hút FDI, cải thiện môi trường đầu tư và vấn đề quản lý nhà nước
đối với nguồn vốn này.
Ngoài ra, cũng phải kể đến một số bài báo, tạp chí: Hà Nội: tiềm năng
và cơ hội đầu tư, Nguyễn Quốc Triệu, Tạp chí Thương Mại, số 38, 2004; Đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội, Nguyễn Văn Hùng, Tạp chí thương mại, số 38,
2004; Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội: Thực trạng và một số vấn đề đang
đặt ra, Bùi Hồng Quang, Nguyễn Văn Hùng, Tạp chí Cộng sản, số 23, 2006.
Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, Nguyễn Thị Hồng Cẩm, số 119, 2007, Tạp chí Kinh tế phát triển;
Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội - 20 năm nhìn lại (19862006), Trần Thị Tường Vân, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 7, 2007; Thu hút
FDI vào Hà Nội: thực tiễn 20 năm qua và triển vọng, Nguyễn Minh Phong,
Tạp chí Thương mại, số 1+2, 2008; Một số giải pháp đặc thù nhằm thu hút
FDI vào Hà Nội trong thời gian tới, Nguyễn Minh Phong, Ngô Văn Quý, Tạp
chí Ngân hàng, số 13, 2009.
* Các luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học
Các luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu đề cập
đến giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Luận án TS kinh tế: "Những giải pháp nâng cao hiệu quả vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước" (2003) của tác giả Hoàng Thị Kim Thanh. Tác giả đã phân tích đầu tư
đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh FDI theo hướng
PTBV ở vùng KTTĐ Bắc Bộ trong thời gian tới.
3
Luận án TS Kinh tế "Marketing lãnh thổ nhằm thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội" (2014) của tác giả Nguyễn Đức
Hải. Tác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến marketing lãnh thổ
nhằm thu hút FDI và xác định đây chính là cơ sở của việc đề xuất các giải
pháp marketing hỗn hợp lãnh thổ nhằm thu hút FDI.
Luận văn ThS. Kinh tế "Môi trường đầu tư nước ngoài tại Hà Nội Thực trạng và giải pháp" (2012) của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng. Tác giả
đã trình bày cơ sở lý luận chung về khái niệm, cấu thành, các tiêu chí đánh giá
môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài; vai trò của đầu tư trực tiếp nước
ngoài đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế và kinh nghiệm cải thiện môi
trường đầu tư trực tiếp nước ngoài, nghiên cứu thực trạng môi trường đầu tư
trực tiếp nước ngoài của thủ đô Hà Nội trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
2001-2011 và đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm cải thiện môi trường
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Nhìn chung, các luận án, luận văn, sách và bài viết nghiên cứu về thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện từ sau năm 2000 đến nay tập
trung nhiều vào thực trạng và các giải pháp để đẩy mạnh thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, có rất ít các công trình nghiên cứu
đường lối của ĐCS Việt Nam và cơ chế, chính sách của chính phủ về thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hơn thế nữa, các công trình nghiên cứu tổng
quát về chủ trương, chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Đảng bộ TP.Hà Nội lại càng hiếm. Xuất phát từ chính tình hình đó, luận văn
muốn đi sâu nghiên cứu chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác thu
hút vốn FDI của Đảng bộ TP.Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2013 để từ đó, chỉ ra
ưu điểm, hạn chế, bài học kinh nghiệm từ quá trình chỉ đạo và thực hiện trên
của Đảng bộ Thủ đô Hà Nội cho các địa phương khác.
cạnh tranh của Thành phố Hà Nội trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
5.Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
5
- Các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng liên quan đến thu hút vốn FDI.
- Các tài liệu của Đảng bộ, các cấp và chính quyền TP.Hà Nội về thu
hút vốn FDI vào TP.Hà Nội.
