1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Phát tri ển ngu ồn nhân lự c (NNL) luôn là v ấn đề quan tr ọng
bậc nhất đối với mọi quốc gia, vì nguồn lực con người luôn là một
nhân tố quyết định sức mạnh, vị thế của đất nước, đảm bảo sự phát
triển ổn định, bền vững của đời sống kinh tế xã hội (KTXH). Quá
trình toàn cầu hóa, sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa nhiều vào trí
thức và công nghệ tạo ra nhiều cơ h ội phát triển NNL, đồng thời cũng
đặt ra những yêu cầu mới về phát triển nguồn lực con người. Tại Việt
Nam, tiến trình đổi mới đất nước, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) cũng là tiến trình đổi mới
nhận thức, cũng như phương thức xây dựng, phát triển NNL. Thực tế,
đến nay, bên cạnh những thành tựu về xây dựng, phát triển NNL, nhất
là nhân lực chất lượng cao của Việt Nam v ẫn còn nhiều hạn chế cả về
số lượng và chất lượng, bất cập về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp,
kỹ năng giao tiếp quốc tế, thái độ và đạo đức nghề nghiệp... Những
hạn chế và bất cập đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới thu hút đầu tư, tới
sự phát triển, ổn định KTXH đất nước. Do đó, nghiên cứu phát triển
NNL trên phạm vi cả nước nói chung, ở cấp độ địa phương nói riêng
để đút kết những kinh nghiệm hay, v ận d ụng vào phát triển NNL hiện
nay cũng như tương lai là cần thiết, mang tính thời sự.
Quảng Ninh là một tỉnh nằm trong tam giác kinh tế tăng trưởng
Hà Nội Hải Phòng Quảng Ninh, sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc
đổi mới đã mang diện mạo của một khu vực kinh tế mở, năng động, đạt
tốc độ tăng trưởng cao, quy mô không ngừng được nâng lên. Để đạt
được những thành quả đó, ngoài lợi thế về vị thế địa lý, tài nguyên phong
phú, trong những năm đổi mới, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã tập trung
xây dựng, phát triển NNL và đã thu được nhiều kết quả. Đảng bộ và
nhân dân địa phương đã chọn đúng và giải quyết tương đối tốt vấn đề
phát triển NNL, coi đây là hướng đột phá để phát triển KTXH, một
Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL (2005 2015), từ đó rút ra những
kinh nghiệm lịch sử chủ yếu vận dụng vào hiện thực.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về
phát triển NNL.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ chủ trương và
sự chỉ đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, bao gồm: xây
dựng quy hoạch phát triển NNL, đào tạo, bồi dưỡng phát triển NNL và
đổi mới cơ chế chính sách thu hút NNL của Tỉnh (tập trung chủ yếu vào
NNL lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ
quan hành chính sự nghiệp trong khu vực Nhà nước và NNL chuyên môn
kỹ thuật ngành công nghiệp xây dựng, công nhân kỹ thuật lành nghề,
NNL ngành du lịch dịch vụ, NNL ngành nông, lâm, ngư nghiệp...) trên
các mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL.
Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong 10 năm, mốc thời gian bắt
đầu từ năm 2005, năm tiến hành Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XII
(10/2005). Mốc kết thúc luận án là năm 2015, mốc thời gian kết thúc thực
hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 20102015)
mở đầu Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV (10/2015). Tuy nhiên, để vấn đề
3
nghiên cứu có hệ thống, luận án có đề cập một số năm trước năm 2005 và
sau năm 2015.
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư
trong các chương nhằm làm rõ những nội dung nghiên cứu của luận án.
5. Những đóng góp mới của luận án
4
Hệ thống hoá chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015.
Nhận xét đánh giá một cách khách quan, khoa học thành tựu và hạn
chế trong hoạt động lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh từ năm 2005 đến năm 2015.
Đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015.
