ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
DƯƠNG THỊ NGHĨA
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DỊCH VỤ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành
Mã số
: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRƯƠNG MINH DỤC
HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
DƯƠNG THỊ NGHĨA
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DỊCH VỤ
07
1. 1. 1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
07
1.1.2. Kinh tế dịch vụ Đà Nẵng trước năm 1997
11
1. 2. Mở rộng mạng lưới dịch vụ góp phần thúc
đẩy sản xuất và đảm bảo nhu cầu đời sống
nhân dân
15
1. 2. 1. Về phát triển ngành thương mại
18
1. 2. 2. Về phát triển ngành du lịch
23
1. 2. 3. Về xây dựng và phát triển dich vụ bưu chính viễn thông
28
1. 2. 4. Về xây dựng và phát triển hoạt động tín dụng,
ngân hàng
2. 2. 1. Xây dựng Đà Nẵng thành một trong những
trung tâm thương mại lớn của miền Trung và
cả nước
44
2. 2. 2. Phát triển du lịch Đà Nẵng thành một ngành
kinh tế mũi nhọn
50
2. 2. 3. Hiện đại hoá bưu chính - viễn thông, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và
an ninh, quốc phòng
57
2. 2. 4. Mở rộng hoạt động tín dụng, ngân hàng, đáp
ứng nguồn vốn cho yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội
Chương 3 NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
62
69
3. 1. Nhận xét chung
69
3. 1. 1. Những thành tựu đạt được
dạng hóa, mở rộng thị trường tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ đáp ứng tốt nhu
cầu phát triển kinh tế và đời sống văn hóa xã hội của nhân dân. Trong cơ cấu
kinh tế nước ta, tỷ trọng ngành kinh tế dịch vụ ngày càng tăng, đến năm 2010,
tỷ trọng khu vực dịch vụ chiếm 38,3% trong cơ cấu GDP.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được tách
thành 2 đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương là tỉnh Quảng Nam và thành
phố Đà Nẵng. Thành phố Đà Nẵng có 5 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà,
Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn và hai huyện: Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa.
Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển lâu
dài của thành phố.
Là thành phố nằm trong khu vực miền Trung, Đà Nẵng có vị trí địa lý
thuận lợi, nơi hội tụ nhiều tiềm năng cho sự phát triển kinh tế dịch vụ so với
các tỉnh thành khác trong khu vực. Nghị quyết số 33 của Bộ Chính trị ngày 15
tháng 7 năm 2004 Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2004 – 2010 chủ trương:
“Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả
nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm
công nghiệp, thương mại du lịch và dịch vụ…”[18, 1].
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nghị quyết của Bộ Chính trị,
dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Đà Nẵng, kinh tế Đà Nẵng đã đạt được những
1
thành tựu vượt bậc, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công
nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Hiện nay, Đà Nẵng đã trở thành
trung tâm kinh tế của miền Trung và Tây Nguyên. Trong quá trình phát triển,
ngành kinh tế dịch vụ của Đà Nẵng đã tạo cơ sở quan trọng thúc đẩy cả nền
kinh tế phát triển và đã đóng góp vào sự tăng trưởng nhanh của kinh tế thành
phố. Các ngành dịch vụ phát triển mạnh về quy mô, đa dạng về loại hình đạt
được khi giải quyết đề tài.
Nhóm thứ hai những sách chuyên luận, chuyên khảo về vấn đề phát triển
kinh tế, kinh tế dịch vụ như: Đổi mới và phát triển kinh tế ở Việt Nam của
Nguyễn Đình Hương (1997), Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội; Phát
triển và quản lý nhà nước về kinh tế dịch vụ của Bùi Tiến Quý (Nhà xuất bản
Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 2000); Kinh tế Việt Nam đổi mới: Những phân
tích và đánh giá quan trọng của các tác giả Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang
Việt, Trần Vân (2002), Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội; Một số vấn đề phát
triển kinh tế của Việt Nam hiện nay do GS. TS. Đỗ Hoài Nam (2005) chủ
biên, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội; Phát triển dịch vụ tài chính - ngân hàng
ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập (Sách chuyên khảo) của tác giả PGS. TS.
