đảng bộ tỉnh phú thọ lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân gian tu 1986 den 2009 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN
VĂN HÓA DÂN GIAN TỪ 1986 ĐẾN 2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN
VĂN HÓA DÂN GIAN TỪ 1986 ĐẾN 2009

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:

60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGHIÊM ĐÌNH VỲ

1.1. Phú Thọ - nơi hội tụ nhiều di sản văn hóa dân gian đặc sắc................................... 7
1.1.1. Giới thiệu chung về Phú Thọ ..................................................................... 7
1.1.2. Di sản văn hóa dân gian đất Tổ - đặc trưng và biểu hiện .......................... 11
1.2. Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo tồn, phát triển di sản văn hóa
dân gian từ 1986 đến 1996 ...................................................................... 23
1.2.1. Thực trạng công tác bảo tồn, phát triển di sản văn hóa dân gian đất
Tổ trước 1986 ......................................................................................... 23
1.2.2. Chủ trương bảo tồn, phát triển di sản văn hóa dân gian của Đảng
bộ Tỉnh từ 1986 đến 1996 ....................................................................... 25
1.3. Quá trình chỉ đạo thực hiện ................................................................................. 30
Chương 2. ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN,
PHÁT TRIỂN DI SẢN VĂN HÓA DÂN GIAN TỪ 1997 ĐẾN 2009 ......... 35
2.1. Yêu cầu khách quan cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát huy di sản văn
hóa dân gian đất Tổ ................................................................................ 35
2.1.1. Đặc điểm tình hình Phú Thọ sau khi tách tỉnh ......................................... 35
2.1.2. Yêu cầu khách quan cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát huy di
sản văn hóa dân gian đất Tổ trong điều kiện mới .................................... 37
2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về đẩy mạnh công tác bảo tồn và
phát triển di sản văn hóa dân gian từ 1997 đến 2009 ............................... 42
2.2.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam ............................................... 42
2.2.2. Quan điểm của Đảng bộ tỉnh ................................................................... 44
2.2.3. Quá trình chỉ đạo thực hiện ..................................................................... 47
Chương 3. NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ............................................. 62
3.1. Nhận xét chung ................................................................................................... 62
3.1.1. Những thành tựu...................................................................................... 62
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân .......................................................................... 70
3.2. Kinh nghiệm và đề xuất một số khuyến nghị ...................................................... 79
3.2.1 Kinh nghiệm............................................................................................. 79



Văn hóa dân gian

UNESCO:

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp
quốc

UBND:

Ủy ban nhân dân

HĐND:

Hội đồng nhân dân

VH-TT & DL: Văn hóa thể thao và du lịch
KT - XH:

Kinh tế, xã hội

WTO:

Tổ chức Thương mại Thế giới


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Phú Thọ là vùng đất cổ có bề dày truyền thống lịch sử và văn hiến.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, ông cha ta đã cùng nhau đoàn kết để tạo

đổ vỡ, đứt gãy trong truyền thống gia đình, cộng đồng, trong các giá trị văn
hoá dân tộc…mới là nguy cơ tiềm tàng và nguy hiểm nhất. Không ít quốc
gia đã trả giá đắt cho việc quá chú trọng phát triển kinh tế mà coi nhẹ văn
hoá, quá quan tâm đáp ứng nhu cầu phát triển hiện đại mà lãng quên truyền
thống, di sản, bản sắc văn hoá của mình.
Để tận dụng được những thuận lợi, vượt qua được những thách thức,
vấn đề đặt ra là phải có được định hướng và giải pháp, nhằm tăng cường
mối tương thích giữa bảo tồn và phát triển DSVH dân tộc với phát triển
kinh tế - xã hội bền vững. Có thể nói, đây không chỉ là một nhiệm vụ cụ thể
mà cũng là định hướng, giải pháp trong việc nghiên cứu xây dựng và phát
triển đời sống văn hoá, giữ gìn truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm
tới vấn đề giữ gìn các DSVH dân tộc, tạo điều kiện để làm sống dậy mọi
tiềm năng như là một nguồn nội sinh mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và tiến bộ xã hội. Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII đã nêu rõ khái niệm
DSVH và khẳng định nhiệm vụ bảo tồn và phát triển các DSVH trong bối
cảnh mới ở nước ta: “DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là
cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu
văn hoá. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá
truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá
vật thể và văn hoá phi vật thể” []
Phát huy truyền thống là vùng cội nguồn của nền văn hoá dân tộc,
hoà vào không khí chung của cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân
dân Phú Thọ đã hăng hái hưởng ứng tham gia, góp phần xứng đáng cùng
toàn Đảng, toàn dân ta trong sự nghiệp bảo tồn, phát triển DSVH, giữ vững
bản sắc văn hoá dân tộc.