Góp phần tổng kết lý luận, thực tiễn phát triển NNL của Đảng
thực tiễn của một Đảng bộ địa phương.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài luận án
Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh tiếp tục bổ sung, điều chỉnh chủ trương, sự chỉ đạo phát triển NNL
phục vụ cho công cuộc phát triển KTXH của địa phương và đất nước.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu nghiên cứu,
tham khảo cho lãnh đạo phát triển NNL ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng và
các địa phương khác trong cả nước nói chung. Đồng thời, là tài liệu tham
khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
ở các Học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả
đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương, 9 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
trên thế giới của các học giả nước ngoài, các tác giả trong nước cũng có
nhiều công trình nghiên cứu công phu về NLL ở các nước, cũng như những
kinh nghiệm sử dụng NNL ở nhiều nước trên thế giới, tiêu biểu là các
công trình của các học giả sau:
Các tác giả Trần Văn Tùng và Lê Thị Ái Lâm (1996), “Phát
triển nguồn nhân lực kinh nghiệm th ế gi ới và thực tiễn nướ c ta” .
Tác giả Lê Thị Ái Lâm (2003), “Phát triển ngu ồn nhân lực thông qua
giáo dục và đào tạo kinh nghiệm c ủa Đông Á” . Tác giả Nguyễn Kim
Bảo (2004) trong công trình“Điều chỉnh một s ố chính sách kinh tế ở
Trung Qu ốc (giai đoạn 1992 2010)” . Tác giả Trần Văn Tùng (2005)
trong cu ốn: Đào tạo, bồi d ưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng
kinh nghiệm của thế gi ới. Tác giả Vũ Bá Thể (2005), “ Phát huy
nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
1.1.2.1. Nhóm nghiên cứu chung về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về nguồn
nhân lực đã được công bố, có thể kể đến như:
Tác giả Mai Quốc Chánh (1999), “Nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướ c” .
Tác giả Trần Văn Tùng (2001), “ Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi
mới giáo dục Việt Nam” . Tác giả Bùi Thị Ngọc Lan (2002), “Nguồn
lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” . Tác giả Nguy ễn
Thanh (2002),“Phát triển ngu ồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước” . Tập thể tác giả Nguy ễn Trọng Chu ẩn,
Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu Toàn chủ biên (2002) trong cu ốn:
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Lý luận và thực tiễn” .
Tác giả Nguyễn Hữu Dũng (2003), “Sử dụng hiệu qu ả nguồn l ực con
6
nhân lực du lịch Quảng Ninh giai đoạn 20112015”.
Tác giả Trần Văn Minh (2012), “Nghiên cứu phát triển thị trường
công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”. Tác giả Lê Hồng Huyên (2015),
“Một hướng phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh”. Tác
giả Hoàng Chí Cảnh (2016), “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực tỉnh Quảng Ninh”. Tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2016) trong bài viết
“Một số kết quả và kinh nghiệm về cải cách hành chính ở tỉnh Quảng
Ninh”. Tác giả Nguyễn Thị Mai Phương (2015), “Phát triển nhân lực tại
Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam”.
7
Với những công trình khoa học đã được công bố nêu trên, có thể
nhận thấy, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về NNL và phát triển
NNL ở tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt, chưa có công trình nào đi sâu nghiên
cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL từ năm
2005 đến năm 2015 dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng.
1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố
liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
1.2.1. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có
liên quan đến đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các công trình khoa
học nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, tác giả nhận thấy những
kết quả nghiên cứu mà các công trình đã được công bố là khá toàn diện,
góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển
NNL trên những nội dung cơ bản sau:
Một là, các công trình khoa học nghiên cứu dù tiếp cận ở nhiều góc độ,
phạm vi khác nhau nhưng đều khẳng định tầm quan trọng và yêu cầu
khách quan phải phát triển NNL như là cơ sở tiền đề quan trọng để thúc
đẩy quá trình phát triển KT XH của đất nước. Bước đầu làm rõ khái
đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL từ năm 2005
đến năm 2015, đây là khoảng trống về khoa học luận án tập trung nghiên
cứu. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài là những nguồn
tư liệu phong phú, đa dạng mà nghiên cứu sinh có thể khai thác, kế thừa,
nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện luận án của mình.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được
công bố, bám sát đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khoa học
lịch sử Đảng, luận án tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
Một là, làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015, bao gồm: Vị trí vai trò
NNL trong quá trình phát triển KTXH; điều kiện tự nhiên, KTXH tỉnh Quảng
Ninh tác động đến phát triển NNL; thực trạng NNL tỉnh Quảng Ninh trước năm
2005; chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển NNL.
