bảo tồn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc ở tỉnh sơn la hiện nay - Pdf 24


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đoàn kết là truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc ta từ xưa đến
nay. Trải qua hàng nghìn năm, dân tộc ta phải dành nhiều thời gian và nguồn
lực cho cuộc đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Trong lịch sử lâu dài và
thăng trầm đó, sức mạnh vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản
là sự đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Chính nhờ có truyền thống đó mà dân
tộc Việt Nam qua bao cơn bão táp trong lịch sử vẫn là một khối thống nhất.
Dân tộc ta, nước ta vẫn là một, không một kẻ thù tàn bạo nào có thể chia cắt.
Vì vậy, khi nói về vấn đề đoàn kết dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định rằng: Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân
dân. Người coi đoàn kết là lực lượng to lớn, là lực lượng mạnh nhất của
chúng ta để chống lại những thế lực xâm lược lớn mạnh hơn về vật chất.
Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người dặn: ''Điều mong muốn
cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng
một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và
góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Đối với Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, việc xây dựng, củng
cố khối đoàn kết dân tộc ở mọi thời kỳ cách mạng luôn được xem là vấn đề
chiến lược quan trọng. Việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách
của Nhà nước liên quan đến phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc trong
thời kỳ xây dựng CNXH đã đem lại những thành tựu rất đáng ghi nhận. Đó
là những đổi thay về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, của cả
nước, đặc biệt là ở các vùng dân tộc và miền núi.
Cũng như cả nước, cộng đồng các dân tộc tỉnh Sơn La trong suốt
chiều dài lịch sử phát triển đã có nhiều đóng góp, hy sinh, gian khổ để chống
giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước. Chính quá trình đó
đã hình thành một cộng đồng gắn bó, đoàn kết, chủ động và sáng tạo của


3
thực tiễn. Để đáp ứng yêu cầu đó chúng tôi đã chọn đề tài: "Bảo tồn và phát
huy truyền thống đoàn kết dân tộc ở tỉnh Sơn La hiện nay” làm đề tài luận
văn thạc sĩ để nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề truyền thống ĐKDT là vấn đề ý nghĩa chiến lược quan trọng
của cách mạng. Do đó đã có những công trình, bài viết của các tác giả nghiên
cứu với những hình thức, mức độ khác nhau xung quanh vấn đề này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên khi truyền bá chủ nghĩa Mác
- Lênin vào Việt Nam đã kết hợp một cách đúng đắn, sáng tạo giữa tinh hoa
văn hóa phương Đông và phương Tây, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh
thời đại. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh rất nhiều lần nhấn mạnh việc phát huy khối ĐKDT. Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đoàn kết dân tộc là kho tàng lý luận vô giá để lại cho Đảng và
nhân dân ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng trong công cuộc xây dựng CNXH
hiện nay.
Vào thời kỳ đổi mới đất nước, nhất là những năm gần đây có nhiều
công trình, đề tài khoa học, hội thảo khoa học đã công bố liên quan đến đề
tài với nhiều góc tiếp cận khác nhau. GS. Trần Văn Giàu với "Giá trị tinh
thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" (Nxb Khoa học xã hội, 1980); GS.
Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang với "Các giá trị truyền thống và con người
Việt Nam hiện nay" (Chương trình KHCN cấp Nhà nước đề tài KX.07-02,
gồm 2 tập xuất bản năm 1994 và 1996) đề cập khá sâu sắc về các giá trị tinh
thần truyền thống được hình thành trong quá trình lâu dài của lịch sử dân tộc
như truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, truyền thống
nhân nghĩa, truyền thống lao động cần cù - sáng tạo ; Dưới góc độ Dân tộc
học, GS.TS. Phan Hữu Dật với tác phẩm "Góp phần nghiên cứu Dân tộc học
Việt Nam" (Nxb Chính trị quốc gia, 2004) đưa ra những căn cứ xác đáng
khẳng định tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa các dân tộc ở Việt