2





- Phú Thọ, quê hương đất Tổ, Sở Văn hóa thông tin thể thao Phú
Thọ…
Những công trình nghiên cứu trên là những nguồn tư liệu quý báu gợi
mở giúp tác giả tìm được hướng giải quyết các nhiệm vụ của luận văn. Tuy
nhiên, đa số các tác phẩm trên đều mới chỉ khai thác VHDG tỉnh gắn liền
với văn hoá - nghệ thuật nói chung, chưa thực sự có một công trình khoa
học nào tập trung nghiên cứu về: Đảng bộ Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo
tồn, phát triển VHDG.
3. Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích: Đề tài tập trung làm sáng tỏ quan điểm đường lối và các
Nghị quyết của Đảng bộ Phú Thọ về lĩnh vực bảo tồn và phát huy DSVH
đất Tổ. Quá trình tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác bảo tồn, phát triển
DSVHDG trong thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến 2009) - nền văn hoá dân gian
gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước. Từ đó rút ra một số kinh
nghiệm và đề xuất một số khuyến nghị, góp phần nâng cao hiểu biết về vai
trò, vị trí, tầm quan trọng của tỉnh Phú Thọ nói chung và Đảng bộ Tỉnh nói
riêng trong sự nghiệp bảo tồn, phát triển DSVH dân gian của cả nước.
* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết
các nhiệm vụ sau:
+ Tìm hiểu cơ sở VHDG địa phương
+ Phân tích chủ trương, đường lối bảo tồn, phát huy DSVHDG của
Đảng bộ Phú Thọ qua hai giai đoạn 1986 - 1996 và từ 1997 - 2009.
+ Tìm hiểu thực tiễn quá trình chỉ đạo thực hiện việc bảo tồn, phát
triển các DSVH dân gian dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh với những
thành tựu và kinh nghiệm.
+ Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
chỉ đạo bảo tồn và phát triển DSVH dân gian đất Tổ trong giai đoạn tiếp
theo.

- Bổ sung thêm những tư liệu mới về DSVHDG
- Làm rõ vấn đề đang nghiên cứu trên hai phương diện: chủ trương
đường lối của Đảng bộ tỉnh về công tác bảo tồn, phát huy DSVHDG Phú
5


Thọ và thực tiễn lịch sử quá trình thực hiện đường lối, chủ trương đó. Từ đó,
rút ra những kinh nghiệm bổ ích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
công tác bảo tồn, phát huy DSVHDG đất Tổ nói riêng và DSVHDG Việt
Nam nói chung.
- Làm tư liệu hỗ trợ giảng dạy môn Địa phương học, Văn hóa học…
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành
3 chương:
Chương 1: Công tác bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa dân gian Phú
Thọ dưới sự lãnh đạo Đảng bộ tỉnh trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1996).
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo tồn và phát
huy Di sản văn hoá dân gian đất Tổ từ 1997 đến 2009.
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm

6


Chương 1
CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
DÂN GIAN PHÚ THỌ DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO ĐẢNG BỘ
TỈNH TRONG 10 NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI (1986 - 1996)

