Đảng bộ tỉnh phú thọ lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương nam 1997 2009 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

BÙI THANH PHƯƠNG
`

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIỂN
CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG NHỮNG NĂM
1997-2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


Hà Nội, 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

BÙI THANH PHƯƠNG

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIỂN
CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG NHỮNG NĂM
1997-2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sảnViệt Nam
Mã số: 60 22 56


Tìm hiểu quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo phát triển công nghiệp địa
phương từ năm 1997-2009 chính là nhằm tái hiện lại hành trình thực hiện các chủ
trương phát triển kinh tế công nghiệp nói chung và công nghiệp địa phương nói
riêng mà Đảng và Nhà nước đã đề ra của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh.
Từ đó thấy được những thành tựu quan trọng cũng như những cơ hội và thách thức
1


mà Đảng bộ tỉnh đã trải qua để đưa công nghiệp Phú Thọ vững bước đi lên. Qua đó
làm nổi bật lên những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện công nghiệp
hóa- hiện đại hóa, phát triển kinh tế -xã hội ở địa phương; cũng là tái dựng lại một
góc của bức tranh sôi động: Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa.
Từ ý nghĩa trên, chúng tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo
phát triển công nghiệp địa phương những năm 1997-2009” làm đề tài luận văn
Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề phát triển công nghiệp nói chung và công nghiệp địa phương nói riêng
luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các cơ quan và các địa phương cũng
như sự nghiên cứu, tìm hiểu của các nhà khoa học ở nhiều khía cạnh, góc độ khác
nhau, góp phần quan trọng vào quá trình tổng kết lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng,
phát triển sản xuất công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.
Trong thời gian qua, đứng trước công cuộc đổi mới của Đảng, đặc biệt là khi
nước ta tiến hành công nghiệp hóa- hiện đại hóa, mở cửa giao lưu hội nhập kinh tế
quốc tế thì đã có rất nhiều các công trình của các cơ quan, các nhà quản lí, các cá
nhân… nghiên cứu, đề cập đến các vấn đề về phát triển kinh tế công nghiệp Việt
Nam. Các nhà khoa học Việt Nam đề cập đến các nội dung về công nghiệp thông
qua nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài, tổng kết kinh nghiệm trong quá trình
thực hiện công nghiệp hóa như: “Kinh tế học phát triển về công nghiệp hóa và cải
cách nền kinh tế” (Đỗ Đức Định, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004);
“Một số vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” (Đỗ Hoài Nam, Nhà

Đảng trong lịch sử.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở những tài liệu thu thập được về quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương những năm 1997-2009, luận văn hướng
đến giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, trình bày một cách khách quan, toàn diện những chủ trương, chính
sách và quá trình lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương của Đảng bộ tỉnh
trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2009. Qua đó, thấy được những thuận lợi
cũng như khó khăn, thử thách mà tỉnh đã phải trải qua để đẩy nhanh sự phát triển
của ngành kinh tế này trong từng thời kì.
Thứ hai, nêu lên những kết quả đạt được, rút ra nhận xét, đánh giá và bài học
kinh nghiệm; bước đầu nêu lên phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế công
nghiệp tại địa phương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.

3


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào những đối tượng nghiên cứu sau: Những chủ trương và
biện pháp của Đảng bộ Phú Thọ nhằm phát triển công nghiệp địa phương; Quá trình
thực hiện những chủ trương, biện pháp này và kết quả đạt được.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt thời gian: từ năm 1997 đến năm 2009, có khảo sát thêm những năm
từ 1968-1997.
- Về không gian:
Tỉnh Phú Thọ từ sau khi tái lập, tức là từ năm 1997. Do vị thế chính trị cũng
như vai trò kinh tế của tỉnh Phú Thọ đối với khu vực Đông Bắc bộ và Đồng bằng Sông
Hồng nên trong khi tái hiện quá trình Đảng bộ Phú Thọ lãnh đạo phát triển công nghiệp
địa phương, luận văn cũng sẽ phản ảnh các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà

lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương những năm 1997-2009 và làm rõ ý
nghĩa lịch sử, thực tiễn của kinh nghiệm đó, vận dụng vào quá trình đổi mới nền
công nghiệp đất nước.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3
chương chính:
Chương 1: Tổng quan về tỉnh Phú Thọ và chủ trương phát triển công nghiệp
địa phương Vĩnh Phú trước năm 1997.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo phát triển công nghiệp địa
phương từ năm 1997 đến năm 2009.
Chương 3: Một vài nhận xét và bài học kinh nghiệm