5
đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế” trong Cương lĩnh xây dựng đất nước,
(Tạp chí Triết học, 9/2012). Tác giả đã chỉ ra những điểm chủ yếu để không
ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết giữa Đảng và nhân dân ta trong xây
dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay…
Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn nhiều công trình, bài
viết khác nghiên cứu về vấn đề này. Nhưng do khuôn khổ và mục đích riêng
mà chưa công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về Bảo tồn
và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc ở tỉnh Sơn La hiện nay. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu trên là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng
để chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài của mình.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của truyền thống
ĐKDT ở tỉnh Sơn La, chỉ ra thực trạng, giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và
phát huy ĐKDT dân tộc ở tỉnh Sơn La hiện nay.
* Đối tượng nghiên cứu: Bảo tồn và phát huy truyền thống ĐKDT ở
tỉnh Sơn La hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu: Bảo tồn và phát huy truyền thống ĐKDT
trong phạm vi tỉnh Sơn La, trong khoảng thời gian từ 1986 đến nay.
4. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng của vấn đề bảo tồn và
phát huy truyền thống ĐKDT ở tỉnh Sơn La hiện nay.
- Đề tài chỉ ra cơ sở khoa học để bảo tồn và phát huy truyền thống
đoàn kết dân tộc ở tỉnh Sơm La.
Đề tài chỉ ra thực trạng, quan điểm và giải pháp chủ yếu để bảo tồn và
phát huy truyền thống ĐKDT ở tỉnh Sơn La cho phù hợp với điều kiện mới
hiện nay.

1.1. Cơ sở lý luận của bảo tồn và phát huy truyền thống đoàn kết dân
tộc ở tỉnh Sơn La
1.1.1. Bảo tồn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc
* Khái niệm bảo tồn và phát huy
Trong Từ điển do Hoàng Phê (chủ biên) đã định nghĩa: “Bảo tồn là giữ
lại, không để cho mất đi” [42, tr.37], còn “phát huy là làm cho cái hay, cái
tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [42, tr.742]. Chúng ta thường
nghe nói: bảo tồn các di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên,
quá trình giữ lại này không phải là giữ lại một cách nguyên xi mà bao giờ
cũng có sự kế thừa những nét tiến bộ và lọc bỏ những yếu tố lạc hậu.
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng
thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi,
biến hóa hay biến thái”. Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có
khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối
tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị
đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình
thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn.
Đối tượng được bảo tồn cần thỏa mãn hai điều kiện:
- Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được
thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi.
- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu
dài (tức là có giá trị lâu dài, có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”) trước những
biến đổi tất yếu về đời sóng vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong
thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay với chính sách mở

8
cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra
cực kỳ sôi động.
Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”): Bảo tồn nguyên vẹn

Theo cách hiểu thông thường thì truyền thống là những gì được truyền
từ đời này sang đời khác. Truyền thống là từ Hán Việt, trong "Đại từ điển
tiếng Việt" định nghĩa "Truyền thống: nền nếp, thói quen tốt đẹp được lưu
giữ từ đời này qua đời khác" [22, tr. 1734].
Cách định nghĩa này chỉ nêu lên được mặt tốt đẹp của truyền thống,
chưa nêu lên mặt hạn chế của nó trong quá trình phát triển của xã hội.
Tiếp cận ở góc độ văn hóa, GS. Vũ Khiêu định nghĩa: "Truyền thống
là những thói quen lâu đời đã được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ
và hành động của một dân tộc, một gia đình, một dòng họ, một làng xã, một
tập đoàn lịch sử" [24, tr. 536]. Khi xem xét truyền thống trong mối quan hệ
giữa quá khứ với hiện tại, GS. Trần Đình Sử viết: "Truyền thống là mối liên
hệ lịch sử mà một đầu là những giá trị tư tưởng, văn hóa được sáng tạo trong
quá khứ lịch sử và một đầu là sự thẩm định, xác lập và phát huy của người
hiện đại. Vì vậy có thể nói truyền thống là các giá trị quá khứ mang ý nghĩa
hiện đại" [45, tr. 45 - 47].
Trong công trình khoa học thuộc Chương trình khoa học công nghệ cấp
nhà nước (Chương trình KX-07) được xuất bản thành sách do GS.TS. Phạm
Minh Hạc chủ biên có tên: "Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa" đưa ra định nghĩa: "Truyền thống là tập hợp những tư
tưởng và tình cảm, những tập quán, thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử
của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và đã trở
nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác" [19, tr. 11].
Mặc dù có sự khác nhau trong định nghĩa về "truyền thống" giữa các
nhà khoa học, nhà nghiên cứu nhưng nội hàm và ngoại diên của khái niệm
này đều được diễn đạt rõ ràng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận

10
mác-xít. Về cơ bản, tất cả các ý kiến đều thống nhất ở những dấu hiệu đặc
trưng của truyền thống. Đó là những yếu tố, những giá trị của cộng đồng
người được hình thành tương đối ổn định trong lịch sử, được lưu truyền, cải

giữ nước của dân tộc Việt Nam, nhiều truyền thống quý báu thể hiện tính
bền vững và trường tồn cùng đồng hành với dân tộc Việt Nam như: truyền
thống yêu nước; truyền thống ĐKDT; truyền thống nhân ái, khoan dung;
truyền thống lao động cần cù Trong đó, truyền thống ĐKDT là truyền
thống cực kỳ quý báu được xem là một trong những giá trị tinh thần đặc
sắc nhất của dân tộc Việt Nam.
* Quan niệm truyền thống đoàn kết dân tộc
Truyền thống đoàn kết dân tộc được xem là giá trị tinh thần cao quý
và đặc sắc của dân tộc, là vấn đề mà Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học
nước ta đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, do yêu cầu đặt ra của việc nghiên cứu
mà khái niệm "Truyền thống đoàn kết dân tộc" cho đến nay vẫn chưa có tác
giả nào đưa ra định nghĩa đầy đủ.
Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý (chủ biên), xuất bản năm
1998 có định nghĩa đoàn kết là: "kết thành một khối, thống nhất ý chí, không
mâu thuẫn, chống đối nhau" [22, tr. 645]. Trong Từ điển do Hoàng Phê (chủ
biên) đưa ra khái niệm đoàn kết là "kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt
động vì mục đích chung" [42, tr. 328], còn Đại đoàn kết là "đoàn kết rộng
rãi" [42, tr. 279]. Đây là những định nghĩa mang tính phổ thông đối với cụm
từ Hán Việt này, chỉ đưa ra cách hiểu đơn giản, chưa có nội dung đầy đủ.
Dưới góc độ lý thuyết hệ thống, đoàn kết là sự tập hợp thành hệ thống
các nhân tố riêng lẻ, cá biệt thành hệ thống có trật tự theo một quy trình vận
động nhất định, tạo nên một tổng hợp lực phát huy sức mạnh theo cấp số
nhân đối với từng cá nhân riêng lẻ.

12
Từ góc độ xã hội PGS. TS. Trần Hậu khẳng định: “Đoàn kết là sự thể
hiện sự đồng thuận của các thành viên trong xã hội. Mọi người chấp nhận
nhau để cùng hành động cho một mục tiêu chung [21, tr. 52].
Từ quan niệm trên có thể hiểu đoàn kết trên các nội dung cơ bản sau:
- Thống nhất ý chí: tức là cùng chung một ý chí, không mâu thuẫn,

