MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hát Quan làng là một lĩnh vực sinh hoạt văn hóa và là nền tảng sinh hoạt tinh
thần của dân tộc Tày. Hát Quan làng phản ánh trình độ phát triển trong sinh hoạt
cộng đồng và trong lễ cưới của dân tộc Tày.
Hát Quan làng có giá trị về văn hoá học, mỹ học, triết học và được hình thành trong
lịch sử lâu dài của cộng đồng dân tộc Tày. Hát Quan làng được đúc kết từ kinh nghiệm sống
và lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịt với con người tạo nên đặc thù của dân tộc
Tày. Giá trị hát Quan làng thể hiện bản sắc, làm nên diện mạo, cốt cách dân tộc Tày và cái
đẹp thẩm mỹ về con người trong lễ cưới. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy
bản sắc hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày là cần thiết và cấp bách.
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới với sự phát triển mạnh mẽ của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế - xã hội và
sự chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, đã và đang
tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội. Nhiều vấn đề đặt ra đối với xây
dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới,
phát triển kinh tế, văn hoá xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi… Vấn đề
bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và hát Quan làng trong lễ
cưới của dân tộc Tày nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm.
Về nguyên tắc, muốn giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc, thì
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, ngược lại
phải biết bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, vừa
phải sử dụng những thành quả kinh tế, chính trị, giáo dục và đặc biệt là áp dụng
những thành quả của khoa học - công nghệ hiện đại cho việc đẩy mạnh sáng tạo các
giá trị văn hóa mới. Bởi vì, chỉ có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
mới đảm bảo cho một quốc gia, một dân tộc có sự phát triển bền vững.
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có giá trị
truyền thống, bản sắc văn hóa riêng. Vì thế việc kế thừa, bảo tồn và phát huy giá trị
hát Quan làng của dân tộc Tày có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển văn hóa
của người Tày nói riêng và văn hóa chung của cả nước cũng như xây dựng và bảo vệ
chung, Nghị quyết Trung ương 9, khoá XI một lần nữa nhấn mạnh: Xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và
khoa học... Việc bảo tồn, phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc
Tày có ý nghĩa rất quan trọng. Bảo tồn và phát huy hát Quan làng trong lễ cưới của
2
dân tộc Tày không những nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng
bào vùng dân tộc Tày ở tỉnh Tuyên Quang, mà còn tạo động lực mới trong quá trình
phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng trong bối cảnh hiện nay.
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc Việt
Nam đã và đang tiếp nối những giá trị văn hoá tốt đẹp, làm nên sức sống trường tồn
đưa đất nước vượt qua bao thăng trầm, hiện nay nước ta đang ở giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra những thách thức
và cơ hội cho phát triển văn hóa dân tộc trong đó có bảo tồn và phát huy giá trị hát
Quan làng trong lễ cưới của dân dân tộc Tày. Những vấn đề nảy sinh do sự thay đổi
cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sự biến đổi của cơ chế quản lý, quá trình đô thị hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế… đang tác động sâu sắc đến sự biến đổi văn hóa của
từng vùng miền trên cả nước nói chung, trong địa bàn có người Tày sinh sống nói
riêng. Hơn bao giờ hết, việc bảo tồn và phát huy hát Quan làng trong lễ cưới của dân
tộc Tày trong bối cảnh hiện nay được đặt ra hết sức cấp thiết.
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc của đất nước, nơi có 22 dân tộc
anh em cùng sinh sống. Với bề dày lịch sử hình thành và văn hóa tộc người, hát Quan
làng trong lễ cưới của dân tộc Tày là một bộ phận, góp phần làm phong phú thêm
kho tàng văn hóa Việt Nam. Với số dân đứng thứ hai sau người Kinh ở Tuyên Quang,
cộng đồng dân tộc Tày có từ lâu đời với đời sống tâm linh phong phú đã hình thành
nền văn hóa chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc, nhất là hát Quan làng trong
lễ cưới của người Tày. Song, những giá trị truyền thống của dân tộc này có nguy cơ
mai một do chịu sự tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường, những hạn chế
chế sự đổi mới tư duy về vai trò, vị trí của văn hóa của Đảng. Điều 30 đến 34 trong
Chương III đề cập đến văn hóa ở các khía cạnh: Nhà nước chủ trương bảo tồn, phát
huy giá trị nền văn hóa Việt Nam, các di sản văn hóa dân tộc, những giá trị của nền
văn hiến các dân tộc Việt Nam.
