HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
NGUYỄN THỊ BÍCH NGA
ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60220315
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN DUY HẠNH
HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2015
1
MỤC LỤC
MỞ
ĐẦU .........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề
tài .........................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề
tài…...........................................4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên
cứu ............................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu .............................................................7
2008.............................................44
Tiểu kết chương 1…………………………………………..
………………..52
CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH OAI TĂNG CƯỜNG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ 01 THÁNG 8
NĂM 2008 ĐẾN NĂM
2013....................................................................................53
2.1. Chủ trương của TW Đảng, Đảng bộ thành phố Hà Nội và Đảng bộ
huyện Thanh Oai về xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ 01 tháng 8 năm
2008 đến
2013………..............................................................................................53
2.1.1. Chủ trương của Trung ương
Đảng .......................................................53
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà
Nội ........................................62
2.1.3. Chủ trương của Đảng bộ huyện Thanh
Oai .........................................64
3
2.2. Quá trình Đảng bộ huyện Thanh Oai chỉ đạo công tác xây dựng và
phát triển tổ chức cơ sở đảng từ 01/8 /2008 đến năm
2013 .......................69
2.2.1. Công tác giáo dục chính trị tư
tưởng……………................................69
2.2.2. Công tác kiểm tra, giám
sát ..................................................................82
2.2.3. Công tác dân
vận ..................................................................................85
Việt Nam. Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, Đảng đã không
ngừng lớn mạnh, lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ đạo, nổi
bật nhất là cách mạng tháng Tám năm 1945, thắng lợi của hai cuộc kháng
chiến oanh liệt chống đế quốc giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, từng
bước đưa nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, Đảng đã khởi xướng và lãnh
đạo, thu được những thành tựu to lớn đưa đất nước ta vượt qua được những
thử thách khó khăn thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội, bước
vào thời kỳ mới. Nghị quyết 03 Ban chấp hành Trung ương khóa VII về đổi
mới chỉnh đốn Đảng đã xác định: Đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Tiếp tục đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng,
tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng
lực và sức chiến đấu của Đảng: xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về
chính trị tư tưởng, có đạo đức cách mạng trong sạch, có tầm trí tuệ cao, có
phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân”. Thực hiện Nghị
5
quyết của Trung ương, các cấp ủy Đảng trong hệ thống tổ chức đảng từ
Trung ương đến cơ sở đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ,
nhiều TCCSĐ đã giữ vững và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ
sở, lãnh đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của các cấp ủy
trong thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn của địa
phương, cơ quan, đơn vị. Đội ngũ cán bộ, đảng viên tăng thêm hàng năm,
được nâng cao về số lượng và chất lượng, cũng như trình độ kiến thức và
năng lực hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiện vụ của tình
hình thế giới và trong nước, nhiều cấp ủy chưa thực sự coi trọng vị trí quan
trọng của TCCSĐ ở cơ sở, không ít TCCSĐ chưa nhận thức sâu sắc vị trí,
vai trò, tầm quan trọng của TCCSĐ nên chưa thực hiện đúng chức năng,
nghèo, vượt qua mọi thử thách khó khăn của thời đại, xây dựng, kiến thiết
quê hương ngày càng giàu đẹp, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ huyện
Thanh Oai đã lãnh đạo nhân dân giành được những thành tựu to lớn, trên
mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhưng không thể không tránh khỏi những tồn
tại, khó khăn vướng mắc cần được khắc phục.
Quá trình phát triển kinh tế thị trường đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước, hội nhập quốc tế diễn ra rất nhanh chóng và phức tạp trên địa bàn
huyện Thanh Oai, đặt ra yêu cầu mới ngày càng cao đối với năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ của Đảng bộ huyện Thanh Oai. Việc xây
dựng, củng cố, kiện toàn phát triển các loại hình TCCĐ đã trở thành nhiệm
vụ trọng tâm, cấp bách của Đảng bộ huyện.
Việc đánh giá đầy đủ, khách quan, khoa học quá trình lãnh đạo xây
dựng TCCSĐ của Đảng bộ huyện Thanh Oai theo đúng chủ trương của
Đảng là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược để xây dựng và phát triển Đảng bộ
huyện Thanh Oai. Mặt khác, đánh giá tổng kết thành tựu, khuyết điểm, thuận
lợi và khó khăn, trong lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thanh Oai về xây dựng
TCCSĐ cũng là những vấn đề thực tiễn của một số địa phương khác có đặc
7
điểm, vị trí, điều kiện tương tự, cần được nghiên cứu, tổng kết, rút kinh
nghiệm, để thực hiện chủ trương xây dựng TCCSĐ; từ đó tổng kết kinh
nghiệm góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn để phát triển lý luận xây dựng
Đảng, xây dựng TCCSĐ ở Đảng bộ Huyện Thanh Oai nói riêng và ở các địa
phương trong cả nước nói chung.