5


NỘI DUNG
Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ PHÚ THỌ VÀ CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG VĨNH PHÚ TRƯỚC NĂM 1997
1.1. Tổng quan về tỉnh Phú Thọ
1.1.1. Vị trí địa lý và lịch sử
Phú Thọ là vùng đất cổ có bề dày lịch sử truyền thống và văn hiến, thường được
cả nước biết đến với tên gọi thân thương: “quê hương đất Tổ”. Là một tỉnh miền núi,
nhưng địa hình Phú Thọ vừa có tính chất miền núi, trung du, vừa có tính chất đồng
bằng. Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ (sông Thao) đã chia Phú Thọ thành hai miền
có những đặc điểm khác nhau và hình thành địa hình mang ba tính chất trên.
Về địa giới hành chính: Phú Thọ nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô, trung tâm
của Bắc Bộ, trên đỉnh tam giác đồng bằng sông Hồng; phía Bắc giáp Tuyên Quang
và Yên Bái, phía Nam giáp Hà Tây và Hoà Bình, phía Tây giáp Sơn La và phía
Đông giáp Vĩnh Phúc.

em sinh sống, trong đó người Kinh chiếm đa số (1.1 triệu người). Toàn tỉnh có 12
huyện, thành, thị (thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 10 huyện: Thanh Sơn, Yên
Lập, Sông Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Hạ Hoà, Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm
Thao, Phù Ninh), 270 xã, phường, thị trấn.
Cho tới năm 2009, Phú Thọ có diện tích là 3532,5 ha (chiếm 1,2% diện tích
cả nước và chiếm 5,4% diện tích vùng trung du miền núi phía Bắc), dân số
1.316.659 người, với 13 đơn vị hành chính (thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 11
huyện: Thanh Sơn, Yên Lập, Sông Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Hạ Hoà, Thanh
Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh, Tân Sơn).
Xét về diện tích và dân số, Phú Thọ là tỉnh có quy mô đứng vào loại trung
bình so với cả nước
1.1.2. Nguồn lực phát triển công nghiệp địa phương
a. Tài nguyên thiên nhiên cho phát triển công nghiệp địa phương
- Điều kiện địa lý tự nhiên
Phú Thọ có tọa độ địa lý 20O55’ - 21O43’ vĩ độ Bắc, 104O48’ - 105O27’ kinh
độ Đông, phía Bắc giáp Tuyên Quang, phía Nam giáp Hòa Bình, phía Đông giáp
Vĩnh Phúc và Hà Tây, phía Tây giáp Sơn La và Yên Bái. Đất Tổ nằm ở vị trí tiếp
giáp giữa Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, là trung tâm tiểu vùng Tây
- Đông Bắc.
Với vị trí “ngã ba sông”, cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội và địa bàn
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cầu nối các tỉnh đồng bằng Sông Hồng với các
tỉnh miền núi Tây Bắc và Đông Bắc. Hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông từ
các tỉnh phía Tây Đông Bắc đều qui tụ về Phú Thọ đi Hà Nội, Hải Phòng.
7


Quốc lộ 70 xuất phát từ thị trấn Đoan Hùng đi Yên Bái - Lào Cai sang Vân
Nam - Trung Quốc, tuyến này đang được nâng cấp để trở thành con đường chiến
lược Hà Nội - Hải Phòng - Côn Minh (Trung Quốc) cũng tạo nhiều cơ hội cho Phú
Thọ phát triển. Quốc lộ 32A nối Hà Nội - Trung Hà - Sơn La, quốc lộ 32B Phú Thọ