- Nghị quyết Trung ương 5 khoá XIII về Xây dựng phát triển nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, khẳng định nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống
nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Một trong mười nhiệm vụ quan
trọng đó là xây dựng văn hoá các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Nhà nước ban hành Luật Di sản văn hóa, có sửa đổi bổ sung từ năm 2001 đến
nay. Quyết định số 124/2003/QĐ-TTg ngày 17/06/2003 phê duyệt Đề án Bảo tồn văn
hóa các dân tộc thiểu số. Những nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra trong Chiến lược
phát triển văn hóa từ nay đến 2020, trong đó có bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa dân tộc và bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa dân tộc thiểu số.
4
Trong định hướng phát triển đất nước, Đảng ta đề cao vai trò của văn hoá: Văn
hóa là nền tảng tinh thần xã hội, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển
kinh tế - xã hội. Văn hoá là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển.
Thứ ba, Trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan
niệm mới về văn hóa của phương Tây mà điểm cốt lõi là đề cao nhân tố văn hóa
trong phát triển, phát huy những giá trị văn hóa, coi trọng việc bảo vệ bản sắc dân
tộc, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc ở rất nhiều góc độ
khác nhau. Một số công trình tiêu biểu:
Tác giả Phạm Duy Đức, chủ biên: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
văn hóa, (2008) (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội), các tác giả đã bàn luận quan điểm
của các nhà triết học mác xít về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và một số
lĩnh vực cơ bản như văn hóa chính trị, vấn đề xây dựng con người, đạo đức, lối sống,
tín ngưỡng.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích
Trên cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa về hát
Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày trong quá trình phát triển, đề tài khảo sát
đánh giá thực trạng hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày ở tỉnh Tuyên Quang
trong thời gian qua, đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn
và phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế, văn hóa xã hội hiện nay.
- Đối tượng nghiên cứu: Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở
trên, luận văn xác định đối tượng: nghiên cứu bảo tồn và phát huy các giá trị hát Quan
làng trong lễ cưới của dân tộc Tày ở Huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế, văn hóa của địa phương hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu hát Quan làng trong lễ
cưới của dân tộc Tày huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang và thực trạng hát Quan làng
trong lễ cưới của dân tộc Tày trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến nay. Đây là
quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII “Về xây dựng và phát triển
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” của địa phương.
4. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
- Những luận điểm cơ bản:
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận của hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc
Tày (những khái niệm cơ bản, quan điểm nội dung, nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá
trị hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày); giới thiệu khái quát về dân tộc Tày ở
Tuyên Quang và hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày
- Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới
của dân tộc Tày trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của bảo tồn và phát
huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày đáp ứng yêu cầu phát triển.
- Những đóng góp mới của luận văn:
7
TRỊ HÁT QUAN LÀNG CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH
TUYÊN QUANG HIỆN NAY
1.1. Cơ sở thực tiễn
1.1.1. Môi trường tự nhiên của huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang
8
"Con người sống dựa vào thiên nhiên, như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của
con người. Để tồn tại và phát triển con người phải ở trong quá trình trao đổi với cơ
thể đó"[3, tr.27]. Tự nhiên không những là môi trường sống, mà còn là đối tượng để
con người tác động, cải tạo sản xuất ra của cải vật chất, phục vụ cho nhu cầu con
người, phát triển xã hội và hình thành nên đời sống văn hóa của mình. Như vậy, tự
nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa tinh thần của con người.
Yên Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Nam tỉnh Tuyên Quang, nằm trong khoảng
tọa độ địa lý: Từ 210 40’ đến 220 10’ Vĩ độ Bắc và 1050 10’ đến 1050 40’ Kinh độ Đông.