Với những lý do nêu trên, tôi chọn vấn đề: “Đảng bộ huyện
Thanh Oai , thành phố Hà Nội lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở
đảng từ năm 2001 đến năm 2013” làm chủ đề nghiên cứu của
luận văn tốt nghiệp thạc sỹ khoa học lịch sử Đảng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
cơ sở đảng xã, phường, thị trấn ở Đảng bộ Hà Nội”, số tháng 9 năm 2009;
Lê Khả Phiêu (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội:” Đảng Cộng sản Việt
Nam 70 năm xây dựng và trưởng thành”; Bùi Đình Phong (2001) Nxb Lao
Động, Hà Nội:” Công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước”; Lưu Quang Quán (Cb)(2004), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội: “Xây dựng chỉnh đốn Đảng chống quan liêu
tham nhũng, lãng phí”; Phạm Ngọc Anh chủ biên, Nxb chính trị quốc gia:
“Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong thời
kỳ đổi mới”; Chu Chí Hòa chủ biên, Nxb Đại học quốc gia: “Đổi mới công
tác xây dựng Đảng ở nông thôn”… Các tác giả đã dày công nghiên cứu và
đưa ra những luận điểm mang tính tổng quát về công tác xây dựng Đảng.
9
- Nhóm các đề tài, luận văn, luận án:
Luận văn thạc sĩ lịch sử thuộc trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn
– Đại học Quốc gia Hà Nội: “Đảng Cộng sản Việt Nam với quá trình xây
dựng đội ngũ đảng viên từ năm 1996 đến năm 2006” của tác giả Đặng Thị
Huệ; tác giả Đặng Quang Vinh với đề tài: “Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng
xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1997 – 2006”; tác giả Hà Thị Thu
Hằng với đề tài:”Đảng bộ huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ lãnh đạo tổ chức,
xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 1995 đến 2005”; tác giả Nguyễn Văn
Hoàn (2002): “Đảng bộ thành phố Thái Nguyên thực hiện nhiệm vụ xây
dựng tổ chức cơ sở đảng thời kỳ 1986 – 2000 Quá trình củng cố và phát
triển tổ chức cở đảng”; tác giả Nguyễn Thị Lan Phương (2002) với đề tài:
“Quá trình củng cố và phát triển tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ thị xã
Phủ lý tỉnh Hà Nam trong thời kỳ 1991 – 2000”; tác giả Trần Thị Thảo
(2002) với đề tài: “Đảng bộ huyện Vụ Bản lãnh đạo thực hiện công tác xây
dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới 1986 – 2001”… Các tác giả đã dành công
những năm 2001 – 2013.
Rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ huyện
Thanh Oai lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở địa phương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thanh Oai lãnh
đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng.
4.2. Phạm vi
Về mặt nội dung: Luận văn nghiên cứu những chủ trương và chỉ đạo của
Đảng bộ huyện Thanh Oai thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng
trên các phương diện: chính trị - tư tưởng và tổ chức.
11
Về mặt thời gian: Luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện nhiệm vụ
xây dựng tổ cơ sở đảng trong thời gian 13 năm từ 2001 đến năm 2013.
Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu quá trình lãnh đạo thực hiện
nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn huyện Thanh Oai.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ
nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận
văn là sử dụng các phương pháp như: phương pháp lịch sử, và phương pháp
logic, ngoài ra còn phương pháp thống kê, phương pháp mô tả... Đặc biệt là
coi trọng khảo sát nhằm phân tích khái quát hoá, tổng hợp hoá, để đánh giá
tình hình tổ chức cơ sở đảng.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày một cách hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản
về tổ chức cơ sở đảng.
Thanh Oai
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Thanh Oai là một huyện thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng,
nằm ở phía Tây Nam thủ đô Hà Nội. Phía Bắc liền kề với quận Hà Đông,
phía Đông tiếp giáp với huyện Thường Tín, phía Tây tiếp giáp với huyện
Chương Mỹ, phía Nam tiếp giáp với huyện Ứng Hòa, Phú Xuyên.
