Tóm tắt Luận án tiến sĩ Sử học: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2005 đến năm 2015 - Pdf 58

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Phát  tri ển ngu ồn nhân  lự c (NNL)  luôn là  v ấn  đề   quan  tr ọng 
bậc nhất đối với mọi quốc gia, vì nguồn lực con người luôn là một  
nhân tố  quyết định sức mạnh, vị  thế  của đất nước, đảm bảo sự  phát  
triển  ổn định, bền vững của đời sống kinh tế  ­ xã hội (KT­XH). Quá 
trình toàn cầu hóa, sự  tăng trưởng kinh tế  ngày càng dựa nhiều vào trí 
thức và công nghệ tạo ra nhiều cơ h ội phát triển NNL, đồng thời cũng 
đặt ra những yêu cầu mới về phát triển nguồn lực con người. Tại Việt  
Nam, tiến trình đổi mới đất nước, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) cũng là tiến trình đổi mới 
nhận thức, cũng như  phương thức xây dựng, phát triển NNL. Thực tế,  
đến nay, bên cạnh những thành tựu về xây dựng, phát triển NNL, nhất 
là nhân lực chất lượng cao của Việt Nam v ẫn còn nhiều hạn chế cả về 
số lượng và chất lượng, bất cập về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp,  
kỹ  năng giao tiếp quốc tế, thái độ  và đạo đức nghề  nghiệp... Những  
hạn chế và bất cập đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới thu hút đầu tư, tới  
sự  phát triển,  ổn định KT­XH đất nước. Do đó, nghiên cứu phát triển 
NNL trên phạm vi cả  nước nói chung,  ở  cấp độ  địa phương nói riêng  
để đút kết những kinh nghiệm hay, v ận d ụng vào phát triển NNL hiện  
nay cũng như tương lai là cần thiết, mang tính thời sự.
Quảng Ninh là một tỉnh nằm trong tam giác kinh tế  tăng trưởng 
Hà Nội ­ Hải Phòng ­ Quảng Ninh, sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc 
đổi mới đã mang diện mạo của một khu vực kinh tế mở, năng động, đạt 
tốc độ  tăng trưởng cao, quy mô không ngừng được nâng lên. Để  đạt 
được những thành quả đó, ngoài lợi thế về vị thế địa lý, tài nguyên phong  
phú, trong những năm đổi mới, Đảng bộ  tỉnh Quảng Ninh đã tập trung  
xây dựng, phát triển NNL và đã thu được nhiều kết quả. Đảng bộ  và  
nhân dân địa phương đã chọn đúng và giải quyết tương đối tốt vấn đề 
phát triển NNL, coi  đây là  hướng  đột phá  để   phát triển KT­XH, một 

Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL (2005 ­ 2015), từ đó rút ra những  
kinh nghiệm lịch sử chủ yếu vận dụng vào hiện thực. 
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về 
phát triển NNL.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ chủ  trương và 
sự chỉ đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, bao gồm: xây 
dựng quy hoạch phát triển NNL, đào tạo, bồi dưỡng phát triển NNL và 
đổi mới cơ chế chính sách thu hút NNL của Tỉnh (tập trung chủ yếu vào  
NNL lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động  ở  các cơ 
quan hành chính sự nghiệp trong khu vực Nhà nước và NNL chuyên môn  
kỹ  thuật ngành công nghiệp ­ xây dựng, công nhân kỹ  thuật lành nghề,  
NNL ngành du lịch ­ dịch vụ, NNL ngành nông, lâm, ngư  nghiệp...) trên 
các mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL.
Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong 10 năm, mốc thời gian bắt  
đầu   từ  năm   2005,   năm   tiến   hành   Đại   hội   Đảng   bộ   Tỉnh   lần   thứ   XII  
(10/2005). Mốc kết thúc luận án là năm 2015, mốc thời gian kết thúc thực 
hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2010­2015)  
mở đầu Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV (10/2015). Tuy nhiên, để vấn đề 


3
nghiên cứu có hệ thống, luận án có đề cập một số năm trước năm 2005 và 
sau năm 2015.
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ  sở  lý luận của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, tư 

trong các chương nhằm làm rõ những nội dung nghiên cứu của luận án.
5. Những đóng góp mới của luận án