chọn nơi định cư có địa thế tương đối thuận lợi là khu vực hạ lưu có nhiều
sông ngòi chằng chịt nằm giữa một bên là đồi núi cao và một bên là biển cả.
Bởi vì địa hình đó thuận lợi cho công việc trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt
nhất. Tuy nhiên, công việc khởi đầu của họ không hề dễ dàng do sự khắc
nghiệt của thiên nhiên. Trước cảnh bốn bề "rừng thiêng nước độc", nhiều
vùng trũng thấp nên muốn khai hoang, cải tạo đất, phát triển sản xuất thì họ
nhất thiết phải dựa vào sức mạnh của tập thể, đồng cam cộng khổ, có phước
cùng hưởng, có hoạ cùng chia. Theo đề tài KX.07.02 (Chương trình khoa
học công nghệ cấp Nhà nước) do GS. Phan Huy Lê chủ biên, thì có nhiều
chứng cứ cho thấy cư dân xa xưa ở khu vực phía Bắc nước ta đã khai thác
ruộng đất theo phương thức tập thể, đất đai canh tác trong một thời gian dài
thuộc chế độ ruộng đất công. Đến nay mô hình ruộng đất công vẫn còn dấu
tích ở nhiều nơi.
Nguồn nước dồi dào của các con sông với địa hình dốc đổ ra hướng
biển Đông, mưa lớn tập trung chỉ một thời gian ngắn trong năm là nguyên
nhân gây ra lũ lụt. Thêm nữa, ngoài khơi vùng biển nước ta là một trong
những trung tâm phát sinh bão nhiệt đới, trung bình hàng năm có đến hơn 10
cơn bão đổ bộ vào đất liền tàn phá ghê gớm nhà cửa, mùa màng và cuộc
sống con người ở đây. Việc xây dựng hệ thống đê điều ngăn lũ bảo đảm sản
xuất và đời sống là mối quan tâm chung của cộng đồng. Hoàn thành hệ thống
đê điều có đến hàng nghìn ki-lô-mét là công trình vĩ đại tốn nhiều công sức
của nhiều thế hệ tự nó đã nói lên ý chí mạnh mẽ, sức mạnh to lớn của sự

14
đoàn kết chung lòng xây dựng đất nước của ông cha ta. Thực tế và kinh
nghiệm cuộc sống đã dạy cho nhiều thế hệ con người ở đây bài học:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao.
Thời tiết khắc nghiệt, mưa nắng thất thường, sâu bệnh phát sinh khiến
cho con người phải chống chọi vất vả. Những lúc gặp hoạn nạn, khó khăn thì

triển đất nước.
Việt Nam ở vào một vị trí địa lý - chính trị có tầm chiến lược đặc biệt
quan trọng. Nơi đây còn là vùng đất phì nhiêu, đường giao thông thủy bộ
tiện lợi nằm bên cạnh một đế chế Trung Hoa rộng lớn trở thành nhân tố quan
trọng ảnh hưởng đến những biến cố lịch sử, cuộc sống và truyền thống Việt
Nam. Kể từ cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III tr.CN) đến thế kỷ XX,
dân tộc Việt Nam phải thường xuyên đấu tranh chống xâm lược và giải
phóng dân tộc với hơn 12 thế kỷ. Thật hiếm thấy một quốc gia - dân tộc nào
trên thế giới lại có quá trình đấu tranh chống xâm lược kiên cường, bền bỉ và
anh dũng như dân tộc ta mà kẻ thù luôn là những đế chế hoặc đế quốc hùng
mạnh vào bậc nhất thế giới.
Trước cuộc chiến đấu không cân sức như vậy, con đường sống còn và
chiến thắng của dân tộc là phải huy động cao độ sức mạnh tổng hợp về vật
chất và tinh thần của cả dân tộc. Bởi "nước mất thì nhà tan", mọi người vì
nghĩa lớn mà chiến đấu hy sinh "vì nước quên nhà". Đồng bào cả nước từ
miền xuôi đến miền ngược, từ Bắc chí Nam không phân biệt nam nữ, trẻ già,
thành phần đều đoàn kết một lòng, chung lưng đấu cật chiến đấu oanh liệt
bảo vệ nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Qua nghiên cứu đời
sống các dân tộc, các nhà Dân tộc học đã nhận định rằng: Các dân tộc nước
ta qua gắn bó máu thịt với quốc gia Việt Nam mà gắn bó máu thịt với nhau.
Cùng chung sống trong Tổ quốc, mẹ Việt Nam, các dân tộc no đói có nhau,
vinh nhục bên nhau, đồng cam cộng khổ, sống chết một lòng. Tinh thần đoàn