- Về tài nguyên khoáng sản
Tính chất địa hình và cấu tạo địa chất đã tạo cho Phú Thọ khá nhiều khoáng
sản phân bố ở hầu khắp các huyện, nhưng tập trung ở các huyện phía hữu ngạn sông
Hồng. Nhìn chung, Phú Thọ không giàu về khoáng sản, nhưng lại có Cao lanh,
Fensphat, đá vôi, nước khoáng nóng là lợi thế để Phú Thọ phát triển công nghiệp
khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp gốm sứ, xi măng và vật liệu xây
dựng. Phú Thọ lại không xa các trung tâm công nghiệp lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Hải
Dương) nên việc mở rộng liên doanh liên kết với các địa phương trên để phát triển
công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản là rất thuận lợi và cần thiết. Tuy
nhiên phần lớn khoáng sản còn hiện nay đều phân bố ở khu vực phía Tây của tỉnh
(hữu ngạn sông Hồng) nơi đang có hạ tầng yếu kém, nhất là giao thông nên việc đẩy
mạnh khai thác trước mắt sẽ gặp nhiều khó khăn.
b. Các nguồn lực kinh tế -xã hội
- Nguồn nhân lực:
Theo thống kê sơ bộ, dân số Phú Thọ năm 2009 là 1.316.659 người. Mật độ
dân số 373 người/km2. Dân cư phân bố không đồng đều, thành phố Việt Trì có mật
độ dân cư đông nhất 1.664,9 người/km2, thấp nhất là ở huyện Tân Sơn là 110,4
người/km2, Yên Lập 186,2người/km2 và huyện Thanh Sơn 189 người/km2.
Cơ cấu dân số nông thôn và thành thị: dân số nông thôn chiếm 84,6%; dân số
thành thị chiếm 15,4%. Với tỷ lệ này mức độ đô thị hoá của Phú Thọ là thấp so với
trung bình cả nước (25%) và vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (gần 28%). Cơ cấu
dân số nam, nữ năm là 49,2 – 50,8%.
Năm 2005 lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân ước khoảng
675 nghìn người, chiếm 51,8% dân số của tỉnh. Số lao động đã qua đào tạo đạt
29,0%, trong đó có 17% là công nhân kỹ thuật.
Dự báo năm 2010 dân số của tỉnh khoảng 1.385 nghìn người và năm 2020
khoảng 1.479 nghìn người. Dân số trong độ tuổi lao động đến năm 2010 khoảng
820 nghìn lao động và năm 2020 có khoảng 880 nghìn lao động. Tốc độ tăng dân số
bình quân năm từ 2006 - 2010 khoảng 0,84%, thời kỳ 2011 -2020 khoảng 0,66%.
Toàn tỉnh có 1 trường đại học, 1 trường cao đẳng, 4 trường trung học chuyên nghiệp,

Nhìn chung mạng lưới giao thông của tỉnh (đường bộ, đường sắt, đường
thủy) được phân bố tương đối đều và hợp lý, thuận tiện cho việc lưu thông hàng
hóa, hành khách nội, ngoại tỉnh. Tuy nhiên chất lượng đường bộ còn thấp, công
trình thoát nước chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được tốc độ lưu thông cao và
phương tiện vận tải lớn.

