Lun văn: Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Huyện
Quan Hóa - tỉnh Thanh Hóa hiện nay
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc anh em là 54 màu sắc văn hóa
khác nhau tạo nên một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Do sự
khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cho nên đã hình thành các vùng
văn hóa khác nhau. Văn hóa gắn liền với toàn bộ cuộc sống và sự phát triển của
xã hội. Con người ra đời, trưởng thành là nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ
văn hóa. Giá trị văn hóa của một dân tộc thể hiện bản sắc của dân tộc ấy. Những giá
trị văn hóa của con người là thước đo trình độ phát triển và thể hiện bản sắc riêng
của mỗi dân tộc. Chính vì vậy, nghiên cứu đời sống văn hóa của mỗi dân tộc là
nghiên cứu toàn bộ những sáng tạo, phát minh của dân tộc đó trong lịch sử phát
triển của xã hội. Từ đó sẽ tìm ra được hệ thống giá trị văn hóa để tôn vinh, kế thừa
và phát huy nhằm không ngừng phục vụ tốt hơn cho cuộc sống các thế hệ hôm nay
và mai sau. Phát triển văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thực hiện các
chính sách kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, ở mỗi khu vực, mỗi vùng miền khác nhau, văn hoá các dân tộc có
những đặc trưng và sắc thái khác nhau. Miền núi Thanh Hóa nói chung và huyện
Quan hóa nói riêng là khu vực có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống. Trong lịch
sử cùng tồn tại và phát triển, các dân tộc ở đây đã tạo dựng được nên những giá trị
văn hoá hết sức đặc sắc cần phải được bảo tồn và phát huy. Song, cũng phải thừa
nhận là bên cạnh những giá trị tốt đẹp, văn hoá truyền thống các dân tộc còn có
những yếu tố lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp với cuộc sống mới và xu hướng
phát triển của thời đại. Mặt khác, trước sự tác động của cơ chế thị trường, của các
quá trình giao lưu hội nhập văn hoá nhiều giá trị truyền thống của các dân tộc đang
bị mai một, pha trộn, lai căng không còn giữ được bản sắc.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu văn hoá truyền thống các dân tộc ở miền núi
Thanh Hóa nói chung, ở huyện Quan Hóa nói riêng là yêu cầu khách quan khi
nghiên cứu nhiều, dưới những phạm vi và góc độ khác nhau.
Nghiên cứu văn hóa dưới góc độ triết học có các công trình: Vũ Đức
Khiển(2000):“Văn hóa với tư cách là một khái niệm triết học và vấn đề xác định bản
sắc văn hóa dân tộc” (Tạp chí Triết học số 4); Lương Việt Hải(2008): “Văn hóa,
3
triết lý và triết học”(Tạp chí Triết học số 10); Nguyễn Huy Hoàng(2003): “Triết học-
văn hóa giá trị và con người”(Viện Văn hóa & Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà nội); Lê
Ngọc Trà(2003): “Văn hóa Việt Nam đặc trưng và tiếp cận” ( Nxb Giáo dục Hà Nội);
Phan Ngọc(2003):“Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới” (Nxb VHTT, Hà Nội).
Trong đó các tác giả đã chỉ ra được mối quan hệ giữa văn hóa với triết lý, triết học.
Nghiên cứu văn hóa với tư cách là trình độ phát triển bản chất người, khẳng định vai
trò của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc và quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, các nhà nghiên cứu đã công bố những công trình nghiên cứu
như: Đỗ Huy- Trường Lưu(1994): “Bản sắc dân tộc của văn hóa” (Viện văn hóa);
Huy Cận(1994): “Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc”(Nxb CTQG, Hà nội); Lê
Ngọc Thắng - Lâm Bá Nam(1993): “Bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam” ( Nxb
VHDT); Đỗ Thị Minh Thúy ( chủ biên)(2004): “ Xây dựng một nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thành tựu và kinh nghiệm” ( Nxb Văn hóa thông tin,
Hà nội). Nhìn chung các công trình đã chỉ ra những nét văn hóa đặc trưng của dân
tộc, tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên các công
trình chủ yếu vẫn triển khai dưới góc độ văn hóa học.