Hai là, làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo phát triển NLL của Đảng
bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2015.
Ba là, trong khuân khổ của luận án, nghiên cứu sinh tập trung vào các
vấn đề: 1. Chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển NNL; 2. Chỉ đạo đào tạo,
bồi dưỡng phát triển NNL; 3. Chỉ đạo đổi mới cơ chế chính sách thu hút NNL.
Bốn là, từ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát
triển NNL 20052015, luận án đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn
chế, chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó. Đồng thời đúc
rút những kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào hiện thực.
. Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án cho thấy,
phát triển NNL có vai trò, vị trí, tầm quan trọng trong chiến lược phát triển
KTXH chung của đất nước, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước. Chính vì vậy, phát triển NNL đã trở thành chủ đề được các nhà khoa
học cũng như các nhà hoạch định chính sách trong và ngoài nước quan tâm
nghiên cứu ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau được thể hiện bằng sự đa
hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là
một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên
thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm NNL với các góc độ
khác nhau. Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực
lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động
và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó,
quyết định đến năng suất lao động và tiến bộ xã hội. Ở đây, con người được
xem xét từ góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội. Tổ chức Lao
động quốc tế (ILO) đưa ra quan niệm về NNL như sau: Theo nghĩa rộng,
NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp sức lực
con người cho sự phát triển. Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của
xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KTXH, bao gồm các nhóm dân cư trong
độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quá trình lao động, sản xuất xã
hội, tức là toàn bộ cá nhân có thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể
các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực được huy động vào quá trình lao động
Từ xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái
niệm khác nhau về NNL, theo tác giả, NNL là tổng hòa các yếu tố về
10
số lượng, cơ cấu và chất lượng nhân lực (trí lực, thể lực, tâm lực) đã,
đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh để huy động vào quá trình thúc đẩy
phát triển KTXH, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Theo đó, số lượng NNL
là tổng số người lao động đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển KT
XH. Một quốc gia nếu không có số lượng nhân lực lao động cần thiết thì
không thể phát huy sức mạnh của NNL trong qua trinh phat triên KT XH.
́ ̀
́
̉
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển NNL.
Theo tác giả phát triển NNL là quá trình làm biến đổi về
số lượ ng, chất lượng và cơ cấu NNL ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu
cầu phát triển KT XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Theo đó, sự lãnh
đạo phát triển NNL là tác động của chủ thể lãnh đạo bằng những chủ
trương, chính sách, định hướng lớn nhằm biến đổi về số lượng, chất
lượng và cơ cấu NNL. Trong quá trình phát triển, sự tăng lên về số lượng
nhân lực có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển
ngành nghề, lĩnh vực trong từng giai đoạn nhất định. Phát triển chất lượng
nhân lực là sự tăng lên không ngừng vê th
̀ ể lực, trí lực và tâm lực của người
lao động (vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là cộng đồng, tập thể
người lao động). Phát triển về cơ cấu là quá trình xây dựng cơ cấu NNL
khoa học, hợp lý, làm cơ sở để phát triển về chất NNL, làm thay đổi cơ cấu
về giới, độ tuổi, trình độ của nhân lực ở các vùng, miền, khu vực khác nhau
môt cach phù h
̣ ́
ợp nhằm huy động sức mạnh từ NNL này. Sự thay đổi về cơ
cấu theo hướng khoa học và hợp lý là yếu tố góp phần quan trọng đam bao
̉
̉
sự phat triên bên v
́ ̉
̀ ưng cua NNL, góp ph
̃
̉
ần phát triển bên v
̀ ưng nên kinh tê đât
̃
̀
gần gấp đôi so với bình quân chung cả nước và nằm trong nhóm các địa
phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Quy mô GDP giá hiện
hành năm 2010 gấp 1,8 lần năm 2005. Tổng thu ngân sách nhà nước trên
địa bàn 5 năm ước đạt 69.869 tỷ đồng, tăng bình quân 29,4%/năm, là một
trong 6 địa phương có số thu ngân sách cao nhất toàn quốc.
