BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
NGUYỄN MẠNH HÙNG
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ HÁT QUAN LÀNG
CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
NGUYỄN MẠNH HÙNG
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ HÁT QUAN LÀNG
CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Cư
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn của PGS-TS. Nguyễn Văn Cư, có kế thừa một số kết quả nghiên
cứu liên quan đã được công bố. Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung
thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn
của mình.
Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm
2015
Tác giả
Nguyễn Mạnh Hùng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hát Quan làng là một lĩnh vực sinh hoạt văn hóa và là nền tảng sinh
hoạt tinh thần của dân tộc Tày. Hát Quan làng phản ánh trình độ phát triển
trong sinh hoạt cộng đồng và trong lễ cưới của dân tộc Tày.
Hát Quan làng có giá trị về văn hoá học, mỹ học, triết học và được hình
thành trong lịch sử lâu dài của cộng đồng dân tộc Tày. Hát Quan làng được
đúc kết từ kinh nghiệm sống và lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịt
với con người tạo nên đặc thù của dân tộc Tày. Giá trị hát Quan làng thể
hiện bản sắc, làm nên diện mạo, cốt cách dân tộc Tày và cái đẹp thẩm mỹ về
con người trong lễ cưới. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy
anh em. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã làm cho các dân tộc trong đại
gia đình Việt Nam ngày càng gần gũi, gắn kết bên nhau thành một khối đại
đoàn kết dân tộc không gì lay chuyển nổi, cùng chung sức bảo vệ và xây dựng
đất nước ngày càng giàu đẹp.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Đảng ta đề cao vai trò bảo
tồn và phát huy bản sắc dân tộc và coi bản sắc dân tộc là một trong những yếu
tố không thể thiếu trong việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, là nguồn
lực nội sinh quan trọng của phát triển. Chính vì thế, cùng với việc đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tại hội nghị Trung ương 4, khóa VII
(1993), Đảng ta đã xác định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội” Đảng ta luôn chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc
các dân tộc thiểu số nhất là các dân tộc sống ở các vùng xa xôi hẻo lánh, điều
kiện sinh sống gặp rất nhiều khó khăn. Nghị định 22 của Bộ Chính trị nêu rõ:
“Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát
huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc
khác và góp phần phát triển văn hóa chung của cả nước, tạo ra sự phong phú
2
đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [7, tr51].
Đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng
định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn và phát triển
kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội...” [17, tr.75].
Bảo tồn và phát huy hát giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của người
Tày nói riêng và phát triển hoàn thiện con người Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay nói chung, Nghị quyết Trung ương 9, khoá XI một lần nữa nhấn
mạnh: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
giá trị truyền thống của dân tộc này có nguy cơ mai một do chịu sự tác động
bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường, những hạn chế của việc thực hiện
chính sách định cư, quy hoạch phát triển kinh tế… Vì vậy, việc bảo tồn và
phát huy gịữ gìn hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày ở Huyện Yên
Sơn Tỉnh Tuyên Quang là nhiệm vụ cấp thiết nhằm góp phần bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
Với nhận thức bước đầu như trên, em lựa chọn vấn đề “Bảo tồn và
phát huy giá trị hát Quan làng của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh
Tuyên Quang hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Hy
vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức lý luận
và năng lực thực tiễn trong công tác của bản thân.
2. Tình hình nghiên cứu
Những năm trở lại đây, việc bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc của
các dân tộc thiểu số nói chung, bản sắc văn hoá của dân tộc Tày nói riêng
đang nhận được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý văn hóa
và các nhà khoa học trên thế giới và trong nước. Sau đây là tình hình hình
nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn:
Thứ nhất, Quan điểm của thế giới về bảo vệ các giá trị di sản văn hoá là:
vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá trong thời đại ngày nay không
4
còn là vấn đề của mỗi quốc gia, dân tộc mà nó đã trở thành vấn đề mang tính
toàn cầu. Trên thế giới, vào thời gian nửa sau thế kỷ XX, Tổ chức Văn hoá,
Giáo dục và Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã rất nỗ lực để nghiên
cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc biệt là về giá trị di sản văn
hoá. UNESCO chia di sản văn hoá thành hai loại: Di sản “Văn hoá vật thể” và
di sản “Văn hoá phi vật thể”; lấy ngày 18/5 hàng năm là ngày Bảo tàng Thế
giới; nhiều tổ chức phi chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá mang tính khu vực
và quốc tế đã lần lượt ra đời để cùng nhau phối hợp bảo vệ di sản văn hoá của
quan niệm mới về văn hóa của phương Tây mà điểm cốt lõi là đề cao nhân tố
văn hóa trong phát triển, phát huy những giá trị văn hóa, coi trọng việc bảo vệ
bản sắc dân tộc, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc
ở rất nhiều góc độ khác nhau. Một số công trình tiêu biểu:
Tác giả Phạm Duy Đức, chủ biên: Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về văn hóa, (2008) (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội), các tác giả đã
bàn luận quan điểm của các nhà triết học mác xít về xây dựng nền văn hóa xã
hội chủ nghĩa và một số lĩnh vực cơ bản như văn hóa chính trị, vấn đề xây
dựng con người, đạo đức, lối sống, tín ngưỡng.
Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, PGS. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999. “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Phan
Ngọc, Nxb Văn học, 2006. “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), "Bản sắc
văn hóa dân tộc", Hồ Bá Thâm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2003. Những tác
phẩm trên chủ yếu nghiên cứu liên quan đến bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam, về đặc điểm, vai trò, bản sắc văn hóa Việt Nam trong đời sống hiện nay,
đặc biệt là đời sống văn hóa trong thời kỳ đất nước đang trong giai đoạn
chuyển mình với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, đi cùng
với sự phát triển kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
hội nhập với thế giới.
6
Giáo trình “Văn hóa học”, do Nguyễn Thị Thường chủ biên (Nxb Đại
học sư phạm Hà Nội, năm 2008), lại giúp cho chúng ta nắm được những nét
cơ bản của văn hóa về khái niệm, vai trò, bản chất, chức năng, các quy luật và
sự phát triển của văn hóa và nắm được những mốc lịch sử phát triển của văn
hóa Việt Nam, lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cở sở phương pháp luận, lấy
lịch sử văn hóa Việt Nam và lịch sử văn hóa thế giới làm điểm tựa.
Trong cuốn Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu
Tổng quan về tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy:
Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển văn hoá,
bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá dân tộc trong đó có hát Quan làng trong
lễ cưới của dân tộc Tày. Nhiều công trình nghiên cứu đã góp phần làm rõ cơ
sở lý luận và thực tiễn của vấn đề. Các nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò của việc
bảo tồn, phát huy hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày trong giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa chủ động hội nhập với xu thế toàn
cầu hóa.
Có thể khẳng định rằng, cho đến nay chưa có công trình nào đã công bố
mà trùng với hướng tiếp cận và nội dung đề tài về bảo tồn và phát huy giá trị
hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên
Quang. Điểm mới của đề tài luận văn ở chỗ, vận dụng quan điểm biện chứng
của chủ nghĩa Mác - Lênin về quy luật vận động, phát triển, phát huy, kế thừa,
giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc thiểu số, tiếp cận nghiên cứu vấn đề hát
Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang,
đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của địa phương.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích
Trên cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa về
hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày trong quá trình phát triển, đề tài
khảo sát đánh giá thực trạng hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày ở
tỉnh Tuyên Quang trong thời gian qua, đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của
8
dân tộc Tày đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội hiện nay.
- Đối tượng nghiên cứu: Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình
bày ở trên, luận văn xác định đối tượng: nghiên cứu bảo tồn và phát huy các giá
cưới của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn
hiện nay.
Về thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các môn như Triết
học, Văn hoá học... có thể làm căn cứ đề xuất các giải pháp trong công tác
lãnh đạo, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của
dân tộc Tày ở địa phương.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và chính sách dân tộc đối
với các dân tộc thiểu số. Luận văn vận dụng quan điểm biện chứng để nghiên
cứu vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của dân
tộc Tày
Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứngvà chủ nghĩa
duy vật lịch sử, luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu của
các khoa học liên/đa ngành, như: lô gic – lịch sử, phân tích – tổng hợp, khái
quát hoá... kết hợp với các phương pháp khảo sát, thống kê ... để thực hiện các
yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 2 chương 4 tiết
10
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT
- Phía Đông giáp huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện theo số liệu thống kê đất đai tính đến
ngày 01/01/2012 là 113.242,26 ha. Trong đó:
Đất nông nghiệp:
102.595,71 ha;
Đất phi nông nghiệp:
9.041,85 ha;
Đất chưa sử dụng:
1.604,70 ha.