10


Tình hình phát triển thông tin liên lạc:
Hạ tầng thông tin liên lạc của tỉnh phát triển tương đối nhanh, đến 2005 đạt
8,2 máy điện thoại/100 dân, so với năm 2000 tăng gần 5 lần, dịch vụ Internet, hộp
thư thoại... được triển khai rộng khắp trên địa bàn. Chất lượng thông tin liên lạc
ngày càng tốt hơn, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hết năm 2004 đã
phủ sóng mạng điện thoại di động đến tất cả các trung tâm huyện. 100% các cơ
quan, doanh nghiệp ở tỉnh và huyện được trang bị máy tính, một số cơ quan tổng
hợp đã được nối mạng nội bộ.
Hệ thống điện, nước
Đối với phát triển công nghiệp nói chung và công nghiệp địa phương nói
riêng, điện nước là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu. Phú Thọ đã và
đang đảm bảo tương đối tốt vấn đề này. Hiện tại hệ thống đường dây trung thế, hạ
thế, trạm biến áp các loại đang từng bước được cải tạo, nâng cấp, thay thế và xây
dựng mới. Đến năm 2004 đã có 100% xã có điện lưới quốc gia, điện năng cung cấp
đạt trên 500KWh/người/năm, tăng 31,9% so với năm 2000. Tuy nhiên lưới điện
nông thôn nhiều xã chưa đảm bảo kỹ thuật, tiêu hao điện năng còn cao, đã ảnh
hưởng đến việc cấp điện vì thường xuyên xảy ra sự cố mất điện làm cho giá điện
sinh hoạt ở nông thôn còn cao
- Hệ thống chính sách phát triển kinh tế công nghiệp địa phương của Đảng,
Nhà nước và chính quyền tỉnh
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên

công nghiệp hoá chất Lâm Thao, giấy Bãi Bằng… đã tạo cho Phú Thọ một diện
mạo mới, là điều kiện giúp cho tỉnh phát triển nhanh về kinh tế- xã hội.
Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tỉnh đã ban hành hệ
thống chính sách ưu đãi đầu tư, đồng thời quy định rõ việc thực hiện cơ chế một cửa,
giải quyết các vấn đề liên quan; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn cao về làm việc tại Phú
Thọ… đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp trong tỉnh. Trong những năm gần đây,
xuất phát từ việc nhận thức vai trò của các ngành nghề thủ công truyền thống và
thực hiện chủ trương của Trung ương, Đảng bộ tỉnh đã đưa ra nhiều biện pháp
nhằm khôi phục lại các làng nghề, phát triển tiểu thủ công nghiệp, góp phần làm
thay đổi cơ cấu ngành công nghiệp địa phương.
Tóm lại, với vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên tương đối đầy đủ, nguồn
nhân lực dồi dào, hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng đang dần được hoàn
thiện… Phú Thọ có được những điều kiện thuận lợi để phát triển một nền công

12


nghiệp hiện đại. Nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh là làm thế nào để lãnh đạo phát triển
công nghiệp địa phương cho tương xứng với tiềm năng hiện có, nhanh chóng hội
nhập vào cơ chế thị trường, vươn lên ngang tầm với cả nước và khu vực.
1.2. Tình hình phát triển công nghiệp địa phương Vĩnh Phú trước năm 1997
Từ ngày 26/1/1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra Quyết định số 504 hợp
nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành Vĩnh Phú. Công nghiệp địa phương của
các vùng thuộc tỉnh Phú Thọ, từ đây, được sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Phú.
1.2.1. Công nghiệp địa phương Vĩnh Phú trước 1986
Vĩnh Phú là một địa phương có công nghiệp phát triển tương đối sớm so với
các tỉnh miền núi – trung du phía Bắc: từ những năm 60 của thế kỷ XX đã hình
thành khu công nghiệp Việt Trì với các nhà máy xay xát, bê tông, điện đường, giấy,
hoá chất, thuốc trừ sâu cùng các cụm công nghiệp hoá chất- Supe Phốt phát Lâm