Với hệ thống giao thông thủy - bộ khá phát triển như đê sông Đáy, đê
sông Nhuệ nối giữa các xã, các huyện lân cận. Đường 22 (nay là quốc lộ
21B) là huyêt mạch giao thông của huyện, từ Hà Đông đi chùa Hương và
sang Hà Nam. Bên cạnh đó, huyện còn có quốc lộ 6 qua rìa phía Tây Bắc
huyện, dự án đường trục phía Nam Hà Nội đi xuyên qua huyện và tỉnh lộ 71
(nay gọi là đường 427).
Phía Đông Bắc có tuyến đường sắt vành đai phía Tây Hà Nội chạy
qua, để tới ga Văn Điển.
Với vị trí địa lý và hệ thống giao thông như trên, Thanh Oai đã trở
thành “cửa ngõ” của thủ đô Hà Nội, là cầu nối thuận lợi để sang các huyện
khác trong và ngoài tỉnh thành.
Diện tích tự nhiên của huyện là 129,6 km 2. Dân số là 175.800 người
(theo thống kê năm 2009).
Từ khi đất nước ta giành được độc lập, địa dư hành chính huyện
Thanh Oai từng bước được hình thành, gắn liền với sự nghiệp đấu tranh
chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước.
Sự kiện năm 1010, vua Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về thành Đại La
14
đổi tên nước là Thăng Long. Sau đó, nhà Lý đã phân chia lại địa giới hành
chính, đổi thập đạo thời Đinh thành 24 lộ, đất Thanh Oai thuộc lộ Quốc Oai;
lúc đó, huyện Thanh Oai có tên gọi là hương Thanh Oai. Đến năm 1207,
cuối triều Lý Cao Tông, địa dư hành chính huyện Thanh Oai chính thức ra
Ngày 27/12/1975, Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V thông qua Nghị
quyết hợp nhất 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Theo
đó, huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.
Ngày 29/12/1978, Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI thông qua Nghị
quyết phê chuẩn việc sáp nhập một số huyện, thị xã và thị trấn của tỉnh Hà
Sơn Bình vào thành phố Hà Nội.
Ngày 17/2/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 49-CP về
việc điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn của Hà Nội. Theo đó, sáp nhập xã
Hữu Hòa của huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Sơn Bình vào huyện Thanh Trì, thành
phố Hà Nội. Sau khi điều chỉnh, huyện Thanh Oai còn 24 xã.
Ngày 12/8/1991, Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII thông qua Nghị
quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây. Lúc này
huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Tây.
Ngày 23/6/1994, Chính phủ ra Nghị định số 52-CP về việc điều chỉnh
địa giới các huyện thuộc tỉnh Hà Tây. Theo đó, thành lập thị trấn Kim Bài
thuộc huyện Thanh Oai trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của xã
Kim An, Đỗ Động. Sau khi điều chỉnh, huyện Thanh Oai có 25 đơn vị hành
chính trực thuộc gồm thị trấn Kim Bài và 24 xã.
Ngày 23/9/2003, Chính phủ ra Nghị định số 107/2003/NĐ-CP điều
chỉnh địa giới hành chính và chuyển hai xã Phú Lương và Phú Lãm thuộc
huyện Thanh Oai về thị xã Hà Đông quản lý. Sau khi điều chỉnh, huyện
Thanh Oai còn 23 đơn vị hành chính gồm thị trấn Kim Bài và 22 xã.
Ngày 4/1/2006, Chính phủ ra Nghị định số 01/2006/NĐ-CP, điều
chỉnh địa giới hành chính, mở rộng thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây; và sáp
nhập một phần diện tích cùng nhân khẩu của thôn Phượng Bãi, xã Phụng
Châu, huyện Chương Mỹ vào xã Biên Giang, huyện Thanh Oai. Chuyển
toàn bộ xã Biên Giang và Đồng Mai thuộc huyện Thanh Oai về thị xã Hà
16
17
Sự phát triển của nông nghiệp cùng với sự phong phú các mặt hàng
thủ công đã tạo điều kiện cho thương nghiệp của huyện sớm phát triển. Trên
địa bàn huyện, ngay từ xa xưa, nhiều chợ đã hình thành ở các vùng để giao
lưu trao đổi hàng hóa của nhân dân. Theo sách Dư địa chí Hà Tây, huyện
Thanh Oai có 15 chợ, một số chợ lớn có tiếng trong vùng như: chợ Mai Lĩnh
(Đồng Mai), chợ Bộ (Cao Bộ), chợ Tư (Bình Đà), chợ Chuông (Phương
Trung)... Ngày nay, cùng với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công
nghiệp, thương nghiệp cũng ngày càng phát triển. Nhiều khu phố, trung tâm
buôn bán, các chợ lớn được mở rộng để buôn bán, trao đổi sản phẩm phục
vụ nhu cầu của nhân dân trong và ngoài huyện.
