Đảng bộ tỉnh hải dương lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực tu nam 1997 den nam 2009 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HÀ THỊ HỒNG YẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HÀ THỊ HỒNG YẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2009

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:

60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ VĂN THAI

lực tỉnh Hải Dương trước ngày tái lập tỉnh .............................................................. 8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ........................................................................... 8
1.1.2. Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Hải Dương ............................................................ 15
1.2. Đảng bộ tỉnh Hải Dương vận dụng chủ trương của Trung ương Đảng lãnh đạo phát
triển nguồn nhân lực trong những năm 1997- 2000............................................... 22
1.2.1. Chủ trương của phát triển nguồn nhân lực của Đảng Cộng sản Việt Nam ............. 22
1.2.2. Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh Hải
Dương .................................................................................................................... 24
Chƣơng 2. ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG TĂNG CƢỜNG LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NHỮNG NĂM 20012009........................................................................................................................ 39
2.1. Thời kì mới đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực tỉnh Hải Dương ............................. 39
2.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước ............................................................................... 39
2.1.2. Điều kiện mới của tỉnh Hải Dương.......................................................................... 43
2.2. Chủ trương và biện pháp phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh Hải Dương .......... 46
2.2.1. Chủ trương phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ...................................... 46
2.2.2. Đảng bộ tỉnh Hải Dương chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực ................................... 53
Chƣơng 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP ........................................................... 103
3.1. Một số nhận xét................................................................................................................ 103
3.1.1. Hải Dương đã hoàn thành về cơ bản các mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ...... 103
3.1.2. Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã thực hiện tốt vai trò lãnh đạo trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực ............................................................. 105
3.1.3. Trong quá trình thực hiện công tác phát triển NNL, bên cạnh những thành tựu
tỉnh Hải Dương vẫn còn những tồn tại, hạn chế .................................................. 107
3.2. Một số giải pháp tiếp tục phát triển nguồn nhân lực ....................................................... 110
3.2.1. Nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của nguồn nhân lực trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ...................................................................................... 110
3.2.2. Đổi mới và phát triển toàn diện nghiệp giáo dục và đào tạo nhằm phát huy và
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ................................................................... 112
3


Nguồn nhân lực

TDTT:

Thể dục thể thao

THCS:

Trung học cơ sở

THPT:

Trung học phổ thông

XHH:

Xã hội hóa

XHHGD:

Xã hội hóa giáo dục

5


6


MỞ ĐẦU


và thế mạnh cho phát triển KTXH. Tuy nhiên những điều kiện khách quan đó
có được khai thác và sử dụng hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào nhân
tố chủ quan là nguồn lực con người Hải Dương. Xác định rõ tầm quan trọng
của NNL, ngay từ Đại hội Đảng bộ đầu tiên sau ngày tái lập, Đảng bộ tỉnh
Hải Dương đã rất chú trọng đến phát triển NNL, coi đây là một trong những
định hướng lớn của chiến lược phát triển KTXH. Công tác phát triển NNL đã
được triển khai rộng khắp và đạt những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên,
nhiều vấn đề đang đặt ra đối với công tác phát triển NNL đòi hỏi phải có sự
tổng kết quá trình Đảng bộ Hải Dương lãnh đạo thực hiện phát triển NNL
nhằm đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế đồng thời đúc
kết những kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chủ trương, giải pháp chỉ đạo
thực hiện phát triển NNL nói riêng và phát triển KTXH nói chung.
Với những lí do đó, tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh
đạo phát triển NNL từ năm 1997 đến năm 2009” làm Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một trong những vấn đề nổi cộm đầu thế kỉ XXI được thế giới quan
tâm là vấn đề NNL. Ở nước ta, phát triển NNL cũng được Đảng, Nhà nước,
nhiều cơ quan, cán bộ nghiên cứu cũng như toàn xã hội đặc biệt quan tâm.
Đến nay, chúng ta có thể chỉ ra những công trình khoa học tiêu biểu theo các
nhóm sau:
Nhóm các đề tài nghiên cứu khoa học và các cuốn sách viết về vấn đề
này như: “Con người và nguồn lực con người trong phát triển” (1995) của
Viện thông tin khoa học xã hội, “Nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (1999) của Mai Quốc Chánh - Nxb
Chính trị quốc gia, “Phát triển NNL phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước” (2005) của Nguyễn Thanh - Nxb. Chính trị quốc gia…