Địa giới hành chính của huyện được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Hàm Yên và huyện Chiêm Hóa;
- Phía Tây giáp huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái;
- Phía Nam giáp huyện Sơn Dương và huyện Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ);
- Phía Đông giáp huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện theo số liệu thống kê đất đai tính đến ngày
01/01/2012 là 113.242,26 ha. Trong đó:
Đất nông nghiệp: 102.595,71 ha;
Đất phi nông nghiệp:
Đất chưa sử dụng:
9.041,85 ha;
1.604,70 ha.
Bao gồm 31 đơn vị hành chính cấp xã (01 thị trấn và 30 xã). Trên địa bàn
Nhưng nhìn chung, nhà sàn truyền thống vẫn được ưa chuộng. Nhà sàn đã gắn với
đời sống, nghi lễ, phong tục của đồng bào dân tộc Tày.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Khái niệm hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày
Tên gọi " hát Quan làng "
Người Tày hát đám cưới bằng nhiều tên khác nhau. Có nơi gọi là “Lượn lẩu”
(Lượn trong đám cưới), cũng có nơi gọi là “Lượn pú ta” (Lượn Quan làng ) (Lượm
tức là hát). Người Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang thì gọi là "Hát Quan làng
" để phân biệt hát đám cưới với các loại lượn hát trong đời sống, lễ hội hàng ngày.
Theo tiếng Tày, Hát Quan làng có nghĩa là hát cưới xin. “Hát Quan làng ” còn được
gọi là “Thơ lẩu”. Sở dĩ có tên gọi này là vì “Hát Quan làng ” trong đám cưới chủ yếu
được một Quan làng đại diện cho nhà trai và một Pả mẻ đại diện cho nhà gái hát đối
đáp với nhau. Trong đó phần hát của Quan làng là nhiều hơn. Cách gọi này giúp hát
đám cưới không thể nhầm lẫn với các loại hình khác, bởi tên gọi “Hát Quan làng ” đã
gắn chặt với cách gọi tên người diễn xướng của loại hình. “Hát Quan làng ” cũng là
cách người Thái Trắng (Tày Khao) gọi hát đám cưới của mình. Cách gọi này khá phổ
biến ở một số xã vùng ATK của huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang (xã Đào Viện, xã
Hùng Lợi, xã Trung Minh, xã Trung Sơn...) Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Hà Văn Thư 10
Lã Văn Lô trong Văn hoá Tày Nùng, cũng gọi hát đám cưới của người Tày là “xướng
Quan làng ” hay “thơ Quan làng ”
* Khái niệm
Hát Quan làng là tên một loại hình diễn xướng văn hoá có từ lâu đời và chiếm
một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân tộc Tày. Hát Quan làng đã
được đề cập tới trong nhiều sách nghiên cứu, nhưng chưa nhà nghiên cứu nào đưa ra
khái niệm cụ thể. Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu và khảo sát thực
tế, chúng tôi mạnh dạn đưa ra khái niệm Hát Quan làng như sau: Hát Quan làng thuộc
loại hình dân ca nghi lễ đám cưới của dân tộc Tày. Đó là hệ thống những bài hát đón
dâu, có phân chia thành các phần tương ứng với các nghi thức cụ thể trong đám cưới.
con, còn không hợp thì giữa hai nhà coi như chưa có chuyện gì xảy ra.
Sau đó vài tháng đến 1- 2 năm là lễ ăn hỏi (kin lẹ). Khi đã tổ chức lễ này thì cô
gái được coi là đã gả bán và chàng trai cũng được coi là đã có vợ. Kể từ đó đến lễ cưới,
hàng năm nhà trai phải tổ chức lễ sêu tết (pây chầư) tức là mang lễ vật cho nhà gái
vào tết tháng giêng, rằm tháng bảy.
Lễ báo ngày cưới do nhà trai chủ động, tiến hành trước ngày cưới từ 2- 3
tháng trở lên để nhà gái chuẩn bị. Những điều bàn định trong lễ này được coi là
bất di bất dịch. Hai bên gia đình cứ nhớ mà tổ chức cho nghiêm túc, chu đáo.