Bao gồm 31 đơn vị hành chính cấp xã (01 thị trấn và 30 xã). Trên địa
bàn huyện có các tuyến giao thông đường bộ quan trọng như: Quốc lộ 2;
Quốc lộ 2C; Quốc lộ 37 và tuyến đường thủy (Sông Lô - Sông Gâm - Sông
Phó Đáy). Yên Sơn là huyện nằm bao bọc thành phố Tuyên Quang (trung tâm
kinh tế - Văn hóa - Chính trị lớn nhất trong toàn tỉnh) nên các tuyến giao
thông chính thành phố Tuyên Quang đều đi qua địa bàn huyện. Đây là điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hiện tại và trong
những năm tới.
1.1.2.Địa hình, địa mạo của huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang
Địa hình của huyện Yên Sơn khá phức tạp, bị chia cắt bởi hệ thống
sông suối, đồi núi, thung lũng thành các kiểu địa hình khác nhau. Dạng địa
hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất là đỉnh Núi Là (xã Kim Phú và xã
Chân Sơn) có độ cao 550 m, độ dốc trung bình từ 20 - 25 0. Căn cứ vào điều
kiện địa hình, thủy văn ... huyện Yên Sơn được chia thành 3 vùng như sau:
- Vùng Thượng huyện: Gồm 6 xã: Quý Quân, Lực Hành, Xuân Vân,
Đảng, Nhà nước đề ra.
Môi trường núi rừng tự nhiên đã giúp cho huyện Yên sơn tỉnh Tuyên
Quang có cái nôi vật chất nuôi sống đồng bào, đồng thời là đất mẹ sản sinh ra
13
một nền văn hóa miền núi đặc trưng, trong đó có hát Quan làng trong lễ cưới
của dân tộc Tày.
1.1.3. Môi trường xã hội của huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang
Xét trên bình diện khảo cổ học – lịch sử, với các bằng chứng khảo cổ
tìm được cho tới nay, tuy mới chỉ là bước đầu và còn ít ỏi, nhưng đã khẳng
định có mặt rất sớm của của dân tộc Tày cổ ở Tuyên Quang cũng như ở khu
vực Tây Bắc với nhiều câu chuyện dân gian được truyền miệng. Như chuyện
“Ông khổng lồ ở luỗng trò”. Xa xưa kể rằng Ông đã chọn vùng đất này để
làm ruộng. Những mỏm đá to lô nhô nằm ở giữa con suối, ở phía Đông của xã
Trung Trực huyện Yên Sơn là đàn châu của người khổng lồ ở đó. Như vậy
chính những người Tày cổ cùng với sự phát triển lịch sử, đã lao động cần cù
và đấu tranh không ngừng với thiên nhiên để sáng tạo ra nền văn hóa giàu sức
sống và đậm sắc thái bản địa, cũng như đóng góp trực tiếp vào nền văn minh
Đông Sơn – Văn Lang trong lịch sử Việt Nam.
Xét về nguồn gốc lịch sử, người Tày Tuyên Quang gồm 3 bộ phận là:
Bộ phận người tày cổ bản địa, bộ phận người tày gốc kinh ở miền xuôi lên
được bổ nhiệm làm quan, làm binh lính được điều lên đồn trú, hay lên làm
ăn..., bộ phận từ Quảng Tây Trung Quốc đến lập nghiệp (39,tr.14). Huyện
Yên Sơn Tuyên Quang có dân số là 83.784.000người ( năm 2010) [13, tr.10].
nơi đây có số lượng người tày cư trú đông ( ở các xã ATK, và thượng huyện)
chủ yếu thuộc người Tày cổ bản địa. Họ đã sáng tạo ra nghề nông nghiệp lúa
nước và xây dựng lên nền văn hóa truyền thống địa phương. Họ sống theo
gia đình. Các gia đình lại sống quần tụ với nhau tạo nên làng bản ở ven núi,
ven sông, ven suối. Bản có ít hoặc nhiều hộ gia đình, địa giới có thể dài, rộng
huyện Yên Sơn đã tiếp cận được những tinh hoa văn hóa của các dân tộc
khác dựa trên nền văn hóa truyền thống lâu đời để hình thành, củng cố, phát
triển văn hóa xã hội của dân tộc Tày nói chung, hát Quan làng nói riêng.
15
1.1.4. Đời sống văn hóa của huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Người dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang có một đời
sống văn hóa vật chất khá đa dạng, giàu bản sắc dân tộc. Về nhà ở, nhà sàn là
kiểu nhà truyền thống của dân tộc Tày. Ngày nay, một bộ phận người Tày ở
gần chợ và dọc trục đường giao thông còn xây dựng nhà đất, nhà sàn cải tiến
như nhà sàn bằng bê tông cốt thép. Nhưng nhìn chung, nhà sàn truyền thống
vẫn được ưa chuộng. Nhà sàn đã gắn với đời sống, nghi lễ, phong tục của
đồng bào dân tộc Tày.