suất lao động và chất lượng sản phẩm, tháng 10 năm 1977, Tỉnh đã tổ chức Hội
nghị chuyên đề bàn về nhiệm vụ phát triển công nghiệp địa phương, thực hiện chỉ
đạo sát sao các nhà máy, xí nghiệp do tỉnh quản lý. Do đó, nhiều nhà máy, xí nghiệp
đã chú ý thay đổi, cải tiến công tác quản lý, đi sâu vào định mức kinh tế- kỹ thuật,
lo chạy nguyên-vật liệu ổn định kế hoạch sản xuất, bước đầu áp dụng phương thức
khoán sản phẩm và tiền thưởng để khuyến khích sản xuất, tiết kiệm vật tư, nguyên
liệu, chú trọng đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tay nghề cho
công nhân.
Năm 1976, trong tỉnh đã hình thành 6 khu công nghiệp tập trung, lớn nhất là
khu công nghiệp Việt Trì. Ngoài công nghiệp nhẹ, công nghiệp hoá chất, công
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đều có sự phát triển. Giá trị sản lượng công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng 34 % so với năm 1973, chất lượng hàng hoá đã
được cải tiến rõ rệt [45,74].
Năm 1977, trên địa bàn Phú Thọ có 57 nhà máy, xí nghiệp Trung ương và địa
phương, trong đó có 35 xí nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý, chiếm 61,4%
tổng số xí nghiệp trên địa bàn tỉnh. Các cơ sở sản xuất công nghiệp của tỉnh chủ yếu
là các ngành chế biến nông- lâm sản, thực phẩm sử dụng nguyên liệu tại địa phương.
Ngoài ra còn có những cơ sở công nghiệp hoá chất, cơ khí phục vụ nông nghiệp và
khu công nghiệp nhẹ, các xí nghiệp công nghiệp khai thác, sản xuất vật liệu xây
dựng… Còn lại, các mặt hàng có sản phẩm lớn, kỹ thuật cao đều do các xí nghiệp
Trung ương phụ trách như chế biến chè, đường, sản xuất phân bón, hoá chất…
Thực hiện Nghi quyết Trung ương 6 (khoá VI), dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ
tỉnh việc kết hợp giữa công nghiệp Trung ương và công nghiệp địa phương, giữa
công nghiệp quốc doanh và thủ công nghiệp chuyên nghiệp, thủ công nghiệp trong

14


nông nghiệp có nhiều chuyển biến. Việc tìm nguyên liệu bổ sung, tận dụng phế liệu,
phế phẩm và làm thêm mặt hàng mới ngày càng tiến bộ, đưa giá trị tổng sản lượng

15


Sản xuất công nghiệp địa phương khối quốc doanh bước đầu chuyển dịch
theo hướng tích cực: các cơ sở tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là cải tiến nông cụ
phục vụ nông nghiệp đồng thời đẩy mạnh khai thác, chế biến nông- lâm sản tại chỗ;
giữ vững các mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của tỉnh như: chè, hàng may mặc, sơn
mài… Giá trị tổng sản công nghiệp địa phương đạt 72.71 triệu đồng (bằng 104.7%
kế hoạch năm), tăng 7.2% so với năm 1984. Trong đó, công nghiệp quốc doanh địa
phương đạt 36.4 triệu đồng bằng 105.7% kế hoạch [3, 4].
Điều đáng chú ý trong tổ chức quản lý công nghiệp ở địa phương là việc cải
tiến công tác quản lý. Nhà máy giấy Lửa Việt là đơn vị đột phá thực hiện thí điểm
bù giá vào lương, xóa bỏ bao cấp nhà nước. Các đơn vị khác như xí nghiệp ép dầu
Ngoại Trạch, nhà máy rượu Đồng Xuân cũng tiếp tục thực hiện đạt hiệu quả rõ
rệt…Đặc biệt, nhà máy rượu Đồng Xuân thuộc ty công nghiệp quản lý là lá cờ đầu
của ngành công nghiệp địa phương, nhiều năm liên tục hoàn thành và vượt chỉ tiêu
kế hoạch nhà nước giao….
Không hề chậm trễ Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phú đã đi cùng hướng đi chung
của đất nước. Công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh được chú trọng đầu tư để tạo
nguồn hàng xuất khẩu. Năm 1985, tổng ngoại tệ giao hàng xuất khẩu trên toàn tỉnh là
7.4 triệu rúp- đô-la. Riêng hàng xuất khẩu địa phương đạt 2.61 triệu đô-la. Một số
mặt hàng xuất khẩu chủ lực giao đạt và vượt kế hoạch là: sơn, đay tơ, chè… Do đó
tích luỹ được 340 triệu đồng cho ngân sách, vượt kế hoạch được giao [3, 11].
Sau hơn 25 năm phát triển nhất là trải qua 10 năm phát triển trong điều kiện
hoà bình, thống nhất, công nghiệp Vĩnh Phú đã phát triển khá toàn diện về cả cơ cấu
ngành nghề và giá trị sản lượng. Công nghiệp Trung ương phân bố trên địa bàn tỉnh
đã hỗ trợ đắc lực cho công nghiệp địa phương, góp phần tăng cường cơ sở vật chất,
năng lực sản xuất cho công nghiệp địa phương, tạo nên động lực thúc đẩy các ngành
kinh tế khác trong tỉnh cùng phát triển, góp phần tạo nên một cơ cấu kinh tế nôngcông- lâm nghiệp tương đối phù hợp, cân đối, góp phần tăng nguồn thu ngân sách,
tích luỹ cho tỉnh, giải quyết việc làm, ổn định, nâng cao đời sống nhân dân. Đây