8


9


thực hiện phát triển NNL của Tỉnh và các huyện; Sở Giáo dục và Đào tạo,
Cục Thống kê Tỉnh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ…
Những công trình nghiên cứu, những tổng kết nêu trên là những nguồn
tài liệu quý báu, là cơ sở để tác giả kế thừa, tiếp tục nghiên cứu.Tuy vậy, cho
đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện
về chủ trương phát triển NNL của tỉnh Hải Dương trong thời kì CNH, HĐH.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự vận
dụng của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong công tác phát triển NNL.
- Làm sáng tỏ vai trò của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong quá trình chỉ
đạo thực hiện phát triển NNL.
- Đúc kết kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo
phát triển NNL trong thời gian từ 1997- 2009.
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Với những mục tiêu trên, luận văn thực hiện
những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu:
- Khái quát tình hình KTXH của Tỉnh và phản ánh thực trạng NNL của
Hải Dương sau ngày tái lập tỉnh.
- Hệ thống hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam và Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển NNL.
- Trình bày quá trình chỉ đạo thực hiện và kết quả thực hiện phát triển
NNL trong những năm 1997- 2009.
- Trình bày một số giải pháp để nâng cao chất lượng NNL của Tỉnh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu chủ trương của Đảng
bộ tỉnh Hải Dương và quá trình tổ chức thực hiện phát triển NNL.


Luận văn được thực hiện trên cơ sở lí luận, phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử; cơ sở lí luận chung của Chủ nghĩa Mác-Lênin,
11


tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người; các quan điểm và đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước về con người, nhân tố con người và nguồn
lực con người.
* Phương pháp nghiên cứu: Để xem xét vấn đề NNL và phát triển
NNL một cách khách quan, sát thực tiễn, luận văn đã kết hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu như:
Phương pháp lịch sử, lôgic để làm sáng tỏ đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam và sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong lãnh đạo
phát triển NNL.
Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, xử lí số liệu để
làm rõ những thành tựu, hạn chế, lí giải nguyên nhân và đề xuất những giải
pháp nâng cao chất lượng NNL của Tỉnh.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hoá quan điểm, chủ trương chính sách
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển NNL.
- Trình bày có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo tổ
chức thực phát triển NNL trong thời gian 1997- 2009.
- Từ những kết quả nghiên cứu, luận văn đã nêu ra một số giải pháp
tiếp tục phát triển NNL của Tỉnh.
- Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm
phong phú thêm tài liệu tham khảo cho giảng dạy một số chuyên đề Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam về khía cạnh con người như giải quyết các vấn đề
xã hội, nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
- Luận văn góp phần cung cấp một tài liệu tham khảo cho việc tổng kết,
xây dựng, hoạch định giải pháp phát triển NNL trong thời kì CNH, HĐH ở

Trần có tên là Nam Sách Lộ, Hồng Lộ rồi Hồng Châu, Nam Sách Châu vào
cuối thế kỉ XIV. Năm 1831, tỉnh Hải Dương chính thức được thành lập với
tên gọi là tỉnh Đông bao gồm:
Phủ Thượng Hồng gồm Đường Hào, Dương Yên, Cẩm Giàng, Thanh
Miện, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo.
Phủ Nam Sách gồm Nam Sách, Chí Linh, Thanh Hà, Tiên Lãng.
Phủ Kinh Môn gồm Giáp Sơn, Đông Triều, Thủy Đường, An Lão,
Nghi Dương, Kim Thành, An Dương.
Năm 1887, huyện An Dương, An Lão và một phần Thủy Đường được
tách ra thành lập tỉnh Hải Phòng. Năm 1889, cắt tất cả Thủy Đường và năm
1893 cắt huyện Tiên Lãng cùng một phần huyện Kim Thành, Kinh Môn về
Hải Phòng. Năm 1947, các huyện Đông Triều, Chí Linh, Nam Sách, Kinh
Môn chuyển về tỉnh Hồng Quảng.
Từ năm 1960, Hải Dương được thành lập.