Lễ cưới (kin lẩu) được tổ chức trong hai ngày liên tục. Ngày thứ nhất ở nhà gái,
ngày thứ hai bên nhà trai. Có đám cưới lớn còn tổ chức trong ba ngày. Trong lễ
cưới, lễ đón dâu, đưa dâu được tổ chức theo đúng ngày, giờ ước định. Lễ đón dâu,
đưa dâu thường bắt đầu từ chiều tối hôm trước đến hôm sau. Tại lễ này, hình thức Hát
Quan làng mới được diễn xướng.
Ngày nay, đám cưới của người Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang thường
được tổ chức vào mùa cưới, các nghi lễ cũng gọn, đơn giản hơn. Trai gái xây dựng gia
đình không theo quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nữa mà được tự do tìm hiểu
và yêu đương. Khi tình yêu đã chín muồi, họ sẽ báo cho cha mẹ. Đám cưới thường chỉ
gồm ba lễ chính là lễ dạm, lễ ăn hỏi, lễ cưới. Thông thường các thủ tục chỉ gói gọn trong
một năm. Trong lễ cưới, nghi lễ đón dâu, đưa dâu ít nhiều vẫn theo tập tục truyền thống.
Một đám cưới được tổ chức ở bản thì cả bản biết tin, bởi ngoài sự tham gia của
họ hàng, làng xóm hai bên gia đình còn có sự tham gia của Phường họ bạn (Phường).
Trong cuốn Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc, Hoàng Quyết, Tuấn Dũng có
chỉ ra: “Phường họ bạn là một tổ chức do những người cùng cảnh ngộ tự nguyện lập
nên. Phường họ bạn có mục đích duy nhất là giúp đỡ nhau về vật chất và sức người
trong một đám cưới. Phường họ bạn thu nạp khoảng 20 - 30 thành viên” [24, tr.3]. Do
có sự giúp đỡ tận tình, chu đáo với tinh thần trách nhiệm cao của Phường họ bạn
mà không gian đám cưới được kéo rộng ra trong cả các gia đình thành viên trong
12
Những bài ca đón dâu
13
1.3. Sự cần thiết bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hát Quan làng trong lễ
cưới của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang
Trước hết là quan điểm bảo tồn di sản văn hóa. Từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa:
Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi, còn phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa
sáng và tiếp tục nảy nở thêm.
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức
vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay
biến thái”. Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”,
“nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là
tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian,
dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn.
Mối quan hệ giữa bảo tồn hát Quan làng là nghi lễ trong đám cưới của dân tộc
Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang và tinh thần đoàn kết của các dân tộc trên
quê hương cách mạng (Thủ Đô kháng chiến) rất mật thiết, nghệ thuật hát Quan làng
trong lễ cưới của đồng bào dân tộc Tày được hình thành qua nhiều thời kỳ xây dựng
nước và giữ nước, gắn với đời sống canh tác lúa nước. Nội dung của hát Quan làng
trong lễ cưới của dân tộc Tày mang đậm tính chất nghi lễ, hát trước mọi người, hát
trước bố, mẹ, ông, bà và hát trước bàn thờ tổ tiên. Đó là lời hát ứng xử trong các nghi
lễ đám cưới của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang nói riêng và khu
vực Tây Bắc nói chung, nghe hát Quan làng là cầu chúc cho đôi bạn trẻ sống hạnh
phúc trăm năm và thể hiện tình hiếu thảo của con đối với bố mẹ đã sinh thành ra
mình, hiếu thảo với tổ tiên, thể hiện tín ngưỡng tâm linh... thể hiện tình đoàn kết của
bà con xóm làng. Xuyên suốt các chặng đường hát Quan làng là nghi lễ đám cưới
của dân tộc Tày và sản xuất lúa nước của cư dân nông nghiệp từ thời kỳ Văn Lang Âu Lạc còn lưu truyền cho đến nay. Tại nhiều địa phương hát Quan làng còn được
gắn kết với phong tục riêng của từng vùng miền và sinh hoạt văn hóa trong đám cưới.