Lê Quốc Lý (2009), Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội;… Nhóm công trình
này đã cung cấp cho đề tài tư liệu và sự nhìn nhận mang tính khái quát về xây
dựng, phát triển kinh tế, trong đó có lĩnh vực kinh tế dịch vụ.
Nhóm thứ ba là những công trình trực tiếp liên quan đến sự lãnh đạo của
Đảng bộ địa phương phát triển kinh tế nói chung, ngành kinh tế dịch vụ nói
riêng ở Đà Nẵng như: Lịch sử thành phố Đà Nẵng, Nxb. Đà Nẵng, 2001; Lịch
sử Đảng bộ Đà Nẵng, Nxb. Đà Nẵng, 2005; Chuyên khảo: Công nghiệp thành
phố Đà Nẵng - thực trạng và giải pháp phát triển của tác giả TS. Lê Hữu Đốc
(2004), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ngành thương mại Đà Nẵng 60 năm
hình thành và phát triển do nhóm tác giả Lữ Bằng, PGS. TS. Trương Minh
Dục và Nguyễn Thị Kim Nhị (2006) biên soạn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Luận văn thạc sỹ: Đảng bộ Đà Nẵng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ
năm 1996 đến năm 2009 của Lê Thị Hồng Vân (2010), bảo vệ tại Khoa Lịch sử
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ngoài ra còn có nhiều bài báo khoa học đề cập đến phát triển kinh tế Đà
Nẵng nói chung và kinh tế dịch vụ nói riêng được đăng tải trên các tạp chí
3
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Lĩnh vực kinh tế dịch vụ gồm nhiều ngành: thương mại, tài
chính, ngân hàng, du lịch, bưu chính viễn thông, vận tải, thể dục - thể thao,
bảo hiểm…Nội dung của luận văn tập trung đi vào phân tích, làm rõ quá trình
lãnh đạo của Đảng bộ Đà Nẵng đối với việc phát triển 4 ngành kinh tế dịch vụ
quan trọng: thương mại, du lịch, tín dụng - ngân hàng, bưu chính - viễn thông
ở Đà Nẵng cũng như những kết quả, kinh nghiệm trong sự lãnh đạo phát triển
các ngành này.
Về thời gian: Nghiên cứu sự lãnh đạo phát triển kinh tế dịch vụ của Đảng
bộ Đà Nẵng, những kết quả, kinh nghiệm từ khi Đà Nẵng trở thành đơn vị
hành chính trực thuộc Trung ương (năm 1997) cho đến năm 2010.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của việc thực hiện luận văn là dựa vào những quan điểm lý
luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phát triển kinh tế nói chung và
phát triển kinh tế dịch vụ nói riêng.
5.2. Nguồn tư liệu
Quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các nguồn tài liệu sau: các
văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, các văn kiện, báo cáo của Thành
ủy Đà Nẵng, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân thành phố. Ngoài ra, luận
văn còn sử dụng tài liệu của các công trình đã trình bày ở trên.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic. Ngoài ra,
luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, phương pháp khảo sát thực tế.
6. Đóng góp của luận văn
Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15' đến 16°40' vĩ độ Bắc và từ 107°17'
đến 108°20' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và
Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông.
Đà Nẵng nằm ở trung độ của đất nước, cách Hà Nội 765 km về phía Bắc
và cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam, nối với vùng Tây
Nguyên qua quốc lộ 14B và là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên, các nước
Lào, Camphuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước Đông Bắc Á thông qua
Hành lang kinh tế Đông - Tây. Bên cạnh đó có các tuyến giao thông quan
trọng như cảng biển nước sâu và sân bay quốc tế, tạo ưu thế về vị trí địa lý
kinh tế của Đà Nẵng trong tổng thể kinh tế của cả nước, xứng đáng là thành
phố hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Ngoài ra Đà Nẵng còn
là trung tâm của năm di sản thiên nhiên, văn hóa thế giới: Cố đô Huế, Phố cổ
Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Phong Nha - Kẻ Bàng, Nhã nhạc cung đình Huế.