2.1.2.3 Về văn hóa xã hội
Quảng Ninh là tỉnh có dân số không cao so với bình quân chung
của cả nước, theo điều tra dân số thời điểm 1/4/2009, dân số Quảng Ninh là
1.144.988 người đứng thứ 30/63 tỉnh thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trong
vùng đồng bằng sông Hồng. Với 22 dân tộc khác nhau, trong đó, có 5 dân tộc
có dân số trên 1.000 người, tỉnh Quảng Ninh là “nơi hội tụ, giao thoa, thống
nhất trong đa dạng của nền văn minh Sông Hồng”, các dân tộc phân bố đều
trên lãnh thổ của Tỉnh, có tinh thần đoàn kết, chung sống hòa thuận tạo điều
kiện thuận lợi trong việc cố kết cộng đồng dân cư của toàn tỉnh.
2.1.3. Thực trạng nguồn nhân lực ở Quảng Ninh trước năm 2005
Theo thống kê, năm 2005 dân số tỉnh Quảng Ninh là 1.096.112
người đứng thứ 30/63 tỉnh, thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trong vùng
đồng bằng sông Hồng, có 702.121 người trong độ tuổi lao động, chiếm
64,1%, số lao động có việc làm 533.730 người đạt 76%. Đây là nguồn
lực quan trọng góp phần phát triển KTXH của tỉnh. Sự gia tăng cả về số
12
lượng và chất lượng NNL đóng vai trò quyết định, đưa KTXH của tỉnh
phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, điều đó đưa đến
sự thay đổi quan trọng trong cơ cấu và chất lượng NNL.
Tuy nhiên, NNL ở Quảng Ninh trước năm 2005 cũng bộc lộ nhiều
điểm hạn chế: Công tác quy hoạch chưa theo kịp tiến trình phát triển,
quản lý quy hoạch còn yếu, điều chỉnh quy hoạch chưa kịp thời. Đặc
Xuất phát từ nhận thức khách quan, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác
Lênin, từ khi ra đời, để thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt
13
Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rõ vai trò quan trọng
của vấn đề con người.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), lần đầu tiên
thuật ngữ “nguồn lực con người” được sử dụng trong văn kiện của
Đảng: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh và bền vững”. Sự nghiệp CNH, HĐH được Đại hội
VIII của Đảng khẳng định với tính chất là chiến lược thì vấn đề phát
triển NNL càng được chú trọng. Đại hội khẳng định: “Nâng cao dân trí,
bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân
tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại”.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), vấn đề “nguồn
lực con người” tiếp tục được Đảng ta khẳng định, trong đó nhấn mạnh
“phát huy nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững” .
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng đã chỉ rõ
để thực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế
tri thức phải phát triển NNL chất lượng cao, tức là chuyển hướng chiến
lược phát triển NNL theo chiều rộng sang chiều sâu, coi trọng và gia tăng
nhanh chất lượng của NNL: “phát triển nhanh nguồn nhân lực chất
lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành. Chú trọng phát hiện, bồi
dưỡng, trọng dụng nhân tài; nhanh chóng xây dựng cơ cấu nguồn nhân
lực hợp lý về ngành nghề, trình độ đào tạo, dân tộc, vùng miền”.
2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển nguồn
nhân lực (2005 2010)
2.2.1. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh
tăng nhanh lao động khu vực phi nông nghiệp. Đến năm 2010 lao động
khu vực nông, lâm, ngư nghiệp còn khoảng 3035%, khu vực công
nghiệp, xây dựng 3032%, khu vực d ịch vụ 3538%. Có kế hoạch đào
tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật, công
nhân kỹ thuật. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt từ 3035% vào
năm 2010 và 3540% vào năm 2020. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo.