hợp với việc cưới xin, hội họp họ hàng. Đó là ngày, giờ Phúc sinh, Hoàng đạo,
Thiên thai. Vào những ngày, giờ này kẻ đi ngược có ngựa, kẻ đi xuôi có thuyền,
hoẵng trên đồi không kêu, hổ rừng sâu không gào... Ngược lại, tức là trời đất không
thuận lòng người, báo điềm gở cho biết trước. Khi đã xem định cẩn thận thì hai bên
gia đình cứ đến ngày, giờ ấy mà tiến hành đám cưới. Việc tiến hành phải đảm bảo
đúng, không sai chệch giờ giấc. Nhiều khi vì không chọn được ngày, giờ đẹp mà đám
cưới bị trì hoãn lại một thời gian khá dài. Việc chọn ngày, chọn giờ cưới của người
Tày ở Huyện Yên Sơn còn mang tính mê tín, nhưng do đã trở thành tục lệ trong đời
sống văn hoá tâm linh của đồng bào nên khó có thể thay đổi được.
Hát Quan làng với tục chăng dây
Tục chăng dây (còn gọi là tục căng dây) là tục lệ đã có từ lâu đời
15
trong văn hoá truyền thống dân tộc Tày và một số dân tộc khác. Ở huyện Yên
Sơn tỉnh Tuyên Quang, tục chăng dây chỉ có trong đám cưới và được thực hiện
như một nghi lễ đón đường. Muốn những sợi dây được cất đi, chỉ có cách là
Quan làng phải hát một, hai bài xin cất dây chăng. Có khi đoàn chăng dây còn
cố tình kéo dài thời gian mà không chịu rút dây. Quan làng phải bỏ tiền ra
mừng, khéo xin đoàn chăng dây giúp đỡ.
Hát Quan làng với tục dâng tấm vải ướt khô
Thành ngữ Tày có câu “Nắc bẳng phia, na bẳng đán”, ý nói công ơn của cha
mẹ nặng và dày như núi đá. Con cái trong gia đình phải ghi nhớ công lao ấy và
thể hiện tấm lòng trân trọng, biết ơn cha mẹ bằng những hành động cụ thể. Có
dịp thuận tiện người ta nghĩ ngay đến sự đền đáp công ơn cha mẹ. Tục dâng tấm
vải ướt khô trong ngày cưới của người Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang ra
đời dựa trên cơ sở ấy. Tục dâng tấm vải ướt khô (sằm khấu) được coi là một nghi lễ
không thể thiếu trong đám cưới. Nghi lễ này chỉ được thực hiện ở nhà cô dâu,
nhà chú rể không tổ chức nghi lễ này. Nghi lễ thể hiện hành động trả ơn của
người con rể đối với người mẹ hoặc người đã trực tiếp nuôi dưỡng cô dâu từ lúc
sự thay cho lời ăn, tiếng nói của mọi người. Mặt khác, hát Quang làng là một nghi lễ
truyền thống có từ lâu đời, là sản vật, là biểu trưng của nền văn hoá dân tộc Tày vốn rất
trọng lễ nghi, đạo lý. Trong không gian đám cưới thân tình giữa hai họ thì việc tránh
những yếu tố thô tục, dễ gây bất hoà cũng là lẽ đương nhiên. Do đó, các bài hát Quan
làng phải làm sao chuyển tải được tình cảm và tạo được không khí lịch thiệp, tao nhã
ngay từ đầu khi hai họ gặp nhau. Hát Quan làng trở thành sợi dây nối buộc quan hệ.
2.1.3. Hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày - lời khuyên dạy đạo
lý, bổn phận làm người, ứng xử trong quan hệ con cái - cha mẹ, trong quan hệ
vợ chồng, họ hàng và các quan hệ xã hội khác
* Hát Quan làng - lời khuyên dạy đạo lý, bổn phận làm người, lời khuyên
về cách ứng xử trong quan hệ con cái - cha mẹ
Gia đình người Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang thường có hai đến ba
thế hệ cùng sinh sống. Con cháu trong nhà phải có hiếu với ông bà, cha mẹ. Khi con
trai, con gái đến tuổi kết duyên, cha mẹ tổ chức đám cưới cho con, gia đình sẽ có thêm
thành viên mới.Những bài hát Quan làng không chỉ chỉ ra trách nhiệm của con đẻ đối
với bố mẹ mình, mà còn chỉ ra nghĩa vụ của con dâu với bố mẹ chồng và con rể với bố
mẹ vợ. Sự phụng dưỡng, hiếu nghĩa với bố mẹ được coi là sự trả ơn chân thành, sâu sắc
nhất. Quan làng , Pả mẻ cũng hát các bài trong đó có các câu ghi nhận công lao sinh
thành, nuôi nấng, dạy bảo của hai bên cha mẹ trong lễ dâng tấm vải ướt khô.