4
Hệ  thống hoá chủ  trương và sự  chỉ  đạo của Đảng bộ  tỉnh Quảng 
Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015.
Nhận xét đánh giá một cách khách quan, khoa học thành tựu và hạn  
chế  trong hoạt động lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ  tỉnh Quảng  
Ninh từ năm 2005 đến năm 2015.
Đúc kết một số  kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ 
tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015. 
Góp phần tổng kết lý luận, thực tiễn phát triển NNL của Đảng  
thực tiễn của một Đảng bộ địa phương.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài luận án
Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để Đảng bộ tỉnh Quảng 
Ninh tiếp tục bổ sung, điều chỉnh chủ  trương, sự  chỉ  đạo phát triển NNL  
phục vụ cho công cuộc phát triển KT­XH của địa phương và đất nước.
Kết quả  nghiên cứu của luận án có thể  làm tài liệu nghiên cứu, 
tham khảo cho lãnh đạo phát triển NNL  ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng và 
các địa phương khác trong cả nước nói chung. Đồng thời, là tài liệu tham 
khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 
ở các Học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả 
đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo  
và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương, 9 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

trên thế  giới của các học giả  nước ngoài, các tác giả trong nước cũng có  
nhiều công trình nghiên cứu công phu về NLL ở các nước, cũng như những 
kinh nghiệm sử  dụng NNL  ở  nhiều nước trên thế  giới, tiêu biểu là các 
công trình của các học giả sau:
Các tác giả  Trần Văn Tùng và Lê Thị  Ái Lâm (1996),   “Phát 
triển nguồn nhân lực ­ kinh nghiệm th ế  gi ới và thực tiễn nướ c ta”   . 
Tác giả  Lê Thị  Ái Lâm (2003),  “Phát triển ngu ồn nhân lực thông qua  
giáo dục và đào tạo­ kinh nghiệm c ủa Đông Á”  . Tác giả Nguyễn Kim 
Bảo (2004) trong công trình“Điều chỉnh một s ố  chính sách kinh tế   ở 
Trung Qu ốc (giai đoạn 1992 ­ 2010)” .  Tác giả Trần Văn Tùng (2005) 
trong cu ốn: Đào tạo, bồi d ưỡng và sử  dụng nguồn nhân lực tài năng ­  
kinh   nghiệm   của   thế   gi ới.   Tác   giả   Vũ   Bá   Thể   (2005),   “ Phát   huy  
nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
1.1.2.1. Nhóm nghiên cứu chung về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam 
Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu  về nguồn 
nhân lực đã được công bố, có thể kể đến như:
Tác giả  Mai Quốc Chánh (1999),  “Nâng cao chất lượng nguồn  
nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướ c” . 
Tác giả  Trần Văn Tùng (2001), “ Nền kinh tế  tri thức và yêu cầu đổi  
mới giáo dục Việt Nam” . Tác giả  Bùi Thị  Ngọc Lan (2002), “Nguồn  
lực trí tuệ  trong sự  nghiệp  đổi mới  ở  Việt Nam” . Tác giả  Nguy ễn 
Thanh (2002),“Phát triển ngu ồn nhân lực phục vụ  công nghiệp hóa,  
hiện   đại   hóa   đất   nước” .  Tập   thể   tác   giả   Nguy ễn   Trọng   Chu ẩn,  
Nguyễn Thế  Nghĩa và Đặng Hữu Toàn chủ  biên (2002) trong cu ốn:  
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa  ở  Việt Nam ­ Lý luận và thực tiễn” . 
Tác giả Nguyễn Hữu Dũng (2003),  “Sử dụng hiệu qu ả nguồn l ực con  


6

nhân lực du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2011­2015”.
Tác giả  Trần Văn Minh (2012), “Nghiên cứu phát triển thị  trường  
công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”. Tác giả Lê Hồng Huyên (2015),  
“Một hướng phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh”. Tác 
giả  Hoàng Chí Cảnh (2016), “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân 
lực tỉnh Quảng Ninh”.  Tác giả  Nguyễn Minh Tuấn (2016) trong bài viết 
“Một số  kết quả  và kinh nghiệm về  cải cách hành chính  ở  tỉnh Quảng 
Ninh”. Tác giả Nguyễn Thị  Mai Phương (2015),  “Phát triển nhân lực tại  
Tập đoàn Công nghiệp Than ­ Khoáng sản Việt Nam”. 


7
Với những công trình khoa học đã được công bố  nêu trên, có thể 
nhận thấy, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về  NNL và phát triển 
NNL  ở  tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt, chưa có công trình nào đi sâu nghiên 
cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL từ năm  
2005 đến năm 2015 dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng.
1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố 
liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
1.2.1. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có  
liên quan đến đề tài
Trên cơ sở  nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các công trình khoa 
học nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, tác giả nhận thấy những  
kết quả nghiên cứu mà các công trình đã được công bố là khá toàn diện, 
góp phần làm sáng tỏ  nhiều vấn đề  lý luận và thực tiễn về  phát triển  
NNL trên những nội dung cơ bản sau:
Một là, các công trình khoa học nghiên cứu dù tiếp cận ở nhiều góc độ,  
phạm vi khác nhau nhưng đều khẳng định tầm quan trọng và yêu cầu  
khách quan phải phát triển NNL như là cơ sở tiền đề quan trọng để thúc 
đẩy quá trình phát triển KT ­ XH của đất nước. Bước đầu làm rõ khái  

đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL từ năm 2005  
đến năm 2015, đây là khoảng trống về khoa học luận án tập trung nghiên 
cứu. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài là những nguồn 
tư liệu phong phú, đa dạng mà nghiên cứu sinh có thể khai thác, kế thừa, 
nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện luận án của mình.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được 
công bố, bám sát đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khoa học  
lịch sử Đảng, luận án tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
Một là, làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh 
Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015, bao gồm: Vị trí vai trò 
NNL trong quá trình phát triển KT­XH; điều kiện tự nhiên, KT­XH tỉnh Quảng  
Ninh tác động đến phát triển NNL; thực trạng NNL tỉnh Quảng Ninh trước năm 
2005; chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển NNL.
Hai là, làm rõ chủ  trương, sự  chỉ  đạo phát triển NLL của Đảng 
bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2015.
Ba là, trong khuân khổ của luận án, nghiên cứu sinh tập trung vào các  
vấn đề: 1. Chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển NNL; 2. Chỉ đạo đào tạo,  
bồi dưỡng phát triển NNL; 3. Chỉ đạo đổi mới cơ chế chính sách thu hút NNL.
Bốn là,  từ  quá trình Đảng bộ  tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát  
triển NNL 2005­2015, luận án đưa ra những nhận xét về   ưu điểm, hạn 
chế, chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó. Đồng thời đúc  
rút những kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào hiện thực.
. Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án cho thấy,  
phát triển NNL có vai trò, vị trí, tầm quan trọng trong chiến lược phát triển  
KT­XH chung của đất nước, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất 
nước. Chính vì vậy, phát triển NNL đã trở thành chủ đề được các nhà khoa 
học cũng như  các nhà hoạch định chính sách trong và ngoài nước quan tâm  
nghiên cứu  ở  nhiều góc độ, phạm vi khác nhau được thể  hiện bằng sự  đa 

hình thành trong  quá trình nghiên  cứu, xem xét con người với tư  cách  là 
một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên 
thế  giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm NNL với các góc độ 
khác nhau. Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực  
lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động  
và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó,  
quyết định đến năng suất lao động và tiến bộ xã hội. Ở đây, con người được 
xem xét từ  góc độ  là lực lượng lao động cơ  bản của xã hội. Tổ  chức Lao 
động quốc tế  (ILO) đưa ra quan niệm về  NNL như  sau:   Theo nghĩa rộng, 
NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp sức lực  
con người cho sự phát triển. Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của 
xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KT­XH, bao gồm các nhóm dân cư trong 
độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quá trình lao động, sản xuất xã 
hội, tức là toàn bộ cá nhân có thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể 
các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực được huy động vào quá trình lao động
Từ  xem xét dưới các góc độ  khác nhau có thể  có những khái  
niệm khác nhau về NNL, theo tác giả, NNL là tổng hòa các yếu tố  về 


10
số  lượng, cơ  cấu và chất lượng nhân lực (trí lực, thể  lực, tâm lực) đã, 
đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh để huy động vào quá trình thúc đẩy  
phát triển KT­XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Theo đó, số lượng NNL 
là tổng số người lao động đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển KT­ 
XH. Một quốc gia nếu không có số lượng nhân lực lao động cần thiết thì  
không thể phát huy sức mạnh của NNL trong qua trinh phat triên KT­ XH.
́ ̀
́
̉
 

Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển NNL. 
Theo tác giả   phát triển NNL là quá trình làm biến đổi về  
số  lượ ng,  chất lượng và cơ cấu NNL ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu  
cầu phát triển KT ­ XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Theo đó, sự lãnh  
đạo phát triển NNL là tác động của chủ thể lãnh đạo bằng những chủ  
trương, chính sách, định hướng lớn nhằm biến đổi về số lượng, chất  
lượng và cơ cấu NNL. Trong quá trình phát triển, sự tăng lên về số lượng 
nhân lực  có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ  sở  đáp  ứng yêu cầu  phát triển 
ngành nghề, lĩnh vực trong từng giai đoạn nhất định. Phát triển chất lượng  
nhân lực là sự tăng lên không ngừng vê th
̀ ể lực, trí lực và tâm lực của người 
lao động (vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là cộng đồng, tập thể 
người lao động). Phát triển về cơ  cấu là quá trình xây dựng cơ cấu NNL  
khoa học, hợp lý, làm cơ sở để phát triển về chất NNL, làm thay đổi cơ cấu 
về giới, độ tuổi, trình độ của nhân lực ở các vùng, miền, khu vực khác nhau 
môt cach phù h
̣ ́
ợp nhằm huy động sức mạnh từ NNL này. Sự thay đổi về cơ 
cấu theo hướng khoa học và hợp lý là yếu tố góp phần quan trọng đam bao
̉
̉  
sự phat triên bên v
́ ̉
̀ ưng cua NNL, góp ph
̃
̉
ần phát triển bên v
̀ ưng nên kinh tê đât
̃
̀