14


Tháng 3 năm 1968, theo Nghị quyết số 504/NQ - TVQH của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, tỉnh Hải Dương hợp nhất với Hưng Yên thành tỉnh Hải
Hưng. Toàn Tỉnh có 20 huyện và 2 thị xã.
Tháng 1 năm 1997, Hải Hưng tách thành 2 tỉnh là Hải Dương và Hưng
Yên. Hải Dương ngày nay bao gồm các huyện: Ninh Giang, Tứ Kỳ, Gia Lộc,
Thanh Miện, Bình Giang, Cẩm Giàng, Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành,
Thanh Hà, Chí Linh, Thành phố Hải Dương.
Hải Dương nằm ở phía Đông đồng bằng Bắc Bộ ở vào 20043’ đến
21014’ độ vĩ bắc và 106003’ đến 106038’ độ kinh đông, tiếp giáp với 6 tỉnh là
Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thành phố Hải Phòng, Thái Bình và
Hưng Yên.
Trong số những tỉnh nằm ở trung tâm của đồng bằng châu thổ Sông

sông Thái Bình, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với hệ thống cây trồng đa
dạng bao gồm các cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả đặc biệt là cây trồng
vụ đông. Mạng lưới sông ngòi lớn nhất so với các tỉnh trong Đồng bằng sông
Hồng có khả năng bồi đắp phù sa cho đồng bằng của Tỉnh. Bên cạnh ngành
trồng trọt, Hải Dương còn là tỉnh có điệu kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi
với đàn gia súc phong phú như: trâu, bò, dê, lợn... Cùng với hệ thống sông ngòi
dày đặc nên nghề nuôi cá nước ngọt đang ngày càng phát triển.
Hải Dương có nhiều loại khoáng sản trong đó có nhiều khoáng sản với
trữ lượng khá cho phát triển các ngành công ngiệp như đá vôi xi măng với trữ
lượng 200 triệu tấn cho phép sản xuất 4 đến 5 triệu tấn xi măng một năm; cao
lanh với trữ lượng 400.000 tấn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất đồ sứ; đất
sét chịu lửa; bô xít với trữ lượng 200.000 tấn.
Ngành công nghiệp của Tỉnh đang trên đà phát triển với tốc độ nhanh,
có nhiều nhà máy nổi tiếng toàn quốc như: Nhà máy sứ Hải Dương, nhà máy
chế tạo đá mài, nhà máy chế tạo bơm... có những nhà máy hiện đại như xi
măng Hoàng Thạch, nhiệt điện Phả Lại, chế tạo ô tô FORD...
Bên cạnh những tiềm năng công nghiệp và nông nghiệp, Hải Dương
còn có tiềm năng to lớn để phát triển ngành du lịch, dịch vụ. Toàn tỉnh có
1.097 di tích lịch sử trong đó có 97 di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Tiêu
16


biểu là khu di tích thắng cảnh Côn Sơn - Kiếp Bạc; đền thờ Chu Văn An, Văn
miếu Mao Điền...
Hải Dương là tỉnh có dân số đông. Theo điều tra dân số năm 2008, Hải
Dương có 1.723.319 người với mật độ 1.044,26 người/km2. Trong đó dân số
nông thôn chiếm 86%, dân số thành thị là 14%. Trên địa bàn Tỉnh có 10 dân
tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 1.646.426 người, chiếm 95,54%; các dân
tộc thiểu số như dân tộc Sán Dìu có 1.516 người, chiếm 0,09%; dân tộc Tày
có 469 người, chiếm 0,028%; dân tộc Nùng có 75 người, chiếm 0,0045%; dân