với năm 1985. Trong đó, công nghiệp quốc doanh đạt 389.7 tỉ đồng, tăng 4.3% so
với năm 1985, có 27/59 loại sản phẩm chủ yếu của công nghiệp địa phương đạt và
vượt kế hoạch [4]. Những con số này đã thể hiện bước tiến của công nghiệp địa
phương trong việc phục vụ nông nghiệp và xây dựng. Nhiều xí nghiệp, hợp tác xã
đã thực hiện việc sắp xếp lại tổ chức, bố trí lại dây chuyền sản xuất, tinh giảm biên
chế lao động gián tiếp, chú ý tới hiệu quả thiết thực của sản xuất kinh doanh [6].

17


Đồng thời, Tỉnh uỷ chỉ đạo sát sao duy trì, tổ chức thực hiện việc liên kết sản
xuất với các xí nghiệp Trung ương tại địa phương một cách hiệu quả. Năm 1986,
tỉnh Vĩnh Phú đã tiến hành liên kết sản xuất với 9 xí nghiệp Trung ương, 3 xí
nghiệp quốc phòng. Tổng giá trị hàng hoá liên kết đạt 761.589 triệu đồng, tăng
212% so với năm 1985. Liên kết kinh tế đã giúp các nhà máy tận dụng thiết bị, sử
dụng hợp lý sức lao động, tăng sản phẩm xã hội, tích luỹ cho ngân sách tỉnh, tăng
thu nhập cho người lao động. Quan trọng nhất, liên kết kinh tế đã tạo ra sự ổn định
cho sản xuất công nghiệp. Lợi ích giữa Trung ương -địa phương và các xí nghiệp
được giải quyết hài hoà; hiệu quả liên kết các xí nghiệp Trung ương và các xí
nghiệp địa phương đã đem lại tích luỹ cho tỉnh khoảng 200 triệu đồng.
Sang năm 1987, công nghiệp địa phương phát triển chậm lại do mất cân đối
về vật tư, năng lượng; thiếu nguyên –nhiên liệu, sản xuất không đồng bộ… Cơ chế
cũ còn bị ràng buộc chưa bị xoá bỏ, cơ chế mới chưa được cụ thể hoá... Trong khi
công nghiệp quốc doanh Trung ương có sự giảm sút: chỉ đạt 91.7% kế hoạch năm,
giảm 0.5% so với năm 1986, thì sản xuất công nghiệp địa phương vẫn giữ được sự
phát triển ổn định. Một số xí nghiệp quốc doanh đã chuyển hướng sản xuất, gắn sản
xuất với vùng nguyên liệu. Nhiều nhà máy, xí nghiệp đã nhanh chóng nắm bắt cơ
chế quản lý kinh tế mới, phấn đấu duy trì, phát triển sản xuất, kinh doanh có lãi đảm
bảo việc làm cho người lao động [11, tr.3].
Phát huy tính chủ động trong việc liên doanh, liên kết giữa các xí nghiệp