1.1 Phú Thọ - nơi hội tụ nhiều di sản VHDG đặc sắc
1.1.1 Giới thiệu chung về Phú Thọ

đất đều in bóng dáng cha ông, mỗi bước đi là một bước gặp di tích lịch sử.
Không chỉ nhiều di tích lịch sử cổ xưa mang đậm dấu ấn quá trình
dựng nước và giữ nước từ thời Hùng Vương, Phú Thọ còn có các di tích
kháng chiến như: chiến khu Vần - Hiền Lương (Hạ Hoà), khu lưu niệm Chủ
tịch Hồ Chí Minh ở Cổ Tiết (Tam Nông), Chu Hoá (Lâm Thao)… Là nơi
lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc của tổ tiên, mang tính giáo dục
truyền thống uống nước nhớ nguồn: lễ hội Đền Hùng, hội Phết (xã Hiền
Quang), hội Đào Xá...; nhiều trò diễn, truyền thuyết - huyền thoại về dựng
nước, truyện cười giàu tính nhân văn, mang nét đặc sắc của vùng đất Tổ, đặc
trưng Văn hoá Lạc Hồng.
Tất cả tạo điều kiện thuận lợi cho Phú Thọ nảy sinh và phát triển một
nền VHDG vô cùng phong phú, bao gồm nhiều thể loại: Ca dao, tục ngữ,
truyện kể truyền miệng, trò diễn, phong tục tập quán, lễ hội… thể loại nào
cũng đậm đà tính dân tộc, giàu màu sắc đại phương, vừa bảo lưu nhiều yếu
tố thô sơ cổ truyền, vừa tiếp thu có sáng tạo những tinh hoa văn hoá láng
giềng.
Bên cạnh điều kiện tự nhiên thuận lợi, những tiền đề về điều kiện
kinh tế, văn hóa, xã hội cũng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo tồn,
phát triển nền VHDG nơi đây.
* Vài nét về kinh tế - văn hóa- xã hội
Sau hơn 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ
quốc thắng lợi, Việt Nam bắt tay vào công cuộc xây dựng CNXH trên phạm
vi cả nước. Trong không khí hết sức phấn khởi, hoà vào niềm vui chung của
dân tộc, Đảng bộ, quân và dân tỉnh Vĩnh Phú bắt tay vào sự nghiệp khôi
8


phục, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội với tinh thần “Tất cả để xây dựng
CNXH, tất cả vì tổ quốc giàu mạnh và hạnh phúc của nhân dân”. Bằng
những chủ trương, biện pháp cụ thể, tích cực, phù hợp với tình hình ở địa

kỳ này là gắn học tập với lao động sản xuất, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình,
nhà trường và xã hội. Tính đến năm 1985, tất cả các huyện, thành phố, thị xã
trong toàn tỉnh có ít nhất một trường THPT, bình quân 1/4 người dân đi học,
tỷ lệ học sinh đến tuổi đi học đạt 45,3%. Năm 1992, Vĩnh Phú là một trong
6 tỉnh trên cả nước được Bộ Giáo dục công nhận đã hoàn thành việc xóa mù
chữ và phổ cập giáo dục tiểu học.
Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ, nhân dân
được quan tâm. Ý thức phục vụ bệnh nhân của bác sỹ, y tá đã có bước tiến
bộ. Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở từng bước được củng cố, 100% trạm y
tế xã, phường, thị trấn có bác sỹ điều trị, các thôn bản đều có nhân viên y tế
hoạt động. Công tác dân số KHHGĐ có chuyển biến tốt, tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên của tỉnh giảm từ 2,5% (1985) xuống dưới 1,1% (2005). Công tác xóa
đói giảm nghèo được quan tâm, tích cực giải quyết, đưa tỷ lệ hộ nghèo trong
tỉnh giảm từ 23% (1996) xuống 11% (2000) và còn 5% (2005).
Về văn hoá: Các hoạt động văn hoá của tỉnh cũng được triển khai tích
cực. Thực hiện nếp sống mới theo tinh thần Chỉ thị 211, chỉ thị 54 của Ban
bí thư TW Đảng “Về việc tăng cường lãnh đạo cuộc vận động thực hiện nếp
sống mới, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, xoá bỏ tệ nạn xã hội, quét sạch văn
hoá phản động, đồi trụy”. Đến năm 1985, hầu hết các cơ quan, đơn vị, xã,
phường trong toàn tỉnh đã xây dựng được quy ước thực hiện nếp sống văn
hoá đối với việc cưới, tang, bài trừ mê tín dị đoan. Trên 70% số gia đình
trong toàn tỉnh được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn
hoá”. Phong trào văn nghệ quần chúng tiếp tục được phát động trong các cơ
quan xí nghiệp và địa phương. Hệ thống câu lạc bộ, nhà văn hoá, hoạt động
triển lãm được tổ chức, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân.
Hệ thống đài phát thanh và truyền thanh mở rộng đến từng địa phương trong
tỉnh, thường xuyên thông tin, truyên truyền đến với nhân dân.