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
5.2.Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: trình bày một cách hệ thống chủ trương và quá
trình chỉ đạo thu hút vốn FDI của Đảng bộ TP.Hà Nội.
- Phương pháp logic: nhằm khái quát hóa những nội dung chính và
đánh giá thành tựu và hạn chế, rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá
trình lãnh đạo công tác thu hút vốn FDI của Đảng bộ TP.Hà Nội.
- Phương pháp thống kê, phân tích: nhằm xử lý số liệu, lập các bảng
biểu và đánh giá một số vấn đề qua các dữ liệu của bảng biểu.
- Phương pháp nghiên cứu kinh tế: nghiên cứu các công trình nghiên
cứu về FDI trên phương diện kinh tế.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Cung cấp hệ thống các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ TP.Hà Nội
về thu hút vốn FDI tử năm 2001 đến năm 2013.
- Khẳng định thành tựu, hạn chế; rút ra một số bài học kinh nghiệm góp
phần làm tốt hơn công tác thu hút vốn FDI ở TP.Hà Nội
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho lĩnh vực thu hút vốn FDI ở Việt
Nam.
7.Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3
kinh tế thuộc nước của nhà đầu tư. Lợi ích lâu dài này thể hiện các mối quan hệ
giữa nhà đầu tư với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp, trong đó nhà đâu tư giành
được ảnh hưởng quan trọng và có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp. FDI bao
gồm các giao dịch đầu tiên, tiếp đến là các giao dịch về vốn giữa hai thực thể
được liên kết chặt chẽ. Trong đó, nhà đầu tư trực tiếp được hiểu là người nắm
quyền kiểm soát từ 10% vốn của một doanh nghiệp trở lên. Theo khái niệm
này, có thể thấy động cơ chủ yếu của nhà đầu tư nước ngoài là
7
thông qua phần vốn được sử dụng ở nước ngoài, giành quyền kiểm soát hoặc
có ảnh hưởng nhất định đối việc quản lý doanh nghiệp.[ 2; tr 7]
Theo Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam năm 2005 (Điều 3), Đầu tư là
việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình
thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và
các quy định khác của pháp luật có liên quan. Do vậy, có thể nói, đầu tư nước
ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài
sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu
tư và các văn bản có liên quan. Khái niệm nêu trong Luật đầu tư của Việt
Nam chủ yếu đề cập đến xuất xứ của nguồn vốn.[ 2; tr 8]
Mặc dù có nhiều điểm khác nhau trong khái niệm về FDI, nhưng có thể
khái quát khái niệm về FDI như sau: FDI là một loại hình đầu tư quốc tế,
trong đó nhà đầu tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc một tài sản
lớn, công nghệ, kĩ năng quản lí vào một nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều
hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các
mục đích kinh tế khác [2; tr 9]. Như vậy, "đầu tư" và "nhà đầu tư" là hai trong
số yếu tố quan trọng nhất trong các hoạt động đầu tư nước ngoài. Định nghĩa
về đầu tư nước ngoài trên cho thấy bản chất của đầu tư nước ngoài vẫn là tìm
kiếm lợi nhuận bằng con đường kinh doanh của chủ đầu tư.