và chương trình xuất khẩu để tạo thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Đẩy nhanh sản xuất
những mặt hàng có thế mạnh tạo điều kiện trao đổi với tỉnh bạn và xuất khẩu nhằm
tập trung phục vụ nhu cầu ăn mặc, đi lại, học hành… của nhân dân, sử dụng hợp lý
cơ cấu thành phần kinh tế… cố gắng tạo ra một số mặt hàng mũi nhọn có khối
lượng khá, chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh được với thị trường trong nước
và một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị ổn định. Thực hiện đa dạng hoá mặt hàng
để khai thác hết tiềm năng lao động, nguyên liệu và cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra
nhiều chủng loại hàng hoá phong phú đáp ứng nhu cầu của thị trường và nâng cao
hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp.
Thực hiện các nghị quyết của tỉnh, công tác tổ chức quản lý lại sản xuất bước
đầu có chuyển biến, đem lại kết quả khá quan trọng. Giá trị sản lượng công nghiệp
năm 1988 đạt 950 triệu đồng bằng 102% kế hoạch năm, tăng 9.6% so với năm 1987.
Thực hiện nhiệm vụ phát triển sản xuất công nghiệp địa phương theo tinh thần chỉ
đạo của quyết đinh 217-QĐ/HĐBT; Nghị định 27, 28, 29 và Chỉ thị 118 của Hội
đồng Bộ trưởng mà trọng tâm là công tác đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nâng cao
sự chủ động, hạch toán kinh doanh của các nhà máy, xí nghiệp, Đảng bộ tỉnh đã

19


nhanh chóng đề ra biện pháp lãnh đạo thích hợp. Dưới sự lãnh đạo đó, các nhà máy,
xí nghiệp công nghiệp trong tỉnh đã bước đầu đổi mới cơ chế quản lý, sắp xếp, bố
trí lại lao động, giảm các phòng ban chức năng, giảm tỉ lệ lao động gián tiếp từ 12%
xuống còn 10%; thực hiện chế độ hợp đồng lao động nhằm nâng cao tinh thần, trách
nhiệm của người sản xuất. Nhờ đó, thu nhập của công nhân đã được ổn định từ 1330 nghìn đồng/người/tháng, đồng thời đã thành lập thêm được 100 tổ hợp mới, giải
quyết vật liệu cho 1000 lao động. Hầu hết các ngành sản xuất đều đi vào ổn định,
từng bước có sự tăng trưởng.
Trong sản xuất, các xí nghiệp đã bước đầu chú ý tới vấn đề thị trường, tiêu
thụ sản phẩm; sản xuất theo nhu cầu của thị trường và thực hiện dịch vụ đưa sản
phẩm đến tay người tiêu dùng. Một số xí nghiệp còn tiến hành bảo hành đối với sản

vật tư, lo vật liệu, nguồn vốn, thực hiện liên kết liên doanh đã được các nhà máy, xí
nghiệp chú ý đẩy mạnh… Do đó, tăng sức sản xuất hơn so với năm 1987. Tuy nhiên,
việc đổi mới cơ chế quản lý mới được thực hiện bước đầu, công tác chỉ đạo còn
thiếu đồng bộ nên các nhà máy xí nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, nhất là về vốn và
vật tư. Bên cạnh đó, chức năng quản lý kinh tế đối với các ngành, huyện chưa có
nhiều chuyển biến rõ rệt. Do vậy, công nghiệp địa phương phát triển nhưng chưa
vững chắc, giá thành cao, hiệu quả kinh tế còn thấp, nhất là ở những xí nghiệp mới
bắt đầu thực hiện theo Quyết định 217 và Chỉ thị 118 của Hội đồng Bộ trưởng.
Năm 1989, kinh tế Vĩnh Phú gặp nhiều khó khăn do nguồn vốn, vật tư,
nguyên liệu thiếu, kinh tế quốc doanh hầu như không đạt kế hoạch. Việc khôi phục
sản xuất và kinh doanh còn chậm. Sản xuất công nghiệp địa phương của tất cả các
thành phần kinh tế giảm 10%, trong đó, các xí nghiệp quốc doanh giảm 15%
[38,167]. Nhiều xí nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn như xí nghiệp chế biến thực
phẩm Phú Thọ, Nhà máy giấy Lửa Việt… Nhiều xí nghiệp sản xuất cầm chừng
hoặc cho công nghiệp nghỉ hưởng 70% lương.
Khối công nghiệp địa phương (chủ yếu là các ngành công nghiệp nhóm Bcông nghiệp nhẹ) cũng phát triển nhanh hơn khối công nghiệp Trung ương: 28,2%
so với -8,9% (năm 1988), trong sản xuất công nghiệp địa phương công nghiệp
nhóm B cũng phát triển nhanh hơn nhóm A với các ngành công nghiệp chế biến
nông- lâm sản, công nghiệp gia công, dệt, may mặc… là những mặt hàng mà tỉnh có
nguồn nguyên liệu phong phú cộng với nhân lực đông đảo. Các ngành công nghiệp
nhóm A như cơ khí chế tạo máy, hoá chất, luyện kim chưa được đầu tư. Chính vì
vậy, trong nhiều năm, công nghiệp tỉnh còn mất cân đối trong cơ cấu ngành, sự
chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra còn chậm, ít hiệu quả.
Mặt khác, sự chuyển dịch trong khối công nghiệp Trung ương và địa phương
còn chưa được đẩy mạnh, thiếu sự gắn kết phối hợp chặt chẽ, công nghiệp địa
21