Các trung tâm kinh tế phát triển của các nước Đông Nam Á và Thái Bình
Dương đều nằm trong phạm vi bán kính 2.000 km tính từ thành phố Đà Nẵng,
rất thuận tiện trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Địa hình thành phố vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc
tập trung ở phía Tây và Tây Bắc nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi
thấp xen kẽ đồng bằng hẹp.
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển nên bị
nhiễm mặn, lại là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ, quân sự và các khu chức năng của thành phố có dân cư đông đúc.
7
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, phần lớn ở độ cao 700 - 1.500m, độ
dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ
môi trường sinh thái của thành phố.
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nền nhiệt
độ cao và ít biến động. Khí hậu thành phố mang đặc thù của khí hậu nơi
Diện tích toàn thành phố Đà Nẵng là 1.255,53 km2 (năm 2009). Trong đó,
đất lâm nghiệp chiếm 512,21 km²; đất nông nghiệp là 117,22 km²; đất chuyên
dùng là 385,69 km²; đất ở 30,79 km² và đất chưa sử dụng 207,62 km². Đất ở Đà
Nẵng có các loại đất: cồn cát, đất ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất
xám bạc màu, đất đen, đất đỏ vàng, đất bùn đỏ vàng, đất thung lũng và đất xói
mòn trơ sỏi đá. Quan trọng là đất phù sa thích hợp với sản xuất nông nghiệp và
đất đỏ vàng thích hợp với cây trồng công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược
liệu, chăn nuôi gia súc và bố trí các cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Đất rừng tự nhiên tập trung chủ yếu phía Tây huyện Hòa Vang, một số ít
ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà. Đất rừng trồng có ở hầu hết các quận, huyện
trong thành phố nhưng tập trung chủ yếu vẫn là ở huyện Hòa Vang, quận Liên
Chiểu và Ngũ Hành Sơn. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 45%, phân bổ chủ yếu ở nơi
có độ dốc lớn, địa hình phức tạp.
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên
cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch, nhất là khu
vực Sơn Trà, Hải Vân và Bà Nà - nơi hội tụ các thảm thực vật Bắc Nam.
Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 70 km, có vịnh nước sâu với các biển
Liên Chiểu, Tiên Sa, có vùng lãnh hải thềm lục địa với độ sâu 200m, tạo
thành vành đai nước nông rộng lớn thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp
biển và giao lưu với nước ngoài. Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp như bãi Non
Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú,
có giá trị lớn cho phát triển du lịch và nghỉ dưỡng.
* Về dân số và nguồn nhân lực
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 tại thời điểm
1.4.2009, dân số trung bình của Đà Nẵng 887.070 người, 221.915 hộ, xếp thứ
59 trên cả nước về diện tích và xếp thứ 43 về dân số, tốc độ tăng dân số bình
quân tăng 2,6% mỗi năm.
9
10
Với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội như vậy, Đà Nẵng có thuận lợi
nhất định để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế dịch vụ nói riêng.
1. 1. 2. Kinh tế dịch vụ Đà Nẵng trƣớc năm 1997
Năm 1975 miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất. Nước ta
bước vào thời kỳ mới - thời kỳ cả nước cùng quá độ lên CNXH. Sau hơn 10
năm cả nước cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Tuy
nhiên, nền kinh tế, các lĩnh vực xã hội lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu
sắc, trong khi đó, các thế lực đế quốc tăng cường bao vây cấm vận, thực hiện
âm mưu “diễn biến hòa bình” làm cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
ngày càng thêm khó khăn.
Đứng trước tình thế cách mạng khó khăn, tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI (tháng 12-1986), Đảng ta chính thức khởi xướng công cuộc
đổi mới toàn diện đất nước, mà trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế: chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh
doanh xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Đồng
thời, Đại hội đã nêu ra phương hướng, mục tiêu chủ yếu để phát triển kinh
tế - xã hội trong 5 năm (1986-1990). Sau 5 năm thực hiện đường lối đổi
mới tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội đều đạt được những thành tựu to lớn.
Đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển kinh tế, đất nước ta đã thu được những
thành tựu bước đầu hết sức quan trọng, góp phần từng bước đưa nước ta
thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng; ổn định được thị trường
trong nước, từng bước hướng tới xuất khẩu. Tổng kết kinh nghiệm lịch sử
cách mạng 60 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng (1930 - 1990), trên tinh thần
đổi mới của Đại hội VI, trong hoàn cảnh mới, Đại hội lần thứ VII (6-1991)
của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
Nẵng đã bước đầu hướng vào xuất khẩu. Tuy nhiên, vào đầu những năm 90,
do ảnh hưởng của tình hình chính trị ở Liên Xô và Đông Âu, hoạt động xuất
khẩu của thành phố gặp nhiều khó khăn. Bước vào những năm 1990-1995,
hoạt động xuất khẩu đã tìm được thị trường mới với các hoạt động dịch vụ
thu ngoại tệ như xuất khẩu hàng may mặc, giày dép, thủy sản…Do vậy, kim
ngạch xuất khẩu bước đầu có sự phát triển. Năm 1990 đạt 54.492 USD đến
12
năm 1995 đạt 109.502 USD. Hoạt động xuất khẩu lao động bước đầu phát
triển với số lao động ra nước ngoài làm việc được tăng lên qua từng năm.
Dịch vụ du lịch.
Là địa bàn có nhiều tiềm năng, lợi thế về phát triển du lịch nên trước khi
tái lập thành phố, hoạt động du lịch trên địa bàn Đà Nẵng đã bước đầu có sự
phát triển. Kinh doanh du lịch đã tập trung vào khai thác các loại hình du lịch
như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái. Chất lượng dịch vụ tại khu, điểm
du lịch, vui chơi giải trí bước đầu đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch.
Doanh thu từ du lịch cũng như tổng số lượt khách đến du lịch đều tăng lên
qua từng năm. Trên địa bàn thành phố đã hình thành 4 khu du lịch tập trung
như: Nam Thọ - Sơn Trà; Khu Mỹ Khê; Khu Bắc Mỹ An và khu Non Nước Ngũ Hành Sơn.
Dịch vụ bưu chính - viễn thông.
Nhằm tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế, các lĩnh vực văn hóa - xã
hội, Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng đã chỉ đạo đẩy mạnh phát triển các
ngành kinh tế dịch vụ, trong đó tập trung ngành dịch vụ bưu chính - viễn
thông. Do đó, trước khi được tái lập, hoạt động bưu chính - viễn thông có
bước phát triển khá, bước đầu đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân
dân.
Dịch vụ tín dụng, ngân hàng.
Hoạt động tín dụng ngân hàng có những chuyển biến tích cực về củng
cố, xây dựng, tổ chức, chấn chỉnh nghiệp vụ, triển khai nhanh nguồn vốn và
Nhận thức của một số cấp, ngành về hoạt động kinh doanh du lịch chưa đầy
đủ, chưa coi du kịch là ngành kinh tế quan trọng.
Dịch vụ bưu chính - viễn thông tuy bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân. Mạng lưới thông tin trên địa
bàn một số quận, huyện chưa được hoàn chỉnh, một số xã chưa có cáp điện
thoại kéo đến. Tỷ lệ máy điện thoại trên 100 dân còn thấp. Bên cạnh đó, mạng
lưới phát hành báo chí phát triển chậm, tính hiện đại trong dịch vụ chưa cao.