Nghiên cứu văn hóa dân tộc Thái đã có các công trình:
Hoàng Anh Nhân(1985) : “Văn hóa truyền thống Mường Ca Da”(Sở văn hóa
thông tin Thanh Hóa). Nội dung cuốn sách trình bày: 1. Truyền thuyết và cổ tích; 2.
Truyện thơ, trường ca, trò diễn, dân ca; 3. Một số luật lệ của người Thái ở mường Ca
Da( nay thuộc huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa)
Vi Văn Biên(2006): “Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ
An” ( Nxb văn hóa dân tộc). Nội dung cuốn sách trình bày: 1. Khái quát về tộc người
Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An; 2. Văn hóa ẩm thực; 3. Làng bản- nhà cửa; 4. Trang
Cao Văn Thanh(2005): “Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người
Thái vùng núi Bắc Trung Bộ hiện nay”(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội). Nội dung
của cuốn sách trình bày: 1. Giới thiệu về người Thái và văn hóa truyền thống của
người Thái; 2. Thực trạng văn hóa của người Thái; 3. Bảo tồn và phát huy truyền
thống của người Thái
5
Đặng Nghiêm Vạn (và cộng sự)(1987): “Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của
người Thái Mai Châu”(Uỷ ban nhân dân huyện Mai Châu, Sở văn hóa thông tin
Hà Sơn Bình). Nội dung cuốn sách trình bày: 1. Lịch sử; 2. Bản làng; 3. Phong
tục; 4. Hội lễ; 5. Văn học; 6. Nghệ thuật; 7. Phần phụ lục trình bày về lệ mường,
truyện cổ, tục ngữ
Nhìn chung có nhiều nhà khoa học quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu
về người Thái đã được xuất bản. Từ những cuốn sách, luận án, luận văn, các bài
viết về người Thái có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, những kết quả nghiên cứu thể hiện tinh thần làm việc nghiêm túc
của các tác giả, là tài liệu tham khảo tốt trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạch định
chính sách.
Thứ hai, hiện nay chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu về bảo
tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Thái ở huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng bản sắc văn hóa của người Thái ở huyện Quan
Hóa, tỉnh Thanh Hóa, luận văn đưa ra phương hướng, giải pháp góp phần giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa ấy trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay.
3.2.Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu từ góc độ triết học bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở huyện
Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những nét văn hóa đặc trưng tạo nên giá trị văn hóa người
Khái niệm văn hóa
Trong lịch sử hình thành và phát triển văn hoá của nhân loại cho đến nay có
hàng trăm cách quan niệm, định nghĩa về văn hoá. Tuỳ theo từng giai đoạn, từng
quốc gia, dân tộc và dưới các góc độ về động cơ, mục đích, đối tượng, cách tiếp cận
văn hoá mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn hoá.
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nghiên cứu và có nhiều kiến giải sâu sắc và
đặt nền móng cho quan niệm Mác - xít về văn hóa. C.Mác, Ph.Ăngghen đã có công lớn
trong việc khẳng định con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của quá trình phát
triển văn hóa. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người đã tạo ra văn hóa, đồng thời
tạo ra chính bản thân mình, phát triển năng lực tiềm tàng của bản thân. Văn hóa gắn
với năng lực sáng tạo của con người và sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động hay chính
là sự thăng hoa của sản xuất vật chất, hành vi trên của con người là văn hóa, các vật
phẩm do con người làm ra đều mang dấu ấn của con người và đến lượt nó, nó tác
động trở lại bồi đắp tính người.
Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen về văn hóa đã được V.I.Lênin kế thừa và
phát triển. Với V.I.Lê nin, văn hóa luôn gắn liền với phát triển và hoàn thiện con
người, hoàn thiện xã hội.
Kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền
thống văn hiến ngàn năm của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa về
văn hóa như sau: "Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với
biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn" [26;431]. Từ quan điểm này chúng ta có thể thấy văn hóa
là toàn bộ những gì do con người tạo ra. Đây là một định nghĩa có nội dung về văn
8
hóa khá đầy đủ, xác thực không chỉ phù hợp với quan điểm của các học giả tiến bộ
trên thế giới mà có phần gần gũi với khái niệm mà UNESCO đưa ra.
Quan niệm tổng quát của Đảng ta về văn hóa được công bố trong bản “Đề cương
văn hóa Việt Nam” đã khẳng định đường lối văn hóa của Đảng đó là nền văn hóa
mang nội dung: dân tộc, khoa học và đại chúng. Đảm bảo tính dân tộc tức là bảo tồn và
phát huy những giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc. Quan điểm này tiếp tục được
ương đã khẳng định: Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức thẩm mỹ, các
di sản văn hóa nghệ thuật của dân tộc. Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa
và danh lam thắng cảnh của đất nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường mở rộng
giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc,
kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc.
Như vậy quan điểm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa được Đảng và Nhà
Nước định hướng và phát triển trong suốt thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước. Theo
đó, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không thể dựa vào ý chí chủ quan,
mà phải gắn liền với bảo tồn và phát huy với hoàn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi
quốc gia., nhằm xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc.
1.1.2. Khái quát về Dân tộc Thái
Nguồn gốc dân tộc
Theo những ghi chép trong các tập sử thi, người Thái thì họ thiên di cư từ
Tây Nam, Vân Nam (Trung Quốc) vào Tây Bắc Việt Nam với nhiều đợt kể từ thế kỷ
thứ VII đến thế kỷ thứ XIV.
Văn hóa của người Thái Thanh Hóa, Nghệ An cho đến nay là nền văn hóa còn
lưu giữ được những truyền thống cổ xưa, ít bị pha trộn với nền văn hóa xung quanh.
Người Thái ở Thanh Hóa nói chung, ở huyện Quan Hóa nói riêng, đóng vai trò quan
yếu nhất trong khu vực tựa như người Kinh trong toàn quốc.
Người Thái ở huyện Quan hóa
Ở miền núi Thanh Hóa, người Thái có hai nhóm tự gọi là Tày và Tày Dọ. Nhóm
tự gọi là Tày phân bố chủ yếu ở các huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Bá
Thước, Lang Chánh…; nhóm tự gọi là Tày Dọ tập trung chủ yếu ở các huyện Thường
Xuân, Như Xuân, Như Thanh. Lý giải về tên gọi "Tày Dọ" của nhóm Thái ở miền núi
10
Thanh Hóa, PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho rằng “Danh xưng Tày Dọ có thể có mối liên hệ
với các địa danh Mường Xo (Lai Châu), Mường Do (Vân Nam - Trung Quốc) xưa
kia” (21; 41)). TS Vi Văn An cho rằng “Dọ” có nghĩ là tạm, chẳng hạn “dú dọ” (ở
tạm). Rất có thể “Dọ” là để chỉ những bộ phận Thái mới chuyển cư đến, lúc đầu chỉ
không phụ thuộc vào ý chí và ý thức của con người. Nó quy định những điều kiện
sinh hoạt vật chất cụ thể của con người và khả năng cho chính con người. Chính sự
quy định đó buộc con người phải chống chọi với tự nhiên để thích ứng, tồn tại trên cơ
sở đó con người cải tạo tự nhiên nhằm đáp ứng cho nhu cầu sinh tồn của họ. Trong
quá trình cải tạo tự nhiên, con người cùng đồng thời hoàn thiện bản thân mình. Cùng
với quá trình lao động sáng tạo ra phương tiện vật chất và các tư liệu sống của con
người thì các giá trị văn hóa được nảy sinh và tồn tại. Như vậy điều kiện môi trường
tự nhiên góp phần rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển bản sắc văn hóa
vật chất cũng như văn hóa tinh thần.