* Lời khuyên về cách ứng xử trong quan hệ vợ chồng
Xa xưa, người dân tộc Tày đã thực hiện chế độ một vợ, một chồng. Chỉ
17
những cặp vợ chồng không có con, hoặc không có con trai nối dõi, những
người làm quan có chức quyền, lại giàu có mới lấy thêm các vợ lẽ. Nhiều gia
đình neo người không đủ sức lao động, hoặc hám tài, hám sắc, ham danh vị
thường cưỡng ép việc hôn nhân của con cái. Các đôi vợ chồng lấy nhau tuy ít vì
tình yêu, nhưng vẫn cư xử theo đúng phận sự, trách nhiệm. Ngày nay, khi điều
kiện kinh tế, xã hội thay đổi, sinh đẻ theo kế hoạch thì việc cưới xin không còn
con người và nó góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc. Mà văn hóa là mục đích, là
động lực của sự phát triển tạo nên bản sắc văn hóa vùng miền của người dân tộc Tày nói
riêng và bản sắc văn hóa của dân tộc nói chung. Là món ăn tinh thần không thể thiếu đã
được đúc kết, kết tinh trong lịch sử và cho đến ngày nay đã được công nhận, được đầu
tư, bảo tồn và phát triển.
Hát Quan làng là một trong những hiện tượng của văn hóa dân gian nói chung và
hát đối đáp trong lễ cưới của người dân tộc Tày nói riêng ở vùng Tây Bắc bộ. Nó ra đời
được nuôi dưỡng trong môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường kinh tế - xã hội có lịch
sử nhiều thế kỷ. Môi trường sinh thái nhân văn - xã hội đã nảy sinh ra một “hạt mầm” một
điểm khởi phát tạo ra hát Quan làng .
Về giá trị di sản văn hóa dân tộc, khu vực Tây Bắc nói chung tỉnh Tuyên
Quang nói riêng có truyền thống yêu nước hàng nghìn năm và là cái nôi cách mạng
trong thời kỳ kháng chiến, hát Quan làng là một nghệ thuật hát đối đáp có từ rất lâu,
nó đóng góp một phần trong kho tàng văn hóa dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc
Tày nói riêng. Các di sản văn hóa này đều có một cơ sở chung là tính cổ sơ nguyên
thủy, tính cội nguồn và đều biểu hiện bước phát triển liên tục của văn hóa dân tộc
Tày trên vùng đất Tây Bắc. Hát Quan làng cho chúng ta biết thêm về lịch sử nghệ
thuật hát đối đáp, về những đặc điểm của ca hát đối đáp mà còn mở ra cho chúng ta
thấy nhiều vấn đề có ý nghĩa cội nguồn về ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hóa học…
mà nếu khai thác được sẽ là những giá trị bất hủ góp vào công cuộc bảo tồn, phát huy
di sản văn hóa dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Tày nói riêng.
Hát Quan làng không chỉ là hình thức hát đối đáp giữa người đại diện nhà trai
(Quan làng ) và người đại diện nhà gái (Pả mẻ) mà còn có những hình thức diễn
xướng mang yếu tố nhân văn, có cả những phong tục riêng trong lễ cưới của dân tộc
Tày, độc đáo, mặt khác ở hát Quan làng không chỉ mang nội dung tình cảm đối với
tổ tiên, ông bà cha, mẹ, tình đoàn kết, cầu chúc cho đôi bạn trẻ hạnh phúc trăm năm...
mà còn sâu đậm hơn nội dung giao duyên. Hát Quan làng mang đậm văn hóa, ngôn
ngữ riêng của dân tộc Tày. Hát Quan làng là một tổng hợp nghệ thuật hát đối đáp và
biểu diễn hát đối đáp trong từng hoàn cảnh cụ thể, một tổng hợp các bài thơ hát xã
giao, giao tiếp ứng xử trong đối đáp .