Đào tạo công chức nhà nước các cấp, đào tạo các nhà doanh nghiệp.
2.2.3. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển nguồn nhân lực
Trên cơ sở mục tiêu phát triển NNL trong 5 năm 2005 2010, Đại hội
đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII (12/2005) đã xác định rõ
nhiệm vụ và giải pháp phát triển NNL trong giai đoạn 2005 2010:
Thứ nhất, phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
đào tạo một cách toàn diện để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân,
nâng cao dân trí và góp phần đào tạo NNL cho sự nghiệp CNH, HĐH
Thứ hai, đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.
Củng cố và hiện đại hóa cơ sở vật chất các trường dạy nghề, trung học, cao
đẳng hiện có theo hướng tập trung quy mô lớn vào một số đầu mối. Phát
triển mạnh các dịch vụ giáo dục đào tạo, phấn đấu để Quảng Ninh trở
thành một trong những trung tâm đào tạo NNL của Vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ. Có chính sách khuyến khích để thành lập Trường đại học và xây
dựng các cơ sở giáo dục đào tạo chất lượng cao trên địa bàn tỉnh.
Thứ ba, tiếp tục thực hiện và bổ sung chính sách ưu đãi thu hút
nhân tài về công tác tại tỉnh và hỗ trợ khuyến khích cán bộ, công chức
học tập nâng cao trình độ.
Thứ tư, có cơ chế khuyến khích phát triển hệ thống dạy nghề, đa
dạng hóa các loại hình dạy nghề, đổi mới, sắp xếp lại các cơ sở dạy
nghề và trung tâm giới thiệu việc làm theo hướng hiện đại hóa để học
sinh khi ra trường thích ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Ban chấp hành (BCH) Đảng bộ tỉnh đã
ban hành Chương trình hành động số 06CTr/TƯ ngày 2592006 thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh
lần thứ XII trong đó xác định nhiệm vụ: Thực hiện có hiệu quả chương trình
cải cách hành chính, thực hiện nghiêm quy trình và công khai các thủ tục
hành chính trong giải quyết công việc của cơ quan Nhà nước để nhân dân
biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện… Đề cao vai trò, hiệu lực quản lý
nhà nước ở các cấp, các ngành,… Từng bước hiện đại hoá bộ máy hành
chính theo hướng áp dụng công nghệ quản lý tiên tiến và tin học hoá.
2.3.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật
* Nguồn nhân lực ngành công nghiệp xây dựng
16
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, với sự phát triển mạnh mẽ
của một số ngành công nghiệp Trung ương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
(than, đóng tàu…), sự phát triển nhiều ngành nghề mới của công nghiệp
địa phương và các cơ sở sản xuất có sự đầu tư của nước ngoài đã đặt ra
yêu cầu về bổ sung NNL ngày càng lớn. Trước đòi hỏi của một tỉnh trọng
điểm kinh tế, có ngành công nghiệp xây dựng phát triển mạnh, yêu cầu
phát triển NNL chuyên môn kỹ thuật, nhất là công nhân lành nghề ở
Quảng Ninh trở thành một yêu cầu mang ý nghĩa quan trọng,vì vậy, công
tác trên luôn được Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
bằng các nghị quyết, các chương trình hành động, và giám sát thông qua
các báo cáo tổng kết hàng năm.
* Nguồn nhân lực du lịch dịch vụ
Tỉnh Quảng Ninh với vị trí địa lý thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú; văn hóa đa dạng. Đặc biệt có Vịnh Hạ Long hai lần
được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới và được vinh
danh là Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, cùng với Vịnh Bái Tử
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015
3.1. Yêu cầu mới và chủ trương đẩy mạnh phát triển nguồn
nhân lực của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010 2015)
3.1.1. Yêu cầu mới đối với phát triển nguồn nhân lực của tỉnh
Quảng Ninh (20102015)
3.1.1.1. Tình hình thế giới và trong nước
Trên thế giới, xu thế toàn cầu hoá tiếp tục diễn ra nhanh chóng, xoay
quanh tâm điểm là xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức. Trong những
năm đầu thế kỷ XXI, kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển
của các quốc gia, cả những nước phát triển và đang phát triển.