Có thể nói bản sắc văn hóa của dân tộc Thái được khởi phát trên điều kiện môi
trường xã hội của huyện Quan Hóa (nơi người Thái tập trung đông nhất đứng thứ 3
toàn tỉnh). Với đời sống kinh tế của một huyện miền núi chủ yếu là nền kinh tế nông
nghiệp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, cơ
cấu xã hội có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân ngày một được nâng cao. Bản sắc
văn hóa của dân tộc Thái được phát triển ở mức độ cao hơn.
Tóm lại, bản sắc văn hóa dân tộc không phải là cái có sẵn, hay do một lực
lượng siêu nhiên nào đó ban phát cho dân tộc, mà những bản sắc ấy được hình thành
từ trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
1.2.2. Bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở huyện Quan hóa
Người Thái ở huyện Quan Hóa với quá trình đấu tranh lâu dài chinh phục thiên
nhiên, góp phần xây dựng bảo vệ đất nước đã để lại một di sản vô giá bao gồm văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần của một tộc người. Văn hóa vật chất thể hiện qua
phương thức lao động sản xuất (nghề canh tác ruộng, rẫy, nghề xuôi bè, đánh bắt
cá ); nhà ở, ẩm thực, trang phục dân tộc Văn hóa tinh thần được thể hiện qua
nhiều khía cạnh: tín ngưỡng dân gian, tục lệ, lễ hội; văn hóa dân gian và nghệ thuật
dân gian Những bản sắc này định hướng cho đồng bào một lối sống mới nhằm thõa
mãn những nhu cầu, khát vọng của cộng đồng về một lý tưởng cao đẹp (chân,
thiên,mỹ) từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất Người. Những giá trị này cần được bảo
tồn và phát huy góp phần xây dựng đời sống kinh tế của huyện Quan Hóa nói riêng
và tỉnh Thanh Hóa nói chung trong giai đoạn hiện nay.
những cơn gió độc mà vẫn miễn dịch? Lịch sử của các quốc gia phát triển đã chứng
13
minh, để giải quyết vấn đề này, bảo tồn phải gắn liền với phát huy bản sắc văn hóa
của dân tộc.
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái chính là phát huy sức mạnh
của dân tộc Việt Nam.
Kết luận chương 1
Văn hóa là sản phẩm của người thông minh, văn hóa gắn liền với giá trị và được
coi là thước đo trình độ phát triển của cộng đồng người. Trong tiến trình phát triển
của đất nước có những giá trị bị lãng quên, phai nhạt dần nhưng cũng có giá trị được
khẳng định vị thế, có ý nghĩa và trở thành giá trị trường tồn. Bản sắc văn hóa của dân
tộc Thái ở huyện Quan Hóa là một trong những giá trị có ý nghĩa quan trọng đối đối
với toàn Tỉnh Thanh Hóa nói riêng và góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước
nói chung.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử tích tụ và bồi đắp, bản sắc văn hóa của dân tộc
Thái có những đặc trưng riêng: Một là, bài học về tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân
tộc; tinh thần yêu bình đẳng, trọng công bằng của người Thái trong đời sống gia đình
và đời sống cộng đồng được thể hiện trong tín ngưỡng dân gian, tục lệ và lễ hội; Hai
là, tinh thần vươn lên từ nghèo khó, thấp hèn đấu tranh chống lại cái bất công, sống
theo quy luật nhân quả. Sự thông minh, quả cảm trong hành động chống lại sự đàn
áp, bất công của giai cấp thống trị trong kho tàng văn hóa, nghệ thuật; Ba là, tư duy
vật chứa đựng yếu tố biện chứng sơ khai trong kho tàng trí thức của người Thái về vũ
trụ quan trong âm nhạc cồng chiêng và nghi lễ tang ma của người Thái. Bốn là, tinh
thần đoàn kết, lòng nhân ái chứa chan qua những áng mo, giáo dục con người hướng
tới giá trị nhân văn, nhân bản.