“uống nước nhớ nguồn” và tinh thần đoàn kết dân tộc thể hiện sức mạnh của một dân
tộc, một quốc gia. Đồng thời dựa vào hát Quan làng , những người làm công tác
nghiên cứu sử học có thể lấy đó làm tư liệu quan trọng để tham khảo.
Giờ đây đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới
đang được đặt ra như tất cả các di sản truyền thống khác trong nền văn hóa dân tộc.
20
Vấn đề nên phát triển hát Quan làng theo hướng nào, dưới hình thức nào? Việc bảo
tồn phát huy những giá trị nhân văn và nghệ thuật trong hát Quan làng chỉ đem lại
kết quả khi ta làm đúng quy luật khách quan, giải quyết tốt mọi mối quan hệ biện
chứng giữa cái phổ quát và cái đặc trưng, giữa truyền thống và canh tân, từ vị thế bản
địa - địa phương cố hữu vươn lên sự hòa đồng quốc gia dân tộc. Đó chính là những
vấn đề lớn đối với số phận của hát Quan làng hôm nay.
2.2.1.Giá trị trong lời hát
Hát Quan làng trong đám cưới xưa ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang là
những cuộc hội ca bất tận, lời ca được cất lên như theo gió lan tỏa khắp không
gian, hòa chung với âm hưởng của đại ngàn. Qua lời hát Quan làng , người Tày
hiểu thêm về nhau, tin tưởng và quý trọng nhau hơn. Ở đây, chúng tôi không bàn
xét các lời hát Quan làng ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang là hay hay dở, mà
qua việc đi điền dã, phỏng vấn chúng tôi muốn bước đầu tìm hiểu một số nét
khác biệt trong lời hát Quan làng sưu tầm được ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên
Quang so với lời hát Quan làng tôi và các nhà nghiên cứu khác (Ông Ma Văn
Đức nguyên giám đốc sở văn hóa thông tin tỉnh Tuyên Quang) sưu tầm được
ở những địa phương khác. Những nét khác biệt này có thể tạo nên dấu ấn đặc sắc
và giá trị của lời hát Quan làng . Thực tế trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày,
tiếng Tày ở các địa phương còn có sự khác biệt nhiều hơn nữa.
Trước hết, tôi nhận thấy tiếng Tày ở các vùng khác nhau có sự khác biệt về
phương ngữ. Có khi ở mặt từ ngữ, song chủ yếu là về mặt ngữ âm. Nếu như người
đình trước việc đưa ra thử thách, xin giúp vượt qua thử thách, mời chào, đón nhận hay
thực hành nghi lễ. Ngoài các bài hát Quan làng mang tính thủ tục bắt buộc để thực hành
nghi lễ trong ngày lễ đón dâu, đưa dâu như: hỏi - đáp danh tính, xin thắp hương kính tổ,
nộp lễ sinh thành, xin dâu, trao bằng biên (tiền lì xì trả ơn), giao tặng phẩm; các bài hát
giao tiếp thông thường: mời khách, khách nhận các lời mời, chia tay, nhắn gửi, hát chúc
mừng hạnh phúc, hát Quan làng còn có nhiều bài không mang tính bắt buộc để thử
thách, trêu ghẹo, đùa nghịch. Có diễn xướng các bài hát này trong đám cưới hay không
là do yêu cầu của nhà chủ. Nhu cầu của mỗi nhà khác nhau đem đến cho hát Quan làng
nét đặc sắc và giá trị trong từng cuộc diễn xướng và từng đám cưới.