16
kết, tương trợ truyền thống đó được thể hiện qua sự nghiệp dựng nước và giữ
nước của đại gia đình các dân tộc trong trường kỳ lịch sử, nó là quy luật phát
triển của dân tộc Việt Nam [11, tr. 365].
Thật vậy, lược qua lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước đến thế kỷ
XX, tất cả những chiến công hiển hách chống xâm lược chính là thành tích
chung của 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam. Khi nhà Tần xua quân

đề chủ yếu là lợi ích. Có lúc vì lợi ích cá nhân, dòng tộc mà tập đoàn phong
kiến cam tâm bán rẻ dân tộc, gây mâu thuẫn, chia rẽ dân tộc, tạo cơ hội cho
thế lực bên ngoài xâm lược nước ta. Tuy nhiên, nét chủ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên
suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam vẫn là mối quan hệ đoàn kết keo sơn giữa
các dân tộc anh em, giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa dân tộc
thiểu số với nhau.
1.1.2.3. Các dân tộc nước ta có chung ý thức bảo tồn và phát triển nền văn
hóa dân tộc thống nhất trong tính đa dạng
Nước ta nằm ở khu vực tiếp xúc giữa đại lục và đại dương, nơi đầu
mối của các đường giao thông tự nhiên nối liền giữa lục địa và tỏa ra các hải
đảo, qua con đường hàng hải nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Bởi vậy, Việt Nam là nơi giao thoa gặp gỡ của nhiều dân tộc trên đường di
trú, nơi giao lưu rộng rãi của các nền văn hóa trong khu vực với các nền văn
hóa lớn trên thế giới. Trước đây có một số quan niệm cho rằng Việt Nam
không phải là khu vực có nền văn hóa độc lập, mà chỉ là khu vực nằm giữa
hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ. Quan niệm đó đã bị bác bỏ bởi
những kết quả nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử, văn hóa, trong những thập
niên gần đây. Những phát hiện này chứng minh từ thời tiền sử và sơ sử xa
xưa, Việt Nam từng có một nền văn hóa khá phát triển với một cơ tầng văn
hóa rõ nét. Mặc dù nằm bên cạnh và chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh là
Trung Hoa và Ấn Độ nhưng Việt Nam vẫn bảo tồn và phát triển được bản
sắc văn hóa riêng do hoàn cảnh lịch sử cụ thể quy định.

18
Vào những năm 70 thế kỷ XX, tức ngay trong thời kỳ cả nước ta đang
tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, các nhà khoa học Việt Nam
đã đưa ra những căn cứ khoa học đầy thuyết phục, chứng minh nền văn hóa
Đông Sơn là sản phẩm tinh thần của dân tộc Việt Nam tương ứng với thời
Hùng Vương dựng nước Văn Lang. Nền văn hóa đó có thời kỳ phát triển rực
rỡ và lan tỏa ra nhiều nước Đông Nam Á, đến tận miền Viễn Đông Xi-bê-ri