Trong hoạt động tín dụng - ngân hàng, nguồn vốn hạn hẹp, quy mô ngân
hàng nhỏ bé. Công tác huy động vốn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt thấp. Các quỹ tín dụng
14
nhân dân hoạt động chưa thực sự hiệu quả, chất lượng tín dụng thấp, một số
quỹ tín dụng làm ăn thua lỗ dẫn đến giải thể.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên là những thách thức không nhỏ được đặt
ra buộc Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng phải có những chủ trương, quyết sách
đúng đắn để đưa kinh tế dịch vụ của thành phố phát triển tương xứng với tiềm
năng vốn có. Là một thành phố có nhiều thuận lợi về mặt địa lý, nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm của khu vực miền Trung với hệ thống giao thông khá
phát triển sẽ là những điều kiện quan trọng để Đà Nẵng xây dựng và phát
triển các ngành kinh tế dịch vụ. Với đường lối, chủ trương và những biện
pháp phát triển kinh tế đúng đắn của Đảng bộ sau khi tái lập, kinh tế Đà Nẵng
đã căn bản khắc phục được những hạn chế, yếu kém nêu trên, kinh tế dịch vụ
từng bước đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần đưa Đà Nẵng vươn
lên trở thành một trong những thành phố có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất
cả nước.
1. 2. MỞ RỘNG MẠNG LƢỚI DỊCH VỤ GÓP PHẦN THÚC ĐẨY
SẢN XUẤT VÀ ĐẢM BẢO NHU CẦU ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN
Các mục tiêu và chỉ tiêu được xác định là: tốc độ tăng GDP bình quân
hàng năm: 15 - 16%, đến cuối năm 2000 đạt mức GDP bình quân đầu người
khoảng 700 USD, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 18 20%/năm, giá trị dịch vụ tăng 16 - 17%/năm; trong đó kim ngạch xuất khẩu
tăng bình quân 27 - 28%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công
nghiệp- dịch vụ - nông nghiệp theo tỷ trọng tương ứng là 36,6% - 56,7% 6,7%.
Với những nhiệm vụ và phương hướng cụ thể đó, đến năm 2000 các chỉ
tiêu đặt ra cho giai đoạn 1997 - 2000 đều đạt và vượt. GDP bình quân hàng
năm tăng 10,19% (bằng 1,47 lần so với mức bình quân chung cả nước); giá trị
sản xuất công nghiệp tăng 18,96%; dịch vụ tăng 6,95%, nông - lâm - thủy sản
tăng 3,83%. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng tăng tỷ
trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tương đối tỷ trọng nông
nghiệp, phù hợp với xu thế chung của cả nước và của các đô thị lớn. Tỷ trọng
công nghiệp trong GDP từ 35,31% năm 1997 đã tăng lên 40,75% năm 2000;
tỷ trọng dịch vụ đạt 51,7%; nông - lâm - thủy sản từ 9,7% xuống còn 7,6%.
Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân
16
hàng năm 17,7%. Thế mạnh về dịch vụ đã có thêm những điều kiện và triển
vọng phát triển mới.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực kinh tế, trong đó có lĩnh vực kinh tế dịch vụ
còn thiếu những giải pháp mang tính đột phá nhằm phát huy mạnh mẽ tiềm
năng và lợi thế của thành phố. Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chậm, chưa ổn
định; nhiều chỉ tiêu chưa đạt mức Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần
thứ XVII đề ra. GDP bình quân đầu người năm 2000 mới chỉ đạt 488 USD,
còn thấp so với nhiều thành phố lớn trong cả nước. Các lĩnh vực sản xuất,
dịch vụ phát triển chậm. Một số ngành dịch vụ chỉ ở mức sơ khai như dịch vụ
tài chính tiền tệ, dịch vụ khoa học công nghệ.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), với quyết tâm
khắc phục những hạn chế, yếu kém, phát huy những thuận lợi, kết quả đạt
chức và phương thức hoạt động thương mại, tập trung củng cố các doanh
nghiệp thương mại quốc doanh, có phương án chuyển đổi mô hình hợp tác xã
mua bán theo luật hợp tác xã. Thành ủy chỉ đạo ngành thương mại xây dựng
trung tâm triển lãm, hội chợ quốc tế và một số trung tâm thương mại.