Trước kia, họ thường xây dựng chuồng trại chăn nuôi ngay dưới gầm
nhà để dễ dàng chăm sóc, bảo vệ vật nuôi. Ngày nay, do nhận thức tiến bộ
hơn, chuồng trại chăn nuôi được đồng bào tách khỏi khu ở. Đồng bào còn
xây dựng các công trình phụ khác: nhà kho, giếng nước, nhà vệ sinh tự hoại...
Về trang phục, xa xưa, người Tày mặc quần áo vải chàm, tự khâu lấy.
Ngày nay, quần áo dân tộc không còn phổ biến. Dân tộc Tày ăn mặc theo
kiểu thời trang phổ thông. Những đám cưới ăn mặc kiểu truyền thống đã dần ít
đi.
Người Tày có nghệ thuật ẩm thực khá phong phú. Bên cạnh những món
ăn truyền thống, họ còn sáng tạo thêm các món ăn hợp khẩu vị. Nhiều phụ nữ,
thầy cúng kiêng không ăn thịt trâu, bò, chó, mèo... cũng không đem những
thức ăn chế biến từ các loại thịt này cúng thánh thần, gia tiên, bởi họ coi đó là
đồ ăn uế tạp, hoặc do tâm lý không ăn thịt động vật nuôi có ích, gần gũi.
Đồ uống của người Tày cũng khá đa dạng. Ngoài nước đã đun, các loại chè
tự trồng và sao được, họ còn nấu, cất riệu để dùng trong các dịp lễ hội, tụ tập
sinh hoạt. Chè và riệu là hai thức uống phổ biến, sang trọng trong sinh hoạt
Tày được lưu truyền trong đời sống nhân dân qua nhiều thế hệ, qua nhiều
địa phương. Hát Quan làng không chỉ là hệ thống các bài nghi lễ đám cưới
của người Tày ở huyện Yên Sơn mà trong cả cộng đồng người dân tộc Tày. Cho
17
đến nay, khó có thể nhận định bài hát Quan làng nào có tác giả, bài nào do
sáng tác vô danh, bài nào xuất hiện ở địa phương nào đầu tiên. Vậy nên tìm
hiểu nguồn gốc hát Quan làng ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang cũng
chính là tìm hiểu thời gian, hoàn cảnh ra đời của hát Quan làng nói chung.
Có giai thoại về nguồn gốc hát Quan làng lưu truyền ở Cao Bằng như
sau: Lê Thế Khanh (không rõ người thời nào) là một người Tày ở Thạch Lâm Cao Bằng, khi còn trẻ đã từng về học ở Kinh đô Giao Châu. Sau này, ông mở
lớp để dạy chữ Hán ở nhiều nơi. Học trò của ông rất đông. Bên cạnh việc
dạy chữ, ông còn ghi chép lại các lời vấn đáp giữa hai nhà trong đám cưới
rồi sửa chữa, biên soạn thành thơ để dạy cho học trò. Ngoài hát đám cưới, ông
còn dạy các phong tục tập quán, nghi lễ khác. Trong các tài liệu nghiên
cứu chuyên sâu về hát Quan làng chưa chỉ ra thời gian hát Quan làng xuất
hiện. Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn thế hệ cao niên sinh sống ở huyện Yên
Sơn: “Hát Quan làng xuất hiện tại địa phương từ khi nào?” Không ai đưa ra câu
trả lời có căn cứ khoa học. Các câu trả lời chúng tôi nhận được rất khái quát
chung chung: “Hát Quan làng có từ lâu lắm rồi!”
Tuy chưa thể đưa ra năm chính xác, nhưng qua nội dung và hình
thức các bài hát Quan làng , chúng tôi tán thành phỏng đoán: Hát Quan
làng chỉ ra đời vào thời kì chế độ kinh tế cá thể đã phát triển khá cao, chế
độ hôn nhân một vợ một chồng đã thịnh hành trong xã hội. Ở thời kì này,
địa bàn hôn nhân đã được mở rộng, tức là thanh niên ở các địa phương khác
nhau có thể tìm hiểu và kết hôn. Tất nhiên việc cưới xin này chủ yếu do
cha mẹ và họ hàng hai bên thỏa thuận, xếp đặt.
Theo lời ông Ma Văn Quý ở thôn Đồng Ho - xã Trung Trực huyện Yên
Sơn tỉnh Tuyên Quang phỏng đoán: Hát Quan làng ở địa phương xuất hiện
mạnh công cuộc sưu tầm, nghiên cứu hát Quan làng . Dân ca đám cưới
19