biệt là các quốc gia đang và chậm phát triển.[ 19; tr 10]
*Các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thứ nhất, sự ổn định về chính trị, kinh tế. Sự ổn định về chính trị, kinh tế
sẽ tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi. Một chính quyền mạnh,
thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu
chính đáng của người dân sẽ đem lại lòng tin và sự hấp dẫn cho các nhà đầu
tư. Một quốc gia có chính trị ổn định, kinh tế phát triển sẽ là điều kiện thuận lợi
để thu hút đầu tư lâu dài. Ngược lại, nếu một quốc gia có chính trị không ổn
định, có bất hòa đối với các quốc gia khác thì khi xảy ra xung đột, các quốc
gia thường áp dụng chính sách cấm vậ, trưng phạt kinh tế, chính trị…Điều
này sẽ ảnh hường trực tiếp đến nhà đầu tư. Do vậy, sự ổn định về chính trị, kinh tế là
điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro khi
9
thực hiện hoạt động đầu tư ở nước sở tại, bởi đây là những nhân tố nhạy cảm,
tác động trực tiếp đến tâm lý và hành động thực tế của các nhà đầu tư. Các
nhà đầu tư quyết định bổ sung vốn để mở rộng sản xuất hay thu hẹp vốn cũng
phụ thuộc chủ yếu vào sự ổn định chính trị và xã hội.[ 19; tr 16]
Thứ hai, hệ thống luật pháp và môi trường thể chế là thành phần quan
trọng của môi trường đầu tư, bởi nó phản ánh chính sách mở cửa và chiến
lược hội nhập với nền kinh tế quốc tế. Nếu hệ thống luật pháp của một nước
càng đồng bộ, rõ ràng, chặt chẽ, phù hợp với hệ thống luật pháp và thông lệ
quốc tế thì khả năng thu hút FDI của nước đó sẽ càng cao và ngược lại. Pháp
luật qui định và điều chỉnh tất cả các hoạt dộng để gắn quyền lợi, nghĩa vụ,
trách nhiệm kinh tế -xã hội của nhà đầu tư trong sản xuất kinh doanh. [ 19; tr
22]
Thứ ba, sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia luôn là
điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua
các quyết định và triển khai các dự án đầu tư đã cam kết. Để thu hút các nhà
các chế tài quản lý, kiểm tra, theo dõi…sẽ dẫn đến tình trạng thả nổi
doanh nghiệp. [ 19; tr 27]
Thứ sáu, chất lượng nguồn nhân lực. Nhân lực là một trong những yếu tố
đầu vào của sản xuất. Do vậy, chất lượng lao động và giá cả lao động cũng sẽ
quyết định hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Việc nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư là một vấn đề rất cấp
bách, bởi doanh nghiệp có tồn tại hay không phụ thuộc rất lớn đến chất lượng
nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực có tác động rất mạnh đến khả
năng thu hút đầu tư. Chất lượng nguồn nhân lực thấp sẽ hạn chế khả năng tiếp cận
công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại. Hơn nữa, một hệ thống doanh nghiệp
trong nước phát triển, đủ sức hấp thụ công nghệ chuyển giao và là đối tác ngày
càng bình đẳng với các nhà đầu tư nước ngoài là điều kiện cần thiết để địa
phương và nước tiếp nhận đầu tư có thể thu hút được nhiều hơn, hiệu
quả hơn luồng vốn nước ngoài.[ 19; tr 28]
*Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
11
Hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được hình thành
từ năm 1977 với điều lệ đầu tư nước ngoài được ban hành kèm theo Nghị định
115-CP ngày 19/4/1977. Đây là văn bản đầu tiên của nước CHXHCN Việt
Nam về lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Theo điều lệ Đầu tư 1977, đầu tư nước
ngoài là việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn nhằm xây
dựng những cơ sở mới, hoặc đổi mới trang thiết bị, mở rộng hoặc nâng cấp
các cơ sở hiện có. Vốn phải là ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ nếu Việt
Nam xem xét thấy cần. Theo qui định của điều lệ này, các nhà đầu tư nước
ngoài được đầu tư ở Việt Nam dưới 3 hình thức: Hợp tác sản xuất chia sản
phẩm; Xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp; Xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu.
trường quốc tế mà không lo gánh nặng công nợ. Hơn nữa, FDI còn có khả
năng tăng nguồn vốn trong nước thông qua các dự án đầu tư. FDI bổ sung
nguồn ngoại hối, đẩy mạnh xuất khẩu và đóng góp vào nguồn thu ngân sách.