Đến năm 2010, sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt
Nam đã đạt những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, có những bước tăng
trưởng vượt bậc và từng bước hội nhập sâu rộng với thế giới và khu vực.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và Việt Nam có những thay đổi nhanh
chóng, đòi hỏi chủ trương, chính sách của Đảng phải phù hợp với tình hình
mới. Vấn đề phát triển NNL cũng trở nên cấp thiết hơn.
3.1.1.2. Yêu cầu mới về phát triển nguồn nhân lực ở Quảng Ninh
Kinh tế Quảng Ninh trong giai đoạn 20052010 từng bước phát
triển ổn định và tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức cao.
So với tốc độ phát triển chung của cả nước, giai đoạn 20052010
kinh tế Quảng Ninh phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng duy trì ở
mức cao. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra, tốc độ và chất lượng kinh tế
của Quảng Ninh chưa như mong muốn, chưa tương xứng với tiềm năng,
thế mạnh của địa phương, NNL của Quảng Ninh chưa đáp ứng được
yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
3.1.1.3. Quan điểm, mục tiêu, phương hướng của Đảng về phát
triển nguồn nhân lực
* Quan điểm mới của Đảng về phát triển nguồn nhân lực
Thực hiện được mục tiêu phát triển con người mà Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
Ba là, ưu tiên đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ bao gồm: đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức, công nhân kỹ thuật. Tập trung đào tạo,
phát triển nguồn nhân lực là cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức hành chính
Nhà nước, chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, cán bộ
quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, nhân viên giỏi góp
phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế;
Bốn là, đẩy mạnh xã hội hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển
nguồn nhân lực.Xây dựng đội ngũ công chức hành chính theo hướng chuyên
nghiệp hóa. Đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với quy hoạch, nhu cầu sử dụng,
lấy đào tạo nghề, đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao làm làm khâu
đột phá trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.
3.1.2.2. Mục tiêu
Hệ thống nhân lực phát triển đầy đủ toàn diện đáp ứng nhu cầu
phát triển KTXH của tỉnh với các mục tiêu: (1) Tỉnh Quảng Ninh sẽ là
một điểm đến cho sinh viên giỏi và những người lao động tay nghề cao từ
trong và ngoài nước; (2) Khả năng tuyển dụng chuyên nghiệp và công tác
tuyển dụng dựa vào năng lực lao động; (3) Nâng cao nhận thức, chất lượng
GD&ĐT các cấp học, trong đó quan tâm phát triển đào tạo nghề, làm tăng
19
khả năng tuyển dụng và nhu cầu đối với các học viên tốt nghiệp hệ nghề;
(4) Giải quyết những hạn chế và từng bước đào tạo nhân lực trình độ cao
đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng
năng suất lao động của lực lượng lao động; (5) Đẩy mạnh tính năng động
trong xã hội và khuyến khích quá trình học tập suốt đời của người dân; (6)
Tạo ra một đội ngũ lao động có tay nghề và chất lượng cao để thu hút các
nhà đầu tư; (7) Nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh và hiệu
quả, dẫn đến những kết quả khả quan cho cả người sử dụng lao động cũng
như mức lương tốt hơn cho người lao động.
NNL được xác định đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện
20
nhiệm vụ phát triển KTXH của tỉnh. Trong bối cảnh tình hình mới với
nhiều cơ hội mới, song cũng phải đối đầu với nhiều thách thức lớn, gay gắt
hơn trước, càng đòi hỏi công tác quy hoạch nói chung và quy hoạch NNL nói
riêng phải được đẩy mạnh hơn nữa, đây là vấn đề được các cấp đảng,
chính quyền tỉnh Quảng Ninh xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt
nhiệm kỳ của Đại hội XIII.