gần gấp đôi so với bình quân chung cả nước và nằm trong nhóm các địa 
phương có tốc độ  tăng trưởng cao nhất cả nước. Quy mô GDP giá hiện  
hành năm 2010 gấp 1,8 lần năm 2005.  Tổng thu ngân sách nhà nước trên 
địa bàn 5 năm ước đạt 69.869 tỷ đồng, tăng bình quân 29,4%/năm, là một 
trong 6 địa phương có số thu ngân sách cao nhất toàn quốc.
2.1.2.3 Về văn hóa ­ xã hội
Quảng Ninh là tỉnh có dân số  không cao so với bình quân chung 
của cả nước, theo điều tra dân số thời điểm 1/4/2009, dân số Quảng Ninh là  
1.144.988 người đứng thứ 30/63 tỉnh thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trong 
vùng đồng bằng sông Hồng. Với 22 dân tộc khác nhau, trong đó, có 5 dân tộc  
có dân số trên 1.000 người, tỉnh Quảng Ninh là “nơi hội tụ, giao thoa, thống  
nhất trong đa dạng của nền văn minh Sông Hồng”, các dân tộc phân bố đều 
trên lãnh thổ của Tỉnh, có tinh thần đoàn kết, chung sống hòa thuận tạo điều  
kiện thuận lợi trong việc cố kết cộng đồng dân cư của toàn tỉnh.
2.1.3. Thực trạng nguồn nhân lực ở Quảng Ninh trước năm 2005
Theo thống kê, năm 2005 dân số  tỉnh Quảng Ninh là 1.096.112  
người đứng thứ 30/63 tỉnh, thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trong vùng 
đồng bằng sông Hồng, có 702.121 người trong độ  tuổi lao động, chiếm 
64,1%, số  lao động có việc làm 533.730 người đạt 76%. Đây là nguồn 
lực quan trọng góp phần phát triển KT­XH của tỉnh. Sự gia tăng cả về số 


12
lượng và chất lượng NNL đóng vai trò quyết định, đưa KT­XH của tỉnh  
phát triển nhanh, cơ  cấu kinh tế  chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ 
trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, điều đó đưa đến  
sự thay đổi quan trọng trong cơ cấu và chất lượng NNL.
Tuy nhiên, NNL ở Quảng Ninh trước năm 2005 cũng bộc lộ nhiều 
điểm hạn chế: Công tác quy hoạch chưa theo kịp tiến trình phát triển, 
quản lý quy hoạch còn yếu, điều chỉnh quy hoạch chưa kịp thời. Đặc  

Xuất phát từ nhận thức khách quan, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác ­  
Lênin, từ  khi ra đời, để  thực hiện sứ  mệnh lãnh đạo cách mạng Việt  


13
Nam, Đảng  Cộng sản Việt Nam  luôn nhận thức rõ vai trò quan trọng 
của vấn đề con người.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  VIII (1996), lần đầu tiên  
thuật   ngữ   “nguồn  lực   con  người”   được   sử   dụng  trong  văn  kiện  của  
Đảng: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố  cơ bản cho  
sự  phát triển nhanh và bền vững”. Sự nghiệp CNH, HĐH được Đại hội 
VIII của Đảng khẳng định với tính chất là chiến lược thì vấn đề  phát 
triển NNL càng được chú trọng. Đại hội khẳng định: “Nâng cao dân trí, 
bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân  
tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại”. 
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), vấn đề “nguồn 
lực con người” tiếp tục được Đảng ta khẳng định, trong đó nhấn mạnh  
“phát huy nguồn lực con người ­ yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng  
trưởng kinh tế nhanh và bền vững” .
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  X (2006), Đảng đã chỉ  rõ  
để thực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế 
tri thức phải phát triển NNL chất lượng cao, tức là chuyển hướng chiến 
lược phát triển NNL theo chiều rộng sang chiều sâu, coi trọng và gia tăng  
nhanh   chất   lượng   của   NNL:   “phát   triển   nhanh   nguồn   nhân   lực   chất  
lượng   cao,   nhất   là   chuyên   gia   đầu   ngành.   Chú   trọng   phát   hiện,   bồi 
dưỡng, trọng dụng nhân tài; nhanh chóng xây dựng cơ  cấu nguồn nhân  
lực hợp lý về ngành nghề, trình độ đào tạo, dân tộc, vùng miền”.
2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển nguồn 
nhân lực (2005 ­ 2010)
2.2.1.   Quan   điểm   phát   triển  nguồn   nhân   lực  của   Đảng   bộ   tỉnh  