Quá trình chuyển vốn của các doanh nghiệp FDI đã bổ sung nguồn ngoại tệ cho
nền kinh tế nhằm đáp ứng một phần cho nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động đầu
tư, kinh doanh ở trong và ngoài nước cũng như bổ sung dự trữ ngoại hối. FDI
góp phần vào cân đối cán cân của nền kinh tế. Bên cạnh đó, doanh nghiệp
FDI góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu của
nền kinh tế.
Thứ hai, FDI góp phần chuyển giao công nghệ, kĩ thuật mới, hiện đại.
Nhờ chuyển giao, lan tỏa công nghệ mà năng suất lao động và hiệu quả sử
dụng các nguồn lực ở các nước tiếp nhận ngày càng tăng. Cụ thể là thông qua
FDI, các công ty xuyên và đa quốc gia thường với nguồn vốn lớn, công nghệ
cao, trình độ quản lý tiên tiến đã chuyển giao công nghệ, tài sản vô hình cho
các doanh nghiệp nước tiếp nhận có quan hệ kinh doanh. Bằng con đường
này, các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp nhận và sử dụng máy
móc, thiết bị hiện đại để tăng năng suất lao động. Bên cạnh đó, việc chuyển giao
công nghệ đã tạo ra môi trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp khác
13
cũng phải nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, dịch vụ của
mình.
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp, kỹ năng quản lý, điều hành, quản trị
doanh nghiệp đều có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của doanh
nghiệp, đặc biệt là trong môi trường toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh gay
gắt. Các kỹ năng trên là tài sản vô hình quan trọng mà các công ty nước ngoài
chuyển giao cho các nước tiếp nhận. Thông qua FDI, các công ty tiếp nhận
đầu tư có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận các kỹ năng, phương pháp
quản lý, cách thức điều hành tiên tiến của các công ty xuyên và đa quốc gia.
nghiệp nặng, bất động sản, có thể mất cân đối giữa các ngành, lĩnh vực trong
nền kinh tế.[79; tr 98]
Thứ hai, FDI dẫn đến nguy cơ nhập khẩu công nghệ lạc hậu và ô
nhiễm môi trường. Trên thực tế, kênh chuyển giao và phổ biến công nghệ
giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cũng không hoặc ít diễn ra.
Có thể nói một trong những tác động tiêu cực nhất của FDI đối với các nước
nhận đầu tư là những ảnh hưởng về môi trường. Đặc biệt là tình hình xuất
khẩu ô nhiễm từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông
qua FDI ngày cang gia tăng.[ 79; tr 98]
Thứ ba, FDI gắn liền với vấn đề chuyển giá. Một hình thức hay được
các doanh nghiệp FDI sử dụng là cơ chế chuyển giá, tạo ra cơ chế "lỗ giá, lãi
thật", chuyển giá lãi hơn mức thực tế về cho công ty mẹ. Hình thức gia công
kết hợp với cơ chế chuyển giá thực làm cho hiệu quả thực của FDI rất thấp.