phương quy mô còn nhỏ bé, phân tán, chưa trở thành động lực thúc đẩy sự phát
triển của các ngành kinh tế khác. Cơ cấu thành phần kinh tế còn chưa hợp lý: thành

22


việc thành lập doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định 338 của Hội đồng Bộ trưởng
nhằm ổn định việc tổ chức sản xuất ở các doanh nghiệp. Đồng thời, tranh thủ mọi
nguồn vốn và các hình thức hợp tác, liên doanh sản xuất, kể cả nguồn vốn nước
ngoài có thể huy động được để đầu tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệ, tăng năng
lực sản xuất, hướng đầu tư trong mỗi xí nghiệp; giảm mạnh đầu tư cho các công
trình kiến trúc, nhà xưởng; tăng thiết bị, vốn lưu động để quay vòng vốn, nâng cao
hiệu quả sản xuất. Trong đầu tư phát triển công nghiệp, đảm bảo đúng theo bốn mục
tiêu mũi nhọn đã được xác định để sớm tạo ra sức bật mới cho công nghiệp địa
phương, phấn đấu để thực hiện xóa bỏ bao cấp cho các xí nghiệp quốc doanh dưới
mọi hình thức.
Nhằm đảm bảo cho sản xuất ổn định trước những biến động của tình hình
trong nước và thế giới, Tỉnh đã chú trọng chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các quan hệ
liên kết kinh tế và dịch vụ đầu vào, đầu ra cho các xí nghiệp trên cơ sở đảm bảo
hiệu quả, lợi ích chung, bình đẳng, tạo nên sự phát triển thống nhất theo ngành,
nhóm sản phẩm, bổ sung, hỗ trợ cho nhau để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi
thế có sẵn của mỗi bên. Đồng thời, Tỉnh cũng đã tạo điều kiện, môi trường thuận lợi
để khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát huy hết khả năng
của mình, góp phần giải quyết việc làm, tăng nguồn thu ngân sách.
Nhờ có sự điều chỉnh kịp thời về công tác tổ chức quản lý cùng với sự chỉ
đạo sát sao, kịp thời của lãnh đạo tỉnh đối với sản xuất công nghiệp địa phương, nên
mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do tác động của thị trường nhưng công nghiệp tỉnh
Vĩnh Phú vẫn duy trì được ổn định và có bước phát triển tương đối. Tính đến
1/7/1993, toàn tỉnh có 13.135 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó, có 46 cơ sở
quốc doanh và 13.089 cơ sở ngoài quốc doanh, thu hút 36.497 lao động [18]. Giá trị
tổng sản lượng công nghiệp trong toàn tỉnh đạt 282,3 tỉ đồng (1991); 302,4 tỉ đồng
(1992) (giá 1989) [36], nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 4,3%.
Tính chung ba năm 1991- 1993, tốc độ phát triển công nghiệp bình quân đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status