Những đặc trưng nói trên đã khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc Thái có ý
nghĩa to lớn đối với cộng đồng người. Tuy nhiên, ngày nay do ảnh hưởng của kinh tế
thị trường, của xu thế hội nhập giá trị đó có những biến đổi nhất định. Trước thực
trạng hòa tan nền văn hóa bản địa của các quốc giá phát triển, nghiên cứu để bảo tồn
và phát huy giá trị đó là nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của các ngành, các cấp liên
tổng hợp tỉnh.
15
Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, ngành đã vận động nhân dân
quyên góp tiền của, công sức để xây dựng và bảo tồn được nhiều nhà sàn truyền
thống của người Thái (và cả người Mường).
Vốn văn hóa phi vật thể như dân ca, dân vũ, trò diễn dân gian v.v, được phát huy
thông qua ngày hội văn hóa các dân tộc, các kỳ liên hoan văn nghệ quần chúng, hội
trại làng bản văn hóa, đáp ứng nhu cầu giao lưu, hưởng thụ, sáng tạo văn hóa của
đồng bào, tạo được môi trường cho sự phát triển văn hóa ở miền núi.
Ngành văn hóa thông tin đã phối hợp với các huyện miền núi tổ chức một số
cuộc hội thảo khoa học: Cầm Bá Thước và phong trào chống Pháp của người Thái ở
miền núi Thanh Hóa; xuất bản một số cuốn sách: “Văn hóa truyền thống mường Ca
Da”, “Văn hóa truyền thống Thường Xuân”, “Dân ca các dân tộc miền núi Thanh
Hóa” (tập 1, 2), "Tiếp cận văn hóa bản Thái xứ Thanh"
Được sự hỗ trợ kinh phí của Bộ Văn hóa - Thể Thao và Du lịch, sự cố vấn khoa
học của Viện Văn hóa - nghệ thuật, các viện nghiên cứu và các nhà khoa học ở Trung
ương, hiện nay ngành Văn hóa - Thể Thao và Du lịch Thanh Hóa phối hợp với chính
quyền địa phương vùng có đông người Thái cư trú tiến hành nghiên cứu và sưu tầm
các giá trị văn hóa phi vật thể của người Thái: lễ hội Kin chiêng boóc mạy, Lễ hội
Mường xia, Trường ca Khăm Panh, U Thềm, Luật tục bản mường
Trường Phổ thông trung học dân tộc nội trú của huyện và tỉnh tăng cường công
tác đào tạo để tạo nguồn cán bộ, trí thức các dân tộc thiểu số nói chung và người Thái
nói riêng; trường Văn hóa nghệ thuật tỉnh xây dựng các chương trình đào tạo hệ trung
cấp văn hóa quần chúng cho cán bộ chuyên trách văn hóa thông tin cơ sở.
Đưa tiếng Thái vào chương trình phát thanh và truyền hình của Đài phát
thanh - truyền hình tỉnh. Ngoài việc tuyên truyền đường lối của Đảng, chủ trương,
chính sách pháp luật của Nhà nước, chương trình phát thanh tiếng Thái (và một số
ngôn ngữ dân tộc tộc thiểu số khác) đã góp phần tích cực vào việc nâng cao dân trí
các dân tộc thiểu số; tuyên truyền, vận động chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
áp dụng tiến độ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất; từng bước hạn chế du canh du cư
thậm chí một số dân tộc đang rơi vào tình cảnh mất hẳn tiếng mẹ đẻ và chữ viết.
Người Thái đã vay mượn tiếng Kinh khá nhiều để diễn ý.
17
Các hình thức biểu diễn nghệ thuật dân gian, múa hát dân ca của các dân tộc như
múa Xoè, hát đối đáp của người Thái hay còn gọi là khắp…trước đây rất phổ biến
trong các sinh hoạt văn hoá làng bản, nhưng ngày nay nó chỉ hiện diện chủ yếu trong
các dịp diễn ra lễ hội và các phiên chợ văn hoá hoặc các ngày hội văn hoá thể thao do
các cơ quan văn hoá địa phương tổ chức.