Các doanh nghiệp FDI có thể sử dụng các kỹ thuật sản xuất sử dụng nhiều tư bản
là chủ yếu, thậm chí không hích hợp, dẫn đến sự chuyển giao công nghệ không
đầy đủ ở mức chi phí quá cao nhằm duy trì ưu thế công nghệ, định ra giá cả
chuyển giao cao một cách giả tảo để bòn rút lợi nhuận quá mức, gây ra
căng thẳng cho cán cân thương mại.[79; tr99]
1.1.3. Thực trạng thu hút FDI của thành phố Hà Nội trước năm 2001
1.1.3.1. Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của TP. Hà Nội
15
Mụi trng u t trc tip nc ngoi l tng th cỏc yu t, iu kin
v chớnh sỏch ca nc tip nhn u t chi phi n hot ng u t nc
ngoi, nh hỡnh cho cỏc c hi v ng lc doanh nghip FDI u t, kinh
doanh cú hiu qu, to vic lm v m rng sn xut. Cu thnh mụi trng
u t trc tip nc ngoi bao gm cỏc yu t: v trớ a lý - iu kin t nhiờn,
trỡnh phỏt trin ca nn kinh t, tỡnh hỡnh chớnh tr, chớnh sỏch - phỏp lut, c
m3/s; các sông khác có tổng l-u l-ợng khoảng 70 m3/s; n-ớc d-ới đất: l-u
l-ợng tiềm năng 5.914.000 m3/ngày; Khu vực Hà Nội phần mở rộng: tài
nguyên n-ớc d-ới đất phân bố không đều. Đặc biệt có một số khu vực hiếm
n-ớc (Thạch Thất, Ch-ơng Mỹ,...) hoặc n-ớc bị nhiễm mặn (Th-ờng Tín, Phú
Xuyên...). Trên địa bàn khu vực Hà Nội mở rộng có các sông lớn chảy qua là:
sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Bùi và sông Nhuệ, trong đó
sông Đà hiện tại và trong t-ơng lai có khả năng lớn về cấp n-ớc cho thành phố
Hà Nội.
Tài nguyên đất
Đến năm 2009, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong
cơ cấu sử dụng đất của thành phố, khoảng 56,5%, trong đó đất trồng lúa là
118,1 nghìn ha, chiếm 35,3% diện tích tự nhiên thành phố. Đất lâm nghiệp
chỉ có khoảng 24,05 nghìn ha, trong đó chủ yếu là đất rừng phòng hộ và rừng
đặc dụng (14,43 nghìn ha). Diện tích đất ch-a sử dụng là 10,51 nghìn ha,
trong đó đất ng bằng ch-a sử dụng còn khá nhiều (4,84 nghìn ha).
Tài nguyên du lịch
V tài nguyên du lịch thiên nhiên: thủ đô Hà Nội nhiều thắng cảnh tự
nhiên nổi tiếng, là điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch, tập trung thành
3 cụm: cụm H-ơng Sơn, cụm Ba Vì- Suối Hai, cụm Sóc Sơn. Khu vực H-ơng
Sơn có động H-ơng Tích đ-ợc mệnh danh là "Nam Thiên đệ nhất động". Núi
Ba Vì là dải núi đá có nhiều hang động đẹp, có rừng nguyên sinh, khí hậu mát
mẻ và hệ thống hồ, đập đ-ợc xây dựng (Suối Hai, Ao Vua, Đồng Mô, Ngải
Sơn...). Khu vực nội thành cũng có hệ thống hồ độc đáo, trong đó đáng kể
nhất là Hồ Tây có quy mô diện tích khá lớn khoảng 500 ha, nằm giữa trung
tâm thành phố.
17
V tài nguyên du lịch nhân văn: với bề dày hàng nghìn năm lịch sử, Hà
Nội có nhiều danh thắng, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật, khảo
không, ngoài sân bay Nội Bài cách trung tâm thành phố khoảng 35km, Hà Nội
còn có sân bay Gia Lâm ở phía Đông thuộc quận Long Biên.
Về dịch vụ viễn thông, trong những năm gần đây, mạng thông tin di
động đã phát triển rất nhanh, với nhiều loại hình, dịch vụ đa dạng tạo nên một thị
trường sôi động và phong phú. Đến giữa năm 2009, Hà Nội có 1,7 triệu thuê
bao điện thoại cố định, 12 triệu thuê bao di động, toàn thành phố có trên 753
ngàn người sử dụng Internet. Theo điều tra của VCCI (Phòng thương mại và
công nghiệp Việt Nam), có 61,42% số doanh nghiệp đánh giá dịch vụ viễn thông
của thành phố là tốt hoặc rất tốt, xếp vị trí 47/63 tỉnh thành; doanh nghiệp
được khảo sát có địa chỉ email là 52,95%; số doanh nghiệp đánh giá mạng
Internet tốt hoặc rất tốt là 52,95%. Chất lượng dịch vụ viễn thông và mạng
Internet ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu
không tốt sẽ tốn thêm chi phí cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sự phát triển
nhanh của mạng thông tin di động và số người sử dụng Internet tăng lên cho
thấy đời sống của người dân Hà Nội đã đươc nâng cao, nhu cầu tiêu thụ hàng
hóa sẽ nhiều hơn, thị trường hàng hóa sôi động, các sản phẩm đầu ra của doanh
nghiệp sẽ được tiêu thụ nhanh hơn, điều này hấp dẫn các nhà đầu tư đầu tư vào
thành phố thu lợi nhuận.