10


11


“Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử,
văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền
khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa
học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội,
bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về
văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân
gian khác.” (Mục 1, Điều 4).
“Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử-văn hoá, danh lam-thắng cảnh và di
vật.” (Mục 2, Điều 4).
Đến kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII thông qua ngày 18/6/2009, Luật
Di sản văn hóa Việt Nam có sửa đổi, bổ sung một số điều, trong đó quan
niệm về DSVH phi vật thể được diễn giải ngắn gọn hơn: “ Di sản văn hóa
phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và
không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện
bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các
hình thức khác.” (Mục 1, Điều 4)
Khái niệm "bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá". Khái niệm
"bảo vệ" được sử dụng nhằm mục đích đề cao tính pháp lý của hoạt động tổ
chức quản lý, giữ gìn, đặc biệt là việc xây dựng, ban hành và kiểm tra việc
thực hiện các văn bản có tính pháp quy để xác định đối tượng và khu vực
bảo vệ của các di sản. Mặt khác, khái niệm này cũng bao hàm các hoạt động
khác như tu sửa, tôn tạo, bảo quản, gia cố ... nhằm duy trì tính nguyên gốc
và sự toàn vẹn của các di sản văn hoá.
"Phát huy" trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của di sản văn hoá

tàng di sản VHDG của dân tộc và nhân loại.
Trên nền cảnh địa lý tự nhiên phác ra như trên, chúng ta có thể thấy
nền VHDG Phong Châu cổ trên địa bàn Phú Thọ chính là nơi phát tích của
những giá trị VHDG truyền thống Việt Nam. Có thể khái quát nền VHDG
đất Tổ trong những đặc trưng sau:
13


Thứ nhất, nền VHDG đất Tổ là một nền VHDG còn mang đậm dấu
ấn nguyên thuỷ.
Dấu ấn nguyên thủy thể hiện ở chỗ những nét nguyên sơ, hoang dã
của nền văn hóa cổ xưa - thời con người Việt cổ xuất hiện, khai hoang, xây
dựng bờ cõi vẫn còn được lưu giữ, hiện hữu khá rõ nét trong kho tàng
VHDG Phú Thọ. Đơn cử một ví dụ: Với sự phát triển của ngành khảo cổ
học, chúng ta đã sớm biết bên cạnh các nền văn hoá Phùng Nguyên, Đồng
Đậu, Gò Mun và Đông Sơn nổi tiếng, trong thời đại kim khí, trên địa bàn
Phú Thọ còn phân bổ rộng rãi một nền văn hoá khảo cổ học tiền sử cũng
không kém phần nổi tiếng, đó là nền văn hoá Sơn Vi, chủ yếu nằm trên bậc
thềm thứ III ở vùng đồng bằng cổ trong lưu vực sông Hồng. Các dẫn chứng
về khảo cổ học cho thấy rõ những yếu tố truyền thống tiền sử từ thời Sơn Vi
còn sót lại trong một số di chỉ, công cụ rìu mài, mũi tên từ đá… và ảnh
hưởng của văn hoá tiền sử này vẫn còn đậm nét qua các nghi lễ phong tục
Phú Thọ ngày nay. Nhiều lễ hội mang đậm nét tiêu biểu của miền, vùng và
không gian văn hóa tâm linh như lễ hội Trò Trám, lễ hội Tùng Dí, lễ hội
rước Tiếng hú, lễ hội Cướp kén, Cướp phết, Ném cầu, lễ hội Ông Khưu - bà
Khưu cùng các lễ hội Bơi chải, Đâm đuống, Đánh trống đồng...
Tín ngưỡng phồn thực và tục thờ sinh thực khí là hình thái tín ngưỡng
cổ xưa ở tầng sâu nguyên thủy văn hóa dân tộc. Điển hình như lễ hội Trò
Trám ở Tứ Xã (Lâm Thao), ở xã Hà Lộc, Phú Hộ (Phù Ninh), xã Hà Thạch
(thị xã Phú Thọ). Hay “Hội ôm” ở An Đạo (Phù Ninh), Thanh Uyên (Tam

gớm nhất. Nó tạo thành sức mạnh, niềm tin và lòng tự hào của nhân dân
Việt Nam về lịch sử dựng nước và giữ nước.
Nhìn chung, trong tiến trình phát triển của dân tộc ta, mỗi vùng đất
với những tinh hoa riêng, những sắc thái phong phú riêng đã góp phần làm
nên một nền văn hoá dân tộc rực rỡ, đa dạng màu sắc. VHDG Phú Thọ với
những nét đặc trưng mang tính khái quát, khó có thể tránh khỏi sự trùng lặp
với các giá trị văn hoá của những vùng khác. Nhưng dù sao, Phú Thọ vẫn là
cái nôi nảy mầm và phát triển của đa số các giá trị đó, là nơi phát tích, cội
nguồn của văn hoá dân tộc Việt trong suốt chiều dài lịch sử 2000 năm dựng
nước và giữ nước.