riêng và được phân thành những tiểu vùng, mỗi tiểu vùng lại có một số yếu
tố văn hóa riêng. Điều đó phần nào nói lên tính đa dạng của nền văn hóa Việt
Nam. Hơn nữa, tính đa dạng của nền văn hóa Việt Nam còn thể hiện ở sắc
thái văn hóa riêng của mỗi dân tộc. Theo đó có thể chia sắc thái văn hóa các
dân tộc thành ba cấp độ từ rộng đến hẹp, như sau: sắc thái văn hóa của nhóm
ngôn ngữ (Việt - Mường, Tày - Thái, Môn - Khmer, Mông, Dao, ); sắc thái
văn hóa của từng dân tộc (gồm có 54 dân tộc); sắc thái văn hóa của từng bộ
phận trong một dân tộc (Thái trắng - Thái đen, Mông trắng - Mông đen -
Mông hoa ). Những sắc thái văn hóa ấy tạo nên tính đa dạng và phong phú
của văn hóa dân tộc. Nó như những bông hoa với nhiều sắc màu và hương
thơm khác nhau trong vườn hoa chung của dân tộc Việt Nam.
Đề cao tính đa dạng của nền văn hóa dân tộc nhưng chúng ta cần ý
thức rằng đó là tính đa dạng trong sự thống nhất. Vì thế, không nên đem đối
lập tính đa dạng với tính thống nhất; hoặc ngược lại cũng sẽ là sai lầm nếu
quá nhấn mạnh tính thống nhất mà hạ thấp và bỏ quên tính đa dạng của nền
văn hóa dân tộc. Cho nên nếu vì một lý do nào đó ta xem nhẹ hay đánh mất
nó thì có nghĩa là làm suy yếu đi sức mạnh tổng hợp của dân tộc.
Các dân tộc cùng sống chung trên dải đất Việt Nam ý thức được rằng
sức sống của mỗi dân tộc chính là ở yếu tố nội sinh, tức những giá trị trong
nền văn hóa lâu đời của dân tộc. Đối với mỗi con người Việt Nam, văn hóa
và sự hiểu biết đem lại cho đời sống những điều tốt đẹp nhất về phẩm chất
mà nếu thiếu nó thì cuộc sống sẽ trở nên mất ý nghĩa. Vì thế mà tất cả mọi

20
thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam đều có chung ý thức bảo
vệ và phát triển nó.
Văn hóa như một cơ thể sống luôn diễn ra sự vận động biến đổi do hai
yếu tố nội sinh và ngoại sinh, trong đó yếu tố nội sinh là chủ yếu còn yếu tố
ngoại sinh là quan trọng. Nếu một nền văn hóa bị khép kín, không giao lưu
với bên ngoài giống như không có sự trao đổi chất sống thì sớm hay muộn sẽ

thời với ngôn ngữ và chữ viết riêng của mỗi dân tộc.
Để phát triển nền văn hóa Việt Nam cần phải dựa trên quan điểm
khách quan, khoa học, đánh giá lại toàn bộ di sản nền văn hóa dân tộc. Quan
điểm của học thuyết Mác - Lênin về lĩnh vực đời sống tinh thần xã hội cho
chúng ta hiểu rằng tự thân nền văn hóa luôn hòa quyện yếu tố giai cấp, dân
tộc và nhân loại. Các yếu tố tạo thành nền văn hóa không phải tất cả đều tốt
đẹp hay tất cả đều xấu. Vì vậy, việc chắt lọc, "gạn đục khơi trong" thúc đẩy
nền văn hóa nước ta phát triển đúng hướng, đáp ứng yêu cầu văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, là công việc có tầm quan trọng đặc biệt. Phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là quan điểm có
tầm chiến lược của Đảng ta "làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư,
từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam,
kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của
loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại" [18, tr.213].
Chiến lược phát triển nền văn hóa dân tộc của Đảng vừa phù hợp với yêu cầu
thực tiễn của đất nước vừa đáp ứng đúng nguyện vọng và tình cảm của các
dân tộc trên đất nước ta.
Như vậy, truyền thống ĐKDT Việt Nam có cơ sở hình thành từ hoàn
cảnh đặc thù, do sự tác động thường xuyên của hoàn cảnh thiên nhiên, chung
lợi ích và vận mệnh lịch sử, ý thức bảo tồn và phát triển nền văn hóa thống
nhất trong đa dạng. Ba yếu tố đó như ba chiếc trụ chụm lại tạo thành một cái
đỉnh chung chính là truyền thống ĐKDT.