Về mạng lưới cấp điện của thành phố, hiện tại Hà Nội được cung cấp
điện chủ yếu từ nhà máy diện Hòa Bình, Phả Lại…thông qua hệ thống điện miền
Bắc và từ trạm 50Kw Thường Tín, công suất 1x450 MVA được đưa vào vận
hành tháng 12/2005. Tổng điện năng tiêu thụ của toàn thành phố năm 2008 là
6,82 tỷ kWh, tiêu thụ điện bình quân đầu người đạt 1074 kWh, giá điện trung
bình trong thành phố là 940,75 VNĐ/kWh.
Dân số - lao động
Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà
Nội là 6.451.909 người, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và
19
20
góp của các thành phần kinh tế và mức tăng trưởng khá lớn và đang diễn ra xu
hướng giảm đi tương ứng của thành phần kinh tế nhà nước. Cụ thể là: kinh tế
nhà nước năm 1990 chiếm 77,7% GDP thì đến năm 1995 là 70,4% và năm
2000 còn 63%; kinh tế ngoài nhà nước tương ứng các năm là 22,3%; 22,8% và
21,5%. Khu vực đầu tư nước ngoài từ những con số không năm 1990 đã lên
6,8% năm 1995 và 13,3% năm 2000. Sản xuất công nghiệp, nếu như một số năm
cuối của thập kỷ 80 do gặp khó khăn trong cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản
phẩm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 2,4%/năm, thì 10 năm qua với
cơ chế thị trường, tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân thời kì 1991-1995 là
19,1%/năm, thời kì 1996-2000 là 12,5%/năm. Do tốc độ tăng cao nên tỷ trọng giá
trị sản xuất công nghiệp của Hà Nội chiếm trong tổng số cả nước đã tăng từ
6,47%/năm (năm 1990) lên 8,19%/năm (năm 2000). Đặc biệt, khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài tuy mới đầu tư và đi vào hoạt động nhưng đã có những
bước phát triển vượt bậc: tốc độ tăng bình quân thời kì 1996-2000 là
29,95%/năm, do đó đã có tỷ trọng chiếm trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp
Hà Nội là 34,8% vào năm 2000.
Với các chính sách và cơ chế huy động vốn cả các thành phần trong
nước và nước ngoài vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, vì thế vốn đầu tư
cho sự phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả
hơn. Nếu như cả trong thời kỳ 1991-1995 tổng vốn đầu tư xã hội đạt 32,6 ngàn
tỷ đồng, bình quân 6,5 ngàn tỷ đồng/năm, thì trong 5 năm 1996-2000 tổng vốn
đầu tư xã hội đã đạt hơn 67 ngàn tỷ đồng, bình quân 13,5 ngàn tỷ đồng/năm,
gấp 2 lần thời kỳ trước. Trong tổng vốn đầu tư xã hội, vốn trong nước (thời kì
1996-2000) chiếm tỷ trọng 57,5%, vốn ngoài nước 42,5% có khác so với thời
kì trước (1991-1995, các tỷ trọng tương ứng là 56,15 và 43,9%). Điều này đã
phản ánh đúng đắn chính sách phát huy nội lực, tranh thủ nguồn vốn nước
ngoài là rất quan trọng của Đảng và Nhà nước ta [19; tr 18,19].