tăng nhanh lao động khu vực phi nông nghiệp. Đến năm 2010 lao động 
khu   vực   nông,   lâm,   ngư   nghiệp   còn   khoảng   30­35%,   khu   vực   công 
nghiệp, xây dựng 30­32%, khu vực d ịch vụ 35­38%.  Có kế  hoạch đào 
tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ  quản lý, khoa học kỹ  thuật, công  
nhân kỹ  thuật. Tỷ  lệ  lao động được đào tạo nghề  đạt từ  30­35% vào 
năm 2010 và 35­40% vào năm 2020. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo. 
Đào tạo công chức nhà nước các cấp, đào tạo các nhà doanh nghiệp.
2.2.3. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển nguồn nhân lực
Trên cơ sở mục tiêu phát triển NNL trong 5 năm 2005 ­ 2010, Đại hội  
đại biểu Đảng bộ  tỉnh Quảng Ninh lần thứ  XII (12/2005) đã xác định rõ 
nhiệm vụ và giải pháp phát triển NNL trong giai đoạn 2005 ­ 2010:
Thứ  nhất, phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục ­ 
đào tạo một cách toàn diện để  đáp  ứng nhu cầu học tập của nhân dân,  
nâng cao dân trí và góp phần đào tạo NNL cho sự nghiệp CNH, HĐH 
Thứ  hai,  đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.  
Củng cố và hiện đại hóa cơ sở vật chất các trường dạy nghề, trung học, cao 
đẳng hiện có theo hướng tập trung quy mô lớn vào một số  đầu mối. Phát 
triển mạnh các dịch vụ  giáo dục ­ đào tạo, phấn đấu để  Quảng Ninh trở 
thành một trong những trung tâm đào tạo NNL của Vùng kinh tế trọng điểm 
Bắc Bộ. Có chính sách khuyến khích để thành lập Trường đại học và xây 
dựng các cơ sở giáo dục ­ đào tạo chất lượng cao trên địa bàn tỉnh. 
Thứ  ba,  tiếp tục thực hiện và bổ  sung chính sách  ưu đãi thu hút  
nhân tài về  công tác tại tỉnh và hỗ  trợ  khuyến khích cán bộ, công chức 
học tập nâng cao trình độ.
Thứ  tư, có cơ chế khuyến khích phát triển hệ thống dạy nghề, đa 
dạng hóa các loại hình dạy nghề, đổi mới, sắp xếp lại các cơ  sở  dạy  
nghề  và trung tâm giới thiệu việc làm theo hướng hiện đại hóa để  học 
sinh khi ra trường thích  ứng được yêu cầu của sự  nghiệp công nghiệp 



Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Ban chấp hành (BCH) Đảng bộ tỉnh đã 
ban hành Chương trình hành động số 06­CTr/TƯ ngày 25­9­2006 thực hiện  
Nghị  quyết Đại hội Đảng toàn quốc và Nghị  quyết Đại hội Đảng bộ  tỉnh  
lần thứ XII trong đó xác định nhiệm vụ: Thực hiện có hiệu quả chương trình  
cải cách hành chính, thực hiện nghiêm quy trình và công khai các thủ  tục  
hành chính trong giải quyết công việc của cơ quan Nhà nước để  nhân dân 
biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện… Đề cao vai trò, hiệu lực quản lý  
nhà nước  ở  các cấp, các ngành,… Từng bước hiện đại hoá bộ  máy hành  
chính theo hướng áp dụng công nghệ quản lý tiên tiến và tin học hoá. 
2.3.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật
* Nguồn nhân lực ngành công nghiệp ­ xây dựng


16
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, với sự phát triển mạnh mẽ 
của một số ngành công nghiệp Trung  ương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh  
(than, đóng tàu…), sự  phát triển nhiều ngành nghề  mới của công nghiệp  
địa phương và các cơ sở sản xuất có sự đầu tư của nước ngoài đã đặt ra 
yêu cầu về bổ sung NNL ngày càng lớn. Trước đòi hỏi của một tỉnh trọng 
điểm kinh tế, có ngành công nghiệp ­ xây dựng phát triển mạnh, yêu cầu 
phát  triển  NNL  chuyên  môn  kỹ   thuật,   nhất  là công nhân  lành  nghề  ở 
Quảng Ninh trở thành một yêu cầu mang ý nghĩa quan trọng,vì vậy, công 
tác trên luôn được Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh quan tâm lãnh đạo, chỉ  đạo 
bằng các nghị  quyết, các chương trình hành động, và giám sát thông qua 
các báo cáo tổng kết hàng năm.
* Nguồn nhân lực du lịch ­ dịch vụ
Tỉnh Quảng Ninh với vị trí địa lý thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên  
nhiên phong phú; văn hóa đa dạng. Đặc biệt có Vịnh Hạ  Long ­ hai lần 
được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế  giới và được vinh  
danh là Kỳ  quan thiên nhiên mới của thế  giới, cùng với Vịnh Bái Tử 

TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015
3.1. Yêu cầu mới và chủ  trương đẩy mạnh phát triển nguồn 
nhân lực của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010 ­ 2015)
3.1.1.   Yêu   cầu   mới   đối   với   phát   triển   nguồn   nhân   lực   của   tỉnh  
Quảng Ninh (2010­2015)
3.1.1.1. Tình hình thế giới và trong nước
Trên thế giới, xu thế toàn cầu hoá tiếp tục diễn ra nhanh chóng, xoay  
quanh tâm điểm là xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức. Trong những  
năm đầu thế kỷ XXI, kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển  
của các quốc gia, cả những nước phát triển và đang phát triển.
Đến năm 2010, sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt  
Nam đã đạt những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, có những bước tăng  
trưởng vượt bậc và từng bước hội nhập sâu rộng với thế giới và khu vực. 
Trong bối cảnh tình hình thế  giới và Việt Nam có những thay đổi nhanh 
chóng, đòi hỏi chủ trương, chính sách của Đảng phải phù hợp với tình hình  
mới. Vấn đề phát triển NNL cũng trở nên cấp thiết hơn.
3.1.1.2. Yêu cầu mới về phát triển nguồn nhân lực ở Quảng Ninh
Kinh tế  Quảng Ninh trong giai  đoạn 2005­2010 từng bước phát 
triển ổn định và tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức cao.
So với tốc độ phát triển chung của cả nước, giai đoạn 2005­2010  
kinh tế  Quảng Ninh phát triển  ổn định với tốc độ  tăng trưởng duy trì ở 
mức cao. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra, tốc độ và chất lượng kinh tế 
của Quảng Ninh chưa như mong muốn, chưa tương xứng với tiềm năng, 
thế  mạnh của địa phương,  NNL của Quảng Ninh chưa đáp  ứng được  
yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
3.1.1.3. Quan điểm, mục tiêu, phương hướng của Đảng về  phát  
triển nguồn nhân lực
* Quan điểm mới của Đảng về phát triển nguồn nhân lực
Thực hiện được mục tiêu phát triển con người mà Cương lĩnh xây  
dựng đất nước trong thời kỳ  quá độ  lên chủ  nghĩa xã hội (bổ  sung, phát  

Ba là, ưu tiên đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ bao gồm: đội 
ngũ cán bộ, công chức, viên chức, công nhân kỹ  thuật. Tập trung đào tạo, 
phát triển nguồn nhân lực là cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức hành chính  
Nhà nước, chú trọng nhân lực khoa học ­ công nghệ  trình độ  cao, cán bộ 
quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, nhân viên giỏi góp 
phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế;
Bốn là, đẩy mạnh xã hội hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển 
nguồn nhân lực.Xây dựng đội ngũ công chức hành chính theo hướng chuyên 
nghiệp hóa. Đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với quy hoạch, nhu cầu sử dụng,  
lấy đào tạo nghề, đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao làm làm khâu  
đột phá trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.
3.1.2.2. Mục tiêu
Hệ  thống nhân lực phát triển đầy đủ toàn diện đáp  ứng nhu cầu  
phát triển KT­XH của tỉnh với các mục tiêu: (1) Tỉnh Quảng Ninh sẽ  là  
một điểm đến cho sinh viên giỏi và những người lao động tay nghề cao từ  
trong và ngoài nước; (2) Khả năng tuyển dụng chuyên nghiệp và công tác  
tuyển dụng dựa vào năng lực lao động; (3) Nâng cao nhận thức, chất lượng  
GD&ĐT các cấp học, trong đó quan tâm phát triển đào tạo nghề, làm tăng  


19
khả năng tuyển dụng và nhu cầu đối với các học viên tốt nghiệp hệ nghề;  
(4) Giải quyết những hạn chế và từng bước đào tạo nhân lực trình độ cao  
đáp  ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, giảm tỷ  lệ  thất nghiệp và tăng  
năng suất lao động của lực lượng lao động; (5) Đẩy mạnh tính năng động  
trong xã hội và khuyến khích quá trình học tập suốt đời của người dân;  (6) 
Tạo ra một đội ngũ lao động có tay nghề và chất lượng cao để thu hút các  
nhà đầu tư; (7) Nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh và hiệu  
quả, dẫn đến những kết quả khả quan cho cả người sử dụng lao động cũng  
như mức lương tốt hơn cho người lao động.