“nhân kiệt”, những anh hùng, những danh nhân tiêu biểu cho truyền thống
văn hóa lịch sử của dân tộc qua các thời đại như Thiện Nhân, Thiện Khánh,
Khúc Thừa Dụ, Chu Văn An, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Trần Khắc Chung,
Ngô Bệ, Nguyễn Hữu cầu, Đốc Tít, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Lương Bằng...
Hải Dương còn là đất học, đất khoa bảng. Đây là vùng đất đứng đầu về
tiến sĩ nho học của cả nước với 472 người trong đó có 11 trạng nguyên. Trong
gần 1000 năm đào tạo và tuyển chọn nhân tài từ khoa thi đầu tiên đến khoa thi
cuối cùng (1075 - 1919) của giáo dục Nho học, Việt Nam có khoảng 3000
tiến sĩ và học vị tương đương. Xét trên địa bàn Hải Dương, số tiến sĩ chiếm
17% cả nước. Làng Mộ Trạch (Bình Giang) được mệnh danh là “làng tiến sĩ”
với 39 tiến sĩ dưới các triều đại phong kiến Việt Nam. Văn miếu Mao Điền là
một minh chứng cho truyền thống hiếu học của người dân Xứ Đông. Nhiều
tiến sĩ nho học của Hải Dương là những tác giả nổi tiếng để lại cho ngày nay
hàng trăm những tác phẩm có giá trị trên các lĩnh vực như chính trị, quân sự,
khoa học, văn hóa, ngoại giao như Tuệ Tĩnh, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh,
Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Vũ Hữu, Nguyễn Dữ... Hải Dương cũng là
quê hương của nữ tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử của Việt Nam - tiến sĩ Nguyễn
Thị Duệ. Truyền thống hiếu học là hành trang, là niềm tự hào, là cội nguồn
tạo nên sức sống mãnh liệt, sức bật mạnh mẽ của mảnh đất này để không
ngừng nâng cao chất lượng NNL, xây dựng đất nước hôm nay.
Những con người của Hải Dương luôn tự hào về những truyền thống
văn hóa tốt đẹp của mảnh đất “địa linh, nhân kiệt”, nơi “ánh mặt trời tỏa
18


sáng miền duyên hải” và nỗ lực không ngừng, khẳng định vị thế bằng những
“bước chân Thánh Gióng” [77, tr.146] trong công cuộc xây dựng và phát
triển KTXH.
Truyền thống đó đã được phát huy mạnh mẽ khi Đảng ra đời lãnh đạo
cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến giành độc lập cho dân tộc và tự do,

sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương, nền kimh tế xã hội của Tỉnh sau gần
một năm tái lập thực sự có những chuyển biến rõ rệt và thu được nhiều kết
quả đáng ghi nhận: Nhìn tổng quát nền kinh tế Hải Dương phát triển với nhịp
độ cao gắn với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng thu nhập dân cư.
So với năm 1996, tổng sản phẩm GDP tăng 12,5%; sản xuất nông, lâm nghiệp
tăng 6,5%; công nghiệp, xây dựng tăng 12%; cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp
- công nghiệp, xây dựng - dịch vụ tiếp tục chuyển dịch hợp lí 36% - 34% 30% [62, tr.26].
Về sản xuất nông nghiệp: phát triển tương đối toàn diện, trồng trọt tăng
6,3%; chăn nuôi tăng 6,8%. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, kinh tế
nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa.
Về sản xuất công nghiệp: có tốc độ tăng cao, khu vực công nghiệp
Trung ương tăng 15,6%; quốc doanh địa phương tăng 17,45%; ngoài quốc
doanh tăng 110%.
Về thương nghiệp, dịch vụ: tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội
tăng 15%. Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 1997 tăng 28% so với năm 1996.
Sự ổn định và từng bước phát triển về kinh tế đã tác động không nhỏ về
mặt xã hội. Các lĩnh vực như văn hóa, giáo dục cũng có những chuyển biến
tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, sự nghiệp giáo dục phát
triển cả về chất lượng chuyên môn cũng như cơ sở vật chất, các chương trình
chăm sóc sức khỏe cộng đồng được triển khai có hiệu quả, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình có nhiều tiến bộ. Đồng thời cũng đòi hỏi một lực lượng
lao động không ngừng phát triển về chất lượng và hợp lí về số lượng để đáp
ứng cho nhu cầu phát triển của Tỉnh.