Phần được coi là "bền vững" nhất trong đời sống tinh thần là yếu tố tâm linh, đời
sống tôn giáo, tín ngưỡng… cũng đang có những chuyển dịch, biến đổi rất đáng được
chú ý.
- Về văn hoá xã hội
Gia đình - tế bào của xã hội đang thực sự có những chuyển dịch rất rõ rệt và
nhanh chóng. Mô hình gia đình gồm nhiều thế hệ (ông, bà, bố, mẹ, con, cháu) đang
dần phân nhỏ ra do tác động về điều kiện không gian cư trú, đất sản xuất bị thu hẹp,
do điều kiện phải tìm kế sinh nhai và phát triển kinh tế.
Quan hệ xã hội, cá nhân, gia đình, cộng đồng, dòng họ đã dân chủ hơn, bình
đẳng hơn. Có thể nói, không khí dân chủ đã thổi một làn gió mới trong các sinh hoạt
văn hóa xã hội.
2.1.1.1. Những hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Thái
Trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Thái còn một số hạn
chế sau:
- Chúng ta chưa xây dựng được nền tảng văn hoá vững chắc cho thời kỳ mới
của đất nước trong quá trình hội nhập; nội dung "tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc" vì nhiều mặt chưa định hình rõ trong lối sống văn hoá nếp sống văn hoá của
người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (trong đó
có dân tộc Thái).
- Môi trường văn hoá còn bị ô nhiễm bởi: các tệ nạn xã hội, vẫn còn không ít các
hoạt động văn hoá lai căng, thấp kém, thậm chí độc hại.
- Chúng ta chưa tạo ra được những công trình văn hoá, tác phẩm văn học nghệ
2.1.2.2. Các yếu tố chủ quan
Nhận thức về bản sắc văn hoá truyền thống của người Thái còn hạn chế.
Người Thái vốn có tâm lý ưa thích cái mới lạ, giao lưu tìm hiểu, kế thừa văn hoá của
các dân tộc khác. Nhưng do nhận thức hạn chế mà họ tiếp nhận không chọn lọc khiến
19
cho sự lai tạp ngày càng nhiều. Điều này phần lớn do trình độ dân trí thấp. Đời sống
vật chất, tinh thần của người Thái ở huyện Quan Hóa tỉnh Thanh Hóa vẫn còn rất khó
khăn, người dân không thấy văn hoá dân tộc đem lại trực tiếp những lợi ích kinh tế
nên văn hoá bị coi nhẹ.
Hạn chế của công tác văn hoá dân tộc tại địa phương cũng là một nguyên
nhân dẫn đến các giá trị văn hoá dân tộc nói chung và văn hoá Thái bị mai một. Hiện
nay, nhiều sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Thái đều có sự lãnh đạo của tổ
chức Đảng tại địa phương, sự quản lý, giúp đỡ của các cơ quan chức năng. Sự quan
tâm của chính quyền và cơ quan văn hoá cũng đã góp phần vào làm cho ngày lễ hội
của người Thái thêm tưng bừng. Tuy nhiên, việc giữ gìn văn hoá không chỉ làm mỗi
năm một lần trong mùa lễ hội. Các hoạt động văn hoá truyền thống theo hướng hiện
đại cần có sự hướng dẫn của cán bộ văn hoá xã, thôn bản.
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ văn hoá-xã hội xã chưa đáp ứng
được yêu cầu đặt ra. Công tác văn hoá ở các vùng người dân tộc thiểu số rất khó
khăn. Cán bộ cần có hiểu biết về văn hoá dân tộc tại địa phương và phải có nhiều
kinh nghiệm mới động viên, giáo dục đồng bào nhận thức được giá trị văn hoá của
dân tộc mình.
Công tác đánh giá, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số còn
chậm. Sở Văn hoá-Thông tin tỉnh Thanh Hóa cũng đã rất nỗ lực trong công tác bảo
tồn di sản văn hoá các dân tộc ít người. Tuy nhiên, mục tiêu của các dự án bảo tồn di
sản văn hoá các dân tộc của tỉnh phục vụ cho du lịch là chủ yếu.