NNL được xác định đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện 


20
nhiệm vụ  phát triển KT­XH của tỉnh. Trong bối cảnh tình hình mới với  
nhiều cơ hội mới, song cũng phải đối đầu với nhiều thách thức lớn, gay gắt  
hơn trước, càng đòi hỏi công tác quy hoạch nói chung và quy hoạch NNL nói  
riêng phải được đẩy mạnh hơn nữa, đây là vấn đề  được các cấp đảng, 
chính quyền tỉnh Quảng Ninh xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt 
nhiệm kỳ của Đại hội XIII.
3.2.2. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực
3.2.2.1. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong các cơ  quan  
hành chính, sự nghiệp
Trong giai đoạn 2005­2010, công tác đào tạo cán bộ trong HTCT đã góp 
phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong HTCT của tỉnh. 
Tuy nhiên, trong thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau cho nên vẫn tồn 
tại những hạn chế, yếu kém nhất định, do đó, để  đáp ứng yêu cầu phát  
triển KT­XH và thực hiện mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 để  Quảng 
Ninh trở  thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, Ban Thường vụ 
Tỉnh ủy Quảng Ninh xác định cần phải tập trung:  “Xây dựng nguồn nhân  
lực chất lượng cao, trong đó có việc nâng cao chất lượng cán bộ, công  
chức; xây dựng đội ngũ cán bộ  có đủ  năng lực lãnh đạo, chỉ  đạo thực  
hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế ­ xã hội trong tình hình mới, đặc biệt  
là nhiệm vụ xây dựng tỉnh công nghiệp, dịch vụ theo hướng hiện đại đồng  
thời bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh
3.2.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên môn, kỹ thuật
* Nguồn nhân lực ngành công nghiệp ­ xây dựng, công nhân kỹ  
thuật lành nghề
Trong nh ững năm 2010 ­ 2015, bám sát chủ  trươ ng của Đảng, 

ương Đảng (khoá X)  về  nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị  quyết 
số  24/2008/NQ­CP ngày 28­10­2008 của Chính phủ  ban hành  Chương  
trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26­NQ/TW của  
BCH Trung  ương Đảng (khoá X)  và Quyết định số  1956/QĐ­TTg ngày 
27­11­2009 của Thủ  tướng Chính phủ  phê duyệt Đề  án “Đào tạo nghề  
cho lao động nông thôn đến năm 2020", ngày 31­5­2010 của Ban Thường 
vụ  Tỉnh uỷ  Quảng Ninh  ra ban hành Chỉ  thị  số  28­CT/TƯ  Tăng cường  
lãnh đạo, chỉ  đạo công tác dạy nghề  cho lao động nông thôn đến năm  
2020, trong đó yêu cầu các cấp uỷ đảng, chính quyền, các sở, ban, ngành, 
Mặt trận Tổ  quốc, các tổ  chức đoàn thể  trong tỉnh triển khai thực hiện:  
Đưa nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào chương trình, kế 
hoạch thực hiện Nghị  quyết Đại hội Đảng bộ  tỉnh lần thứ  XIII, nhiệm  
kỳ 2010­2015 và cụ thể cho từng năm; chỉ đạo các sở, ngành liên quan tham 
mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng Đề án đào tạo nghề cho lao động  
nông thôn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020; đồng thời chuẩn bị các điều kiện  
cần thiết để thực hiện Đề án theo chức năng, nhiệm vụ được giao; tiếp tục  
chỉ đạo cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đào tạo nghề; đẩy mạnh  
xã hội hoá công tác đào tạo nghề; rà soát, quy hoạch phát triển mạng lưới cơ 
sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, trong đó chú trọng phát triển các cơ sở đào  
tạo nghề cho lao động nông thôn; phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và 
cán bộ quản lý đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu về chất lượng, số lượng và 
cơ cấu ngành nghề.
Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, ngày 06­01­2011, UBND tỉnh  
Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 24/QĐ­UBND về việc phê duyệt  
Đề  án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Quảng Ninh đến năm  
2020, theo đó:  Tăng cường đầu tư  để  phát triển đào tạo nghề  cho lao  
động nông thôn; thực hiện các chính sách theo quy định của Nhà nước  
nhằm bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với  



ứng được yêu cầu phát triển KT­XH của địa phương. Đó là quá trình tự 
hoàn thiện, dần nâng cao nhận thức, phương pháp tổ  chức thực hiện,  
mục tiêu của công tác phát triển NNL. Theo đó,  công tác phát triển 
NNL  của tỉnh giai  đoạn 2010­2015  đã có những chuyển  biến  tích 
cực, đặc biệt với với việc ban hành Nghị quyết số  15­NQ/TU về “Đẩy 
mạnh cải cách hành chỉnh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao  
tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030”... thể  hiện quyết  
tâm cao trong việc thực hiện 3 đột phá chiến lược mà Đại hội lần thứ XI 
của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của tỉnh đã đề ra, trong đó: 
tạo bước chuyển mạnh về phát triển NNL, trọng tâm là giáo dục và đào  
tạo, KH&CN. Nghị  quyết số  15­NQ/TU, đã góp phần nâng cao nhận  