3.2.2. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực
3.2.2.1. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong các cơ quan
hành chính, sự nghiệp
Trong giai đoạn 20052010, công tác đào tạo cán bộ trong HTCT đã góp
phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong HTCT của tỉnh.
Tuy nhiên, trong thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau cho nên vẫn tồn
tại những hạn chế, yếu kém nhất định, do đó, để đáp ứng yêu cầu phát
triển KTXH và thực hiện mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 để Quảng
Ninh trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, Ban Thường vụ
Tỉnh ủy Quảng Ninh xác định cần phải tập trung: “Xây dựng nguồn nhân
lực chất lượng cao, trong đó có việc nâng cao chất lượng cán bộ, công
chức; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực
hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới, đặc biệt
là nhiệm vụ xây dựng tỉnh công nghiệp, dịch vụ theo hướng hiện đại đồng
thời bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh
3.2.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên môn, kỹ thuật
* Nguồn nhân lực ngành công nghiệp xây dựng, công nhân kỹ
thuật lành nghề
Trong nh ững năm 2010 2015, bám sát chủ trươ ng của Đảng,
ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết
số 24/2008/NQCP ngày 28102008 của Chính phủ ban hành Chương
trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26NQ/TW của
BCH Trung ương Đảng (khoá X) và Quyết định số 1956/QĐTTg ngày
27112009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề
cho lao động nông thôn đến năm 2020", ngày 3152010 của Ban Thường
vụ Tỉnh uỷ Quảng Ninh ra ban hành Chỉ thị số 28CT/TƯ Tăng cường
lãnh đạo, chỉ đạo công tác dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020, trong đó yêu cầu các cấp uỷ đảng, chính quyền, các sở, ban, ngành,
Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể trong tỉnh triển khai thực hiện:
Đưa nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào chương trình, kế
hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm
kỳ 20102015 và cụ thể cho từng năm; chỉ đạo các sở, ngành liên quan tham
mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng Đề án đào tạo nghề cho lao động
nông thôn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020; đồng thời chuẩn bị các điều kiện
cần thiết để thực hiện Đề án theo chức năng, nhiệm vụ được giao; tiếp tục
chỉ đạo cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đào tạo nghề; đẩy mạnh
xã hội hoá công tác đào tạo nghề; rà soát, quy hoạch phát triển mạng lưới cơ
sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, trong đó chú trọng phát triển các cơ sở đào
tạo nghề cho lao động nông thôn; phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và
cán bộ quản lý đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu về chất lượng, số lượng và
cơ cấu ngành nghề.
Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, ngày 06012011, UBND tỉnh
Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 24/QĐUBND về việc phê duyệt
Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Quảng Ninh đến năm
2020, theo đó: Tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho lao
động nông thôn; thực hiện các chính sách theo quy định của Nhà nước
nhằm bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với
ứng được yêu cầu phát triển KTXH của địa phương. Đó là quá trình tự
hoàn thiện, dần nâng cao nhận thức, phương pháp tổ chức thực hiện,
mục tiêu của công tác phát triển NNL. Theo đó, công tác phát triển
NNL của tỉnh giai đoạn 20102015 đã có những chuyển biến tích
cực, đặc biệt với với việc ban hành Nghị quyết số 15NQ/TU về “Đẩy
mạnh cải cách hành chỉnh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030”... thể hiện quyết
tâm cao trong việc thực hiện 3 đột phá chiến lược mà Đại hội lần thứ XI
của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của tỉnh đã đề ra, trong đó:
tạo bước chuyển mạnh về phát triển NNL, trọng tâm là giáo dục và đào
tạo, KH&CN. Nghị quyết số 15NQ/TU, đã góp phần nâng cao nhận
23
thức cho toàn xã hội, huy động được sức mạnh của HTCT, các
thành phần kinh tế trong tỉnh cho phát triển NNL.