Sau ba năm tái lập (1997 - 2000), trong điều kiện còn nhiều khó khăn
nhưng hoạt động thương mại trên địa bàn bước đầu đã đạt được những kết
quả quan trọng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội cả năm 1997 đạt
2.664,7 tỷ đồng, tăng 2,6% so với năm 1995, năm 2000 đạt 4.078,0 tỷ đồng
tăng 14,44% so với năm 1999, đạt 144,4% kế hoạch. Kim ngạch xuất khẩu
năm 1997 đạt 154.634.000 USD, đến năm 2000 đạt 235.326.000 USD [38, 2],
tăng 1,5 lần so với năm 1997. Công tác quản lý thị trường đã thực hiện tốt
chức năng quản lý nhà nước, tham gia tích cực đấu tranh chống buôn lậu
trong tình hình mới và tổ chức kiểm tra, kiểm soát thị trường làm cho trật tự
thị trường được củng cố và lành mạnh hơn, hàng hóa lưu thông thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, hoạt động thương mại của Đà Nẵng trong thời gian này còn
kém sôi động, nhu cầu mua, bán của nhân dân ở khu vực nông thôn, miền núi
chưa được đáp ứng tốt. Nguyên nhân của thực trạng trên là do thương nghiệp
quốc doanh trên địa bàn hoạt động kém hiệu quả, chưa thu hút được tất cả các
thành phần kinh tế vào kinh doanh hoạt động thương mại, mạng lưới chợ ở
các khu vực nông thôn, miền núi còn ít. Từ đó, Ban Thường vụ Thành ủy chỉ
18
đạo ngành thương mại, một mặt tập trung củng cố nâng cao hiệu quả các
doanh nghiệp nhà nước, đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao khả năng cạnh
tranh và hội nhập; mặt khác khai thác thực hiện tốt mọi nguồn lực, tổ chức
thực hiện phân cấp, phân công quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh phấn khởi mở rộng đầu tư ở những mặt hàng thiết yếu. Ngoài ra,
ngành thương mại cần chú trọng xây dựng thêm chợ ở khu vực nông thôn,
đồ gỗ cao cấp. Các giải pháp được quán triệt chỉ đạo là: khuyến khích các
thành phần kinh tế làm hàng xuất khẩu và tham gia xuất khẩu trực tiếp; hỗ trợ
các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân tìm và tạo thị trường xuất
khẩu để xuất khẩu các mặt hàng chủ lực. Bên cạnh đó, thành phố tạo môi
trường thuận lợi về thủ tục hành chính cho các hoạt động liên doanh sản xuất,
gia công hàng xuất khẩu trên địa bàn. Công tác hải quan tạo điều kiện thuận
lợi, góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn.
Những biện pháp trên được triển khai thực hiện đồng bộ, kết quả là đến
năm 2002, các hình thức kinh doanh và dịch vụ thương mại của thành phố
được mở rộng và phát triển, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ cũng tăng
nhanh, nhất là hoạt động xuất khẩu. Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong năm ước
đạt 5.416,1 tỷ đồng tăng 15,35% so với năm 2001. Tình hình thị trường sôi
động, hàng hóa trên thị trường đa dạng, phong phú, lưu thông thuận lợi, nhiều
hình thức kinh doanh (đại lý, ủy thác, mua bán tại nhà, qua bưu điện) được
mở rộng, đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân thành phố. Giá cả các mặt hàng
thiết yếu như lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng tương đối ổn định. Chỉ
số giá bán hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng bình quân tháng trong năm tăng
2,3% so với cùng kỳ năm 2001.
Hoạt động xuất nhập khẩu có bước đột phá. Kim ngạch xuất khẩu trên
địa bàn thành phố ước đạt 282 triệu USD, bằng 84,9% kế hoạch năm, tăng 5,8
so với năm 2001, trong đó doanh nghiệp địa phương ước đạt 93,7 triệu USD,
bằng 87,1% kế hoạch và tăng 2,6% so với năm 2001.
Một thực tế đặt ra với hoạt động kinh doanh thương mại của Đà Nẵng sau
những năm đầu tái lập thành phố là: do nguồn hàng trao đổi trên thị trường
cũng như nguồn hàng xuất khẩu chủ yếu do các doanh nghiệp trong nước sản
xuất với những mặt hàng truyền thống nên hàng hóa phục vụ thiếu sự đa dạng,
20
phong phú, không thúc đẩy được hoạt động kinh doanh thương mại phát triển