2.2. Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở huyện Quan Hóa hiện nay
2.2.1. Phương hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của người Thái ở
huyện Quan Hóa hiện nay
- Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả các lực lượng giữ gìn và phát huy các giá trị văn
hoá Thái
- Đẩy mạnh công tác bảo tồn các di sản văn hoá
21
Kết lun chương 2
Qua khảo sát thực trạng của việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Thái ở huyện Quan Hóa hiện nay, chúng tôi nhận định rằng: Vấn đề bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở huyện Quan Hóa đã và đang được coi là một
nhân tố trong sự phát triển kinh tế của huyện. Trong công cuộc đổi mới của đất nước,
do ảnh hưởng mặt trái của kinh tế thị trường, đời sống văn hóa vật chất cũng như văn
hóa tinh thần của dân tộc Thái biến đổi theo nhiều chiều hướng khác nhau. Bên cạnh
việc tiếp thu những mặt tiến bộ, hiện đại của nền văn hóa khác, các giá trị truyền
thống của văn hóa Thái cũng đang có những biến đổi theo chiều hướng tiêu cực,
những giá trị truyền thống tốt đẹp bị lai căng, mai một, thậm chí còn bị chính người
Thái quay lưng lại. Để văn hóa dân tộc Thái thực sự thấm sâu, lan tỏa và phát huy sức
sống của nó trong đời sống của người dân đồng thời chống lại xu hướng phản văn
hóa. Đảng bộ và nhân huyện Quan Hóa đã nổ lực triển khai các hoạt động bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái.
22
KẾT LUẬN
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Thái nói riêng, của các dân tộc
thiểu số nói chung là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước cùng nhân dân đã
phấn đấu thực hiện trong suốt mấy thập kỷ qua. Trên con đường xây dựng một nền
văn hoá mới - văn hoá xã hội chủ nghĩa mà trong đó bản sắc dân tộc vừa mang tính
đậm đà, tiên tiến vừa mang hơi thở của thời đại trải qua không ít nhưng khó khăn
thách thức. Song nhờ có sự chỉ đạo và hỗ trợ về ngân khố quốc gia cho phát triển văn
hoá, cùng với sự nỗ lực của toàn dân, của các dân tộc mà sự nghiệp bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hoá các dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn.
Trong suốt quá trình phát triển cùng với đất nước, bản sắc văn hoá của người
Thái ở huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa chứa đựng trong đó bao hàm cả những mặt
2. Huy động mọi quyền lực ở trong và ngoài nước, của các tổ chức cá nhân,
các doanh nghiệp đóng góp vào công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của các
dân tộc. Cần khuyến khích, vận động và kêu gọi nhằm xã hội hoá công tác bảo tồn,
phát triển văn hoá truyền thống.
3. Định hướng chương trình kế hoạch, nhiệm vụ trong từng giai đoạn, ngắn hạn
hoặc dài hạn với mục tiêu rõ ràng cần đạt được. Thường xuyên sơ kết, tổng kết rút
kinh nghiệm ở các cáp các ngành, Trung ương và địa phương nhằm tiếp tục triển khai
một cách có hiệu quả.
4. Ưu tiên hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng ngêi Th¸i huyÖn Quan
Hóa, tØnh Thanh Hãa một cách đồng bộ cùng với việc xây dựng làng văn hoá, nếp
sống văn hoá và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống.
5. Mở rộng mạng lưới phát thanh truyền hình đến vùng sâu, vùng xa, đưa các
thông tin trong nước và quốc tế để nâng cao nhận thức cho đồng bào Th¸i huyÖn
Quan Hóa, tØnh Thanh Hãa. Tăng cường dùng tiếng dân tộc trên các thông tin đại
chúng để tuyên truyền vận động nhân dân.
6. Tập trung các nguồn lực để đầu tư thích đáng vào các di sản mạng tầm quốc
gia và những di sản đặc sắc cña ngêi Th¸i trên địa bàn.
24