Chương 4
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về
phát triển nguồn nhân lực (20052015)
4.1.1. Ưu điểm
Một là, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã quán triệt, vận dụng đúng
đắn, sáng tạo chủ trương của Đảng về phát triển NNL vào thực tiễn địa
phương, đề ra chủ trương, biện pháp phát triển NNL phù hợp.
Hai là, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh bám sát yêu cầu phát triển kinh
tế xã hội của địa phương để chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực.
Ba là, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được
nâng cao.
4.1.2. Hạn chế
Một là, việc quán triệt chủ trương và tổ chức thực hiện phát
nhưng chưa xây dựng được đội ngũ chuyên gia đầu ngành, đội ngũ cán bộ có
trình độ chuyên môn, quản lý giỏi; tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức chưa cao.
Ba là, cơ cấu lao động trong các ngành nghề, lĩnh vực, địa phương
chưa hợp lý; cơ cấu lao động đã qua đào tạo chưa cân đối, chất lượng đào
tạo còn hạn chế nên người lao động khó tìm được việc làm sau đào tạo;
trình độ ngoại ngữ của người lao động và cán bộ, công chức còn hạn chế,
nên việc đào tạo sau đại học, đào tạo ngoài nước gặp nhiều khó khăn; thiếu
cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ và chuyên gia kỹ thuật giỏi, nhất là trong
lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý KH&CN và các ngành kinh tế mũi nhọn
của tỉnh.
4.2. Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực (20052015)
4.2.1. Nhận thức đúng về tầm quan trọng của phát triển
nguồn nhân để xác định chủ trương và chỉ đạo thực hiện phù hợp
Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển NNL trên địa bàn
tỉnh là quá trình nâng cao nhận thức, chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của
các cấp ủy Đảng trong công tác này. Thể sự đoàn kết, thống nhất, sâu sát
và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành ở tất cả các cấp ủy và
HTCT. Tích cực tranh th ủ s ự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng,
Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương, huy động sự vào cuộc tích
cực, đồng bộ của cả HTCT, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân
để tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao. Với việc c ác cấp
ủy Đảng của tỉnh nh ận thức rõ sự cần thiết về nâng cao chất lượng,
tăng cường số lượ ng, h ợp lý về cơ cấu NNL cho tỉnh, hiểu đúng
những thu ận lợi, khó khăn, thời cơ và thách thức trong đào tạo NNL;
dự báo được xu hướ ng phát triển KTXH c ủa tỉnh và yêu cầu về NNL
trong th ời kỳ m ới… điều này đượ c quán triệt sâu sắc, thể hiện cụ thể
trong các nghị quy ết, ch ủ tr ương, bi ện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ
chức thực hiện của các cấp ủy.
lướ i giáo dục nghề nghiệp tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030...
4.2.3. Chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực , nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
Đào tạo, bồi dưỡng NNL có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát
triển NLL của mỗi quốc gia, hay một địa phương trong quá trình CNH,
HĐH. Đây cũng là một trong những kinh nghiệm quan trọng nhất của công tác
phát triển NNL của tỉnh Quảng Ninh. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, dự báo
nhu cầu NNL trong giai đoạn mới và để chủ động trong công tác phát triển
NNL, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo thực hiện việc sắp xếp lại hệ
thống các cơ sở đào tạo (đại học, cao đẳng và dạy nghề) theo hướng tập
trung đào tạo NNL có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của các
ngành, lĩnh vực mũi nhọn; chú trọng đào tạo các ngành kinh tế, kỹ thuật phục
vụ sự phát triển của các ngành dịch vụ hiện đại, dựa trên công nghệ cao. Đầu
tư nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô đào tạo của các cơ sở này. Theo
đó, tỉnh Quảng Ninh đã lựa chọn được các ngành kinh tế mũi nhọn để ưu tiên
đào tạo, phát triển NNL phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo
hướng chuyển dịch lao động ngành nông nghiệp sang lao động ngành công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ, đặc biệt là du lịch. NNL của tỉnh đã từng bước
phát triển cả về số lượng và chất lượng, nâng cao trình độ học vấn, chuyên