22
1.1.3. Truyền thống đoàn kết dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh
Truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng đã đóng vai trò rất quan
trọng đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta từ ngày đầu dựng nước
cho đến hôm nay. Từ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo, đặc biệt là vai trò của Hồ
Chí Minh, truyền thống ĐKDT được nâng lên tầm cao mới, có cơ sở lý luận,
có mục tiêu, nguyên tắc rõ ràng. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh của

cách khoa học tính chất và những mâu thuẫn của xã hội nước ta thời bấy giờ.
Tính chất của xã hội nước ta là xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Những mâu
thuẫn cơ bản của xã hội ta đó là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong
kiến, mâu thuẫn giữa công nhân với tư sản dân tộc và tư sản chính quốc, mâu
thuẫn giữa toàn thể dân tộc với đế quốc và bọn tay sai. Trong những mâu
thuẫn cơ bản đó, Hồ Chí Minh xác định mâu thuẫn chủ yếu cần tập trung lực
lượng giải quyết là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa
thực dân Pháp và bọn tay sai của chúng. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của cách mạng lúc này là huy động sức mạnh của cả dân tộc đấu tranh
đánh đổ đế quốc và phong kiến, giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh đã khơi
dậy ngọn lửa yêu nước, thức tỉnh tinh thần dân tộc trong mọi trái tim người
Việt Nam. Bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào cũng có thể góp công sức
vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Vì thế, sức mạnh truyền thống
ĐKDT được Hồ Chí Minh và Đảng ta phát huy mạnh mẽ chưa từng có.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Hồ Chí Minh nói nhiều
về đoàn kết với những cụm từ: đại đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết
nhân dân, đoàn kết nội bộ, ĐKDT, đoàn kết quốc tế Theo những nhà
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh thì Người đề cập đến "đoàn kết dân tộc"
với hai nghĩa khác nhau:
Thứ nhất, "đoàn kết dân tộc" có ý nghĩa tương tự như đoàn kết toàn
dân, có lần Người viết: "Đảng ta đã khéo tập hợp mọi lực lượng yêu nước và

24
tiến bộ trong Mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện đoàn kết dân tộc để đấu
tranh chống đế quốc và phong kiến" [38, tr.18].
Thứ hai, "đoàn kết dân tộc" với nghĩa là sự đoàn kết giữa dân tộc đa số
với dân tộc thiểu số, đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau.
Về lý luận và thực tiễn, quan điểm Hồ Chí Minh về ĐKDT là sự kết
hợp tuyệt vời giữa lý luận Mác - Lênin với thực tiễn lịch sử và truyền thống
Việt Nam.

giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động nước ta, Đảng còn đại
biểu cho lợi ích của toàn dân tộc.
Hai là, đoàn kết rộng rãi và lâu dài. Bất kỳ người Việt Nam yêu nước
nào tự nguyện tán thành mục tiêu của Đảng miễn là muốn phụng sự Tổ quốc,
phục vụ nhân dân thì Đảng và nhân dân lao động Việt Nam "thật thà" đoàn
kết lâu dài với họ. Đoàn kết là một chính sách dân tộc chứ không phải là một
thủ đoạn chính trị. Thậm chí ngay cả khi trong quá khứ người đó có sai lầm,
khuyết điểm, chống đối ta mà nay thành tâm hối cải và quyết lòng sửa chữa
thì chúng ta cũng thu phục sử dụng để họ có cơ hội trở thành người có ích,
góp sức đấu tranh và xây dựng nước nhà.
Ba là, phải không ngừng xây dựng và củng cố khối ĐKDT. Đây là
công việc thường xuyên, xây dựng và củng cố phải làm từ dưới lên trên, từ
trong ra ngoài. Cái "nền gốc" là khối liên minh giữa giai cấp công nhân với
nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Hồ Chí Minh dạy rằng:
công nông là gốc của cách mạng, liên minh này có vững chắc thì Mặt trận
dân tộc thống nhất và khối ĐKDT mới bảo đảm. Đối với nguyên tắc này,
Người nhiều lần nhấn mạnh Đảng phải đoàn kết, nếu trong nội bộ Đảng
không đoàn kết thì làm sao lãnh đạo, làm sao tạo được sự đoàn kết thống
nhất toàn xã hội. Cho nên: "Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần
phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt
mình" [40, tr. 510]. Lịch sử đã cho ta bài học về sức mạnh, sức mạnh của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status