15


16


* Một số loại hình VHDG đất Tổ tiêu biểu
Phú Thọ là tỉnh có lịch sử lâu đời. Vùng hợp lưu của ba con sông:
sông Thao - sông Đà - sông Lô, nằm giữa dải núi Ba Vì và Tam Đảo, là
trung tâm sinh tụ của người Việt cổ thời các vua Hùng dựng nước. Phú Thọ
tự hào là cội nguồn dân tộc, tại đó những giá trị vật chất và tinh thần của dân
tộc ta thời cổ đại, trải qua bao nhiêu biến đổi của lịch sử vẫn để lại dấu ấn
đậm nét trong tự nhiên, trong sinh hoạt xã hội, trong tính cách con người và
đặc biệt trong nền VHDG đặc sắc và rực rỡ của vùng đất này. Nền VHDG
đặc sắc ấy được biểu hiện sinh động mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực hoạt động
của đời sống xã hội - con người nơi đây, biểu hiện trong các lễ hội dân gian,
trong những câu ca dao, tục ngữ, những câu truyện truyền thuyết, cổ tích,
trong từng làn điệu dân ca Xoan - Ghẹo của vùng, các lăng đình miếu… Đó
là những di sản văn hoá vô cùng quý giá góp phần tạo cho mảnh đất nên thơ

Việt Nam, mà những hiện vật trên còn là tài sản ghi nhận bước tiến hóa
chung của loài người khu vực Đông Nam Á, khẳng định một điều có ý nghĩa
quan trọng: Việt Nam là một trong những quê hương của người nguyên thủy
và Phú Thọ là nơi xây dựng nên nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Những hiện vật cổ thu được như mũi tên, rìu, giáo, lao, búa liềm,
vòng tay, lục lạc… hiện vẫn đang được lưu giữ trong bảo tàng Hùng Vương,
bảo tàng Phú Thọ.
Ngoài ra, trên khắp núi rừng Phú Thọ chúng ta đã phát hiện ra hàng
trăm chiếc trống đồng, có chiếc được tìm thấy ngay dưới chân núi Nghĩa
Lĩnh thờ các vua Hùng. Ngoài những hiện vật về đồ đá, đồ gốm, đồ đồng
được chế tác tinh xảo mà nhân dân Phú Thọ tự hào, chúng ta còn có những
công trình kiến trúc nổi tiếng đạt đến trình độ cao của nghệ thuật cả về mỹ
thuật tạo dáng, về tính thực dụng và về tư duy biểu tượng bằng những hình
vẽ, đường nét trang trí, cách điệu rất cao như: Đình Hữu Bổ thế kỷ XVII,
đình Lâu Thượng, đình Đào Xá có bức chạm Rồng (rồng mẹ dạy rồng con
học chữ), chùa Xuân Lũng có bệ đá hoa sen khắc nổi làm từ thời Trần…
Hơn nữa, Phú Thọ còn nhiều vật phẩm mỹ nghệ đồ trang sức tinh xảo, thể
hiện nét tài hoa của người nghệ sỹ.

18


Truyện kể dân gian Phú Thọ
Phú Thọ là địa bàn tập trung và lưu truyền những thần thoại và truyền
thuyết về thời đại Hùng Vương như: Chuyện Hồng Bàng, chuyện Bánh
chưng bánh dày, chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh… đã đóng góp một phần vô
cùng quan trọng vào việc tìm hiểu và lí giải về thời đại Hùng Vương. Thần
thoại và truyền thuyết Hùng Vương trên địa bàn đất Tổ Phú Thọ phản ánh
buổi bình minh dân tộc, với những nét phong phú và sinh động. Qua các câu
chuyện kể, chúng ta có thể hình dung khá rõ nét một xã hội có tổ chức, một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status