20


1.1.2. Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Hải Dương


Khái niệm nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực


yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần. Bộ y tế
quy định ba loại đó là: thể lực tốt (không có bệnh tật gì); trung bình và yếu
(không có khả năng lao động).
Bên cạnh việc đánh giá trạng thái sức khỏe của người lao động người ta
còn nêu ra các chỉ tiêu đánh giá sức khỏe của quốc gia thông qua: tỷ lệ sinh
thô, chết thô, tỷ lệ tăng tự nhiên; tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5
tuổi; tỷ lệ sinh thấp cân của trẻ em; tỷ lệ dừng mức sinh; tuổi thọ trung bình;
cơ cấu giới tính, tuổi tác...
Thứ hai, chỉ tiêu biểu hiện trình độ học vấn của người lao động: là sự
hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông tự nhiên và
xã hội. Trình độ học vấn được biểu hiện thông qua các tỷ lệ như: số lượng
người biết chữ và chưa biết chữ; số người có trình độ tiểu học; số người có
trình độ THCS; số người có trình độ THPT; số người có trình độ đại học và
trên đại học...
Thứ ba, chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao
động: là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, biểu hiện
trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại
học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lí một công việc thuộc một
chuyên môn nhất định. Trình độ chuyên môn của NNL được đo bằng: tỷ lệ
cán bộ trung cấp; tỷ lệ cán bộ cao đẳng, đại học; tỷ lệ cán bộ trên đại học...
Thứ tư, chỉ số phát triển con người. Chỉ số này được tính bởi ba chỉ tiêu
chủ yếu là tuổi thọ bình quân; thu nhập bình quân đầu người (GDP/người);
trình độ học vấn (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học trung bình của dân cư).
Ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hóa được người ta còn xem xét chỉ
tiêu năng lực phẩm chất của người lao động như truyền thống dân tộc bảo vệ
tổ quốc; truyền thống văn hóa, văn minh dân tộc; phong tục tập quán, lối
sống; ý thức nghề nghiệp...
Trước đây NNL thường được hiểu một cách đơn giản, đó chỉ là sức
người với sự kết hợp giữa thể lực và trí lực của họ. Trong điều kiện kinh tế thị

với nhu cầu về nhân lực, phục vụ sự nghiệp phát triển KTXH. Do vậy, phát
triển NNL bao gồm tất cả các lĩnh vực từ nâng cao chất lượng dân số, giáo

23


dục đào tạo, đảm bảo sức khỏe tới dạy nghề, tạo việc làm, quản lí và sử dụng
có hiệu quả nhân lực.
Như vậy, phát triển NNL là quá trình biến đổi của NNL nhằm phát huy,
khơi dậy những tiềm năng con người; là phát triển toàn bộ nhân cách và từng
bộ phận trong cấu trúc nhân cách; phát triển cả năng lực vật chất và tinh thần;
tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, cả tâm
hồn và hành vi từ trình độ, chất lượng này lên trình độ, chất lượng khác cao
hơn, toàn diện hơn. Phát triển NNL bao gồm những nội dung: phát triển quy
mô và cơ cấu dân số thích hợp; đào tạo, nâng cao chất lượng NNL; quản lí và
sử dụng có hiệu quả NNL.


Thực trạng NNL tỉnh Hải Dương khi tái lập tỉnh

- Về quy mô và tốc độ tăng NNL: số lượng nhân lực là một điều kiện
thuận lợi cho quá trình CNH, HĐH ở nước ta nói chung và Hải Dương nói
riêng. Hải Dương là một trong những tỉnh có lực lượng lao động khá dồi dào,
hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Năm 1995, dân số của Tỉnh là 1.677.398 người, năm 1996 dân số tăng
lên là 1.692.105 người với mật độ gần 1000 người/km2. Trong cả nước, Hải
Dương là tỉnh có mức độ tăng dân số tự nhiên ở mức trung bình 1,5% (1995)
và 1,34% (1996). Với điều kiện đó, hàng năm Hải Dương có một số lượng lớn
người đến độ tuổi lao động. Nếu như năm 1995, Tỉnh có 850.790 lao động thì
đến 1996, số lao động đã là 863.691 người, chiếm 54,6% dân số trong Tỉnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status