Từ bao đời nay, cư dân Thanh Oai chủ yếu là làm nông nghiệp. Sự
cần cù, chịu thương, chịu khó của người dân cùng với việc ứng dụng sáng
tạo các thành tựu khoa học kỹ thuật một cách phù hợp với điều kiện ở địa
phương đã tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện trong những
năm qua đã có những bước phát triển đáng kể.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền các cấp, nhân dân Thanh
Oai đồng lòng phát huy sức mạnh tập thể, hăng hái thi đua sản xuất, thúc đẩy
kinh tế phát triển, tạo cho bộ mặt kinh tế huyện ngày càng khởi sắc.
Trong những năm qua, kinh tế huyện đạt tốc độ tăng trưởng khá và ổn
định. “Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 13,5% (cao
hơn giai đoạn 2000 - 2005 là 3%); bình quân thu nhập đầu người năm 2009
đạt 9,17 triệu đồng, đến năm 2010 là 10,27 triệu đồng”. Cơ cấu kinh tế có sự
chuyển dịch theo hướng tích cực. “Cơ cấu kinh tế năm 2010: nông nghiệp
chiếm 28,37%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm
42,12%, dịch vụ - thương mại chiếm 29,51%. Tỉ trọng công nghiệp, thủ
công nghiệp, xây dựng tăng 14,4% và tỉ trọng nông nghiệp giảm 19,23% (so
với năm 2005)”. Giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp và xây dựng
ngôi đình, ngôi chùa, đền, miếu; nó không những thể hiện đời sống văn hóa
tinh thần phong phú của nhân dân, mà nó còn để lại những những di sản văn
hóa vật thể có giá trị cho dân tộc. Trên địa bàn huyện, nhiều ngôi đình, chùa
đã được công nhận và xếp hạng di tích Quốc gia như chùa Bối Khê (Tam
Hưng), chùa Ngọc Đình (Hồng Dương), đình và chùa Chuông (Phương
19
Trung), đình và chùa Bình Đà (Bình Minh). Các ngôi đình, chùa đều mang
dấu ấn kiến trúc độc đáo của vùng đồng bằng Bắc bộ. Đây cũng là nơi diễn ra
các lễ hội truyền thống. Hàng năm huyện Thanh Oai diễn ra 81 lễ hội, trong
đó có nhiều lễ hội lớn như lễ hội chùa Bối Khê (Tam Hưng), lễ hội Bình Đà
(Bình Minh), hội Chuông(Phương Trung). Các di tích đình, chùa và lễ hội đã
trở thành biểu tượng đẹp trong văn hóa làng Việt.
Sự nghiệp giáo dục của huyện đã đạt được những thành tựu mới. Nhờ
có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành và sự quan tâm ủng hộ của
nhân dân trong huyện, sự nghiệp giáo dục ngày càng phát triển cả về chiều
sâu lẫn chiều rộng ở tất cả các cấp học, các ngành học. Hệ thống giáo dục
phát triển đã tạo ra đội ngũ trí thức, đội ngũ nhân công lao động lành nghề
có trình độ chuyên môn cao để phục vụ đắc lực cho công cuộc CNH, HĐH
của huyện nói riêng và của đất nước nói chung.
Công tác y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng có những tiến bộ
đáng kể. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế ở Bệnh viện huyện, các Trạm y tế xã
được nâng cấp, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trong huyện.
Tuy nhiên, nền kinh tế của Thanh Oai vẫn còn phát triển chậm, chưa
tương xứng với vị thế và tiềm năng của huyện; hoạt động văn hóa chưa đáp
ứng được yêu cầu, vẫn còn nhiều hủ tục lạc hậu trong đời sống văn hóa của
nhân dân; chất lượng giáo dục còn hạn chế, công tác xã hội hóa giáo dục
chưa cao; nhân công lao động thiếu việc làm thường xuyên còn nhiều, nhất là ở
những xã bị thu hồi đất nông nghiệp. Các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng và
ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở đảng; nếu chưa đủ ba đảng
viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở
tổ chức cơ sở đảng thích hợp.
3. Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có
các tổ đảng trực thuộc.
4.Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ
sở, có các chi bộ trực thuộc đảng ủy.
21
5. Những trường hợp sau đây, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được
cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện:
- Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên.
- Lập chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở có hơn ba mươi đảng viên.
- Lập Đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng ủy cơ sở [28, tr. 32-33-34].
Điều 10, Điều lệ Đảng chi rõ: Tổ chức cơ sở đảng được lập tại các đơn
vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo
của cấp ủy quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Tổ chức Đảng trong
Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nạm theo quy định
tại chương VI. Việc lập Tổ chức cơ sở Đảng ở những nơi có đặc điểm riêng
theo quy định của Bộ Chính trị [28, Tr. 18].
Theo quy định trên, có thể thấy khái niệm TCCSĐ được gọi chung cho
cả Chi bộ cơ sở, Đảng bộ cơ sở căn cứ theo số lương đảng viên và yêu cầu cụ
thể của nhiệm vụ từng đơn vị ở cơ sở để thực hiện.
Chức năng của tổ chức cơ sở đảng:
Trong xây dựng CNXH khi Đảng trở thành lực lượng lãnh đạo toàn xã
hội, TCCSĐ dù được thành lập ở loại hình cơ sở nào, là Chi bộ cơ sở hay
Đảng bộ cơ sở đều có chức năng là hạt nhân chính trị lãnh đạo tại đơn vị cơ sở
và tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng.
+ Những hoạt động xây dựng nội bộ Đảng của TCCSĐ nhằm trực tiếp
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ và góp phần nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng. Tuy mỗi loại hình TCCSĐ có
những điểm riêng về phương thức tiến hành xây dựng nội bộ, song, nhìn chung
đều thực hiện những công việc chủ yếu: củng cố kiện toàn hệ thống tổ chức,
chăm lo đào tạo đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và kết
nạp đảng viên mới, thực hiện chế độ sinh hoạt Đảng, tự phê bình và phê bình,
kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, giữ gìn kỷ luật và sự đoàn kết thống
nhất trong Đảng; trực tiếp hoặc gián tiếp bầu các cơ quan lãnh đạo các cấp của
23
Đảng và tham gia xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước, các Nghị quyết của tổ chức Đảng cấp trên.
+ Các TCCSĐ tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng phải
được thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt nội
bộ Đảng, đồng thời tổ chức tốt việc quần chúng tham gia xây dựng tổ chức
Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên [32, tr. 92-93-94].
Chức năng của TCCSĐ là sự phân công tất yếu, sự quy định chức
trách một cách tương đối ổn định, hợp lý trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể
mà cách mạng đòi hỏi ở một tổ chức, giúp phân biệt rõ tổ chức này với tổ
chức khác trong hệ thống chính trị. Qua sự xác định của Điều lệ Đảng có
thể thấy, TCCSĐ có chức năng quan trọng là hạt nhân lãnh đạo chính trị
tại đơn vị cơ sở. Ở đây, TCCSĐ thể hiện rõ vai trò đoàn kết và lãnh đạo
các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở; TCCSĐ là trung tâm quy tụ
tập hợp các lực lượng ở cơ sở; TCCSĐ giữ vai trò định hướng xây dựng
Nghị quyết, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở; TCCSĐ lãnh
đạo thực hiện đường lối, chủ trượng, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước ở cơ sở. Vì vậy, khi TCCSĐ mất đoàn kết, bị quần chúng
cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và
quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính
chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển
đảng viên [28, tr. 35].
Chất lượng của một tổ chức đảng, của cấp ủy và đội ngũ cán bộ đảng
viên là yếu tố giữ vai trò lãnh đạo quyết định đối với việc đổi mới phương
thức : lãnh đạo của các TCCSĐ. Vì vậy, nội dung của nhiệm vụ trên cần được
vận ’ dụng vào từng loại hình TCCSĐ nhất định theo đúng với quy định của
BCH Trung ương, phải xuất phát từ thực tiễn ở Chi bộ, Đảng bộ mà xác định
trọng tâm, trọng điểm cần phải giải quyết.
3.Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự
nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính tri - xã hội trong sạch,
25