Những giá trị trong hát Quan làng đã lý giải vì sao hát Quan làng là hình thức
sinh hoạt văn nghệ quần chúng không thể thiếu trong đám cưới truyền thống của
người Tày. Như vậy, hát Quan làng mới có điều kiện để đi vào tâm thức đồng bào dân
tộc Tày một cách nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất Hát Quan làng là một nét đẹp
trong văn hoá truyền thống, đậm bản sắc dân tộc của người tày. Hình thức này
ra đời cách thời đại của chúng ta một khoảng thời gian khá xa và tồn tại, gắn bó
với đời sống của người Tày ở huyện Yên Sơn trong suốt tiến trình lịch sử. Khoảng
22
cách thời đại đủ để lớp bụi thời gian phủ mờ những thời kì xa xưa của dân tộc.
Điều đó có nghĩa là hát Quan làng xưa cũng có nhiều điều không còn phù hợp với
cuộc sống hiện đại. Tuy không ai phủ nhận các giá trị của loại hình, nhưng đáng tiếc,
cuộc sống của đồng bào địa phương dần thay đổi và chẳng có gì là có thể tồn tại
vĩnh viễn mà vẹn nguyên trước dòng chảy của thời gian.
2.3. Một số giải pháp góp phần bảo tồn, phát huy giá trị hát Quan làng
trong lễ cưới của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Đất nước ta đang ngày một phát triển. Xu hướng toàn cầu hóa đã và đang
diễn ra. Toàn cầu hóa có thể tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và mất độc
lập, tự chủ quốc gia, nhất là hủy hoại đời sống tinh thần con người thông qua
mặt phản giá trị, phản văn hóa của nó. Toàn cầu hóa có ảnh hưởng nhất định tới
ở huyện Yên sơn tỉnh Tuyên Quang như một minh chứng cho sức sống dân tộc và
bản sắc dân tộc Tày nơi đây. Nghiên cứu hát Quan làng là việc làm có ý nghĩa như là
một thẩm định giá trị của hát Quan làng trong đời sống đương đại.
Hát Quan làng ở huyện Yên sơn tỉnh Tuyên Quang là bộ phận văn hóa rất đặc sắc.
Ở đó chứa những phong tục tập quán trong lễ cưới lâu đời của đồng bào Tày. Trong hát
Quan làng thế giới vật chất và thế giới tinh thần của dân tộc Tày được biểu hiện những
trầm tích văn hóa lâu đời được gìn giữ.
Những lời hát Quan làng là kết quả của một quá trình lâu dài được cộng đồng dày
công thiết lập. Nó thể hiện ý thức của cộng đồng trước những công việc mà người ta
không con thấy phù hợp. Gạt bỏ đi một số hạn chế tất yếu do lịch sử mang lại như tư
tưởng nho giáo thần quyền, tư tưởng duy tâm tướng số, về cơ bản các bài hát Quan làng
trong lễ cưới là tiến bộ. Nó thể hiện được ước vọng nghàn đời của nhân dân đạo lý làm
người, đó là tinh thần uống nước nhớ nguồn, nhớ tổ tiên, nhớ ông bà, người thân. Đó là sự
trân trọng con người với những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người. Tất cả những điều
ấy có ý nghĩa giáo dục và mang tính nhân văn sâu sắc, lời hát Quan làng nêu cao truyền
thống nhân văn tốt đẹp của dân tộc Tày: tình cảm, cộng đồng, làng xóm, tình yêu quê
hương đất nước và nói lên khát vọng của con người có một cuộc sống đầm ấm, hạnh
phúc, bình yên, con đàn cháu đống.
Để giữ bản sắc văn hóa dân tộc và những giá trị văn hóa là phương hướng đúng
đắn đồng thời là nhiệm vụ cấp thiết của mỗi dân tộc, đó là cuộc đấu tranh sống còn của mỗi
dân tộc của mỗi quốc gia nhằm duy trì chủ quyền độc lập. Trong đó có hát Quan làng của
dân tộc tày cần được bảo tồn và gìn giữ, nhưng phải biết gạn đục khơi trong về những giá trị
của nó cho phù hợp với thời đại của xã hội.
Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của các nhà nghiên cứu và các nghệ nhân hát Quan lang, nhưng do điều kiện và khả
năng còn hạn chế nên việc thực hiện đề tài này cũng gặp không ít khó khăn, chúng tôi
24
đã cố gắng trình bày một số kết quả đã thu nhận được trong quá trình điền dã và tìm hiểu