23
thức   cho   toàn  xã  hội,   huy   động   được   sức   mạnh   của  HTCT,   các 
thành phần kinh tế trong tỉnh cho phát triển NNL.
Chương 4
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về 
phát triển nguồn nhân lực (2005­2015)
4.1.1. Ưu điểm
Một là, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã quán triệt, vận dụng đúng  
đắn, sáng tạo chủ trương của Đảng về phát triển NNL vào thực tiễn địa  
phương, đề ra chủ trương, biện pháp phát triển NNL phù hợp.
Hai là, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh bám sát yêu cầu phát triển kinh  
tế ­ xã hội của địa phương để chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực.
Ba là, số  lượng và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được  
nâng cao.
4.1.2. Hạn chế
Một là,  việc quán triệt chủ  trương và tổ  chức thực hiện phát  

nhưng chưa xây dựng được đội ngũ chuyên gia đầu ngành, đội ngũ cán bộ có 
trình độ chuyên môn, quản lý giỏi; tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công 
chức, viên chức chưa cao.
Ba là, cơ cấu lao động trong các ngành nghề, lĩnh vực, địa phương 
chưa hợp lý; cơ cấu lao động đã qua đào tạo chưa cân đối, chất lượng đào  
tạo còn hạn chế  nên người lao động khó tìm được việc làm sau đào tạo;  
trình độ ngoại ngữ của người lao động và cán bộ, công chức còn hạn chế,  
nên việc đào tạo sau đại học, đào tạo ngoài nước gặp nhiều khó khăn; thiếu  
cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ và chuyên gia kỹ thuật giỏi, nhất là trong 
lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý KH&CN và các ngành kinh tế  mũi nhọn 
của tỉnh.
4.2.  Kinh   nghiệm   từ   quá   trình   Đảng   bộ   tỉnh   Quảng  Ninh 
lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực (2005­2015)
4.2.1.   Nhận   thức   đúng   về   tầm   quan   trọng   của   phát   triển  
nguồn nhân để xác định chủ trương và chỉ đạo thực hiện phù hợp
Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển NNL trên địa bàn  
tỉnh là quá trình nâng cao nhận thức, chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của  
các cấp ủy Đảng trong công tác này. Thể sự đoàn kết, thống nhất, sâu sát 
và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành  ở tất cả các cấp ủy và  
HTCT. Tích cực tranh th ủ s ự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, 
Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung  ương, huy động sự  vào cuộc tích  
cực, đồng bộ của cả HTCT, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân 
để  tổ  chức thực hiện nhiệm vụ  đạt hiệu quả  cao. Với việc c ác cấp 
ủy Đảng của tỉnh nh ận thức rõ sự  cần thiết về  nâng cao chất lượng, 
tăng   cường   số   lượ ng,   h ợp   lý   về   cơ   cấu   NNL   cho   tỉnh,   hiểu   đúng  
những thu ận lợi, khó khăn, thời cơ  và thách thức trong đào tạo NNL; 
dự báo được xu hướ ng phát triển KT­XH c ủa tỉnh và yêu cầu về  NNL  
trong th ời kỳ m ới… điều này đượ c quán triệt sâu sắc, thể  hiện cụ thể 
trong các nghị  quy ết, ch ủ  tr ương, bi ện pháp lãnh đạo, chỉ  đạo và tổ 
chức thực hiện của các cấp ủy. 

lướ i giáo dục nghề  nghiệp   tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 
đến năm 2030... 
4.2.3.   Chú   trọng   nâng   cao   chất   lượng   đào   tạo,   bồi   dưỡng   nguồn  
nhân lực , nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
Đào tạo, bồi dưỡng NNL có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát 
triển NLL của mỗi quốc gia, hay một địa phương trong quá trình CNH,  
HĐH. Đây cũng là một trong những kinh nghiệm quan trọng nhất của công tác  
phát triển NNL của tỉnh Quảng Ninh. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, dự báo  
nhu cầu NNL trong giai đoạn mới và để chủ động trong công tác phát triển 
NNL, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo thực hiện việc sắp xếp lại hệ 
thống các cơ  sở  đào tạo (đại học, cao đẳng và dạy nghề) theo hướng tập  
trung đào tạo NNL có chất lượng cao, đáp  ứng yêu cầu phát triển của các  
ngành, lĩnh vực mũi nhọn; chú trọng đào tạo các ngành kinh tế, kỹ thuật phục  
vụ sự phát triển của các ngành dịch vụ hiện đại, dựa trên công nghệ cao. Đầu  
tư nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô đào tạo của các cơ sở này. Theo 
đó, tỉnh Quảng Ninh đã lựa chọn được các ngành kinh tế mũi nhọn để ưu tiên  
đào tạo, phát triển NNL phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo  
hướng chuyển dịch lao động ngành nông nghiệp sang lao động ngành công  
nghiệp, xây dựng và dịch vụ, đặc biệt là du lịch. NNL của tỉnh đã từng bước 
phát triển cả  về số lượng và chất lượng, nâng cao trình độ học vấn, chuyên 



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status