Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đứng trước nhiệm vụ mới của lịch sử đất nước,đảng cộng sản đã
nhất quán xác định : "phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng đảng
là nhiệm vụ then chốt". Có thể nói, đảng ta đã xác định đúng đắn nhiệm vụ
của mình khi mà công cuộc đổi mới đang diễn ra trong điều kiện vừa có thời
cơ và thuận lợi,khó khăn và thách thức đan xen. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi
sự nghiệp cách mạng ấy, đòi hỏi đảng ta phải không ngừng xây dựng và chỉnh
đốn, bảo đảm cho đảng thực sự vững mạnh ngang tầm với nhiệm vụ của mình
trong giai đoạn hiện nay.
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta đã từng nói:
Gốc có vững,cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân
Câu nói của Bác - đối với công tác xây dựng đảng, có thể hiểu rằng:
đảng muốn thắng lợi trong sự nghiệp lãnh đạo của mình thì phải biết lấy dân
làm gốc, không chỉ thế, muốn xây dựng đảng vững mạnh thì phải làm cho
đảng vững mạnh từ các tổ chức cơ sở lên tới trung ương.
Trong bộ máy tổ chức của đảng ta,chi bộ nói chung và chi bộ thôn nói
riêng là nền tảng của đảng, là hạt nhân chính trị ở địa bàn dân cư,là cầu nối
giữa đảng với nhân dân.Chi bộ thôn có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ
thống tổ chức và hoạt động của Đảng; trong quá trình thực hiện thắng lợi các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhận
thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng đó, Đảng ta đã đặc biệt quan tâm
đến việc củng cố, xây dựng và chỉnh đốn Đảng để nâng cao NLLĐ và SCĐ
của các TCCSĐ nói chung và chi bộ thôn nói riêng; nhất là từ khi thực hiện
Nghị quyết TW 3 (khóa VII ) về “Một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn
Đảng” và Nghị quyết TW 6 lần 2 ( khóa VIII) về “Một số vấn đề cơ bản và
cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”. Qua thời gian thực hiện,
chất lượng của các TCCSĐ nói chung và chi bộ thôn nói riêng đã được nâng
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây
dựng và chỉnh đốn Đảng, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết TW 3 (khóa
VII) về “ Một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng” và Nghị quyết TW 6
lần 2 ( khóa VIII) về “ Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây
dựng Đảng hiện nay”. Chính vì vậy, có rất nhiều cá nhân, tập thể và cơ quan
khoa học đã chọn đề tài nâng cao NLLĐ và SCĐ để nghiên cứu khoa học,
khai thác và sử dụng kết quả này như:
-Đề tài khoa học cấp bộ: “Thực trạng và những yêu cầu xây dựng
TCCSĐ ở nông thôn một số tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc nước ta hiện
nay”, do tác giả Nguyễn Minh Bích làm chủ nhiệm, Hà Nội, tháng 10 năm
1998. Đề tài tập trung phân tích thực trạng TCCSĐ và xây dựng một số giải
pháp để củng cố và kiện toàn các TCCSĐ ở vùng núi, cao phía Bắc tổ quốc.
- Đề tài luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Ái (2001) “Nâng cao
NLLĐ và SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng nông thôn vùng cao phía Bắc trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”. Tác giả tập trung làm những rõ cơ sở
lý luận và thực trạng NLLĐ và SCĐ, từ đó tác giả đưa ra những những giải pháp
cơ bản để nâng cao NLLĐ và SCĐ của TCCSĐ ở nông thôn vùng cao phía
Bắc…
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần làm sáng tỏ cả về lý luận và
thực tiễn về TCCSĐ. Cùng với đó là những giải pháp thiết thực để giải quyết
thực trạng của các TCCSĐ.
1. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
-Mục đích của tiểu luận là góp phần nâng cao NLLĐ và SCĐ của các chi
bộ thôn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay.
- Để đạt được mục đích đó, tiểu luận thực hiện một số nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ những vấn đề lý luận và quan điểm nâng cao NLLĐ và SCĐ
của chi bộ thôn: khái niệm, xây dựng tiêu chí đánh giá v.v…
+ Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân của những kết
LÀ CẦU NỐI GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN
1.1.1. Vị trí, vai trò, tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của chi bộ
1.1.1.1. Vị trí, vai trò
C.Mác và Ph.Ăngghen ngay từ khi xây dựng tổ chức cộng sản đầu tiên
của giai cấp công nhân đã chỉ ra vị trí, vai trò đặc biệt của chi bộ Đảng. Thật
vậy, ngay khi tham gia vào việc cải tổ “Đồng minh những người chính nghĩa”
(1836) thành “Liên đoàn những người cộng sản” (1847 – 1852) điều lệ đã
được khởi thảo. Thông qua điều lệ, những quan điểm và tư tưởng cơ bản của
C.Mác và Ph.Ăngghen về xây dựng Đảng đã được trình bày khá đầy đủ. Lần
đầu tiên luận điểm xây dựng Đảng đã xuất hiện: “về cơ cấu, liên đoàn, chi bộ,
khu bộ, tổng bộ, Ban chấp hành trung ương và Đại hội [ t37, tr .733].
Đối với tổ chức và hoạt động của Liên đoàn cũng được quy định hết sức
chặt chẽ: Để trở thành hội viên của Liên đoàn, ngoài các điều kiện cần, còn
nhất thiết phải có “được một chi bộ nhất trí kết nạp”, “việc kết nạp hội viên
mới của liên đoàn do chủ tịch chi bộ và hội viên giới thiệu của liên đoàn tiến
hành, với điều kiện là đã có sự đồng ý trước của chi bộ”[ t37, tr.732- 733].
Điều đó cho thấy, hội viên của Liên đoàn phải sinh hoạt ở một tổ chức cấp cơ
sở của Liên đoàn đó là chi bộ. Hơn nữa, điều lệ không những quy định đối với
hội viên mà còn có cả đối với tổ chức của chi bộ: “Chi bộ gồm ít nhất là 3 và
nhiều nhất là 20 hội viên của liên đoàn”, “…… sống trong cùng một địa
phương”.
Như vậy, những tư tưởng, quan điểm lãnh đạo, tổ chức và trong thực
hiện lãnh đạo của hai Ông về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của chi bộ đã
khẳng định:
“Để khỏi tụt xuống làm vai trò của kẻ vỗ tay, hoan nghênh bọn dân chủ tư
sản, công nhân và trước hết là liên đoàn phải cố gắng thành lập song song với phái
dân chủ chính thức một tổ chức Đảng riêng biệt, bí mật và công khai của công
hầm mỏ, một sở xe lửa, một chiếc tàu, một đồn điền, một đường phố….”[t 20,
tr. 22]. Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định: “Căn bản tổ chức của
Đảng là chi bộ (nhà máy, công sở, nhà buôn, trường học).. tất cả Đảng viên
làm ở trong những chỗ ấy đều phải dựa vào chi bộ” [ t9, tr. 72 ].
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập tổ chức Đảng phân tích khá sâu
sắc vị trí, vai trò của chi bộ: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì
mọi việc sẽ tốt” [ t43, tr. 210]. Người còn nhấn mạnh mối quan hệ giữa chất
lượng chi bộ với chất lượng toàn Đảng. Theo Người, để lãnh đạo cách mạng
thì Đảng phải mạnh “Đảng mạnh là do chi bộ tốt” [ t43, tr. 210], “chi bộ là
nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”, ngược lại “xây dựng chi
bộ tốt, cho vững mạnh là một việc vô cùng quan trọng” [ t43, tr. 77]. Như vậy,
chất lượng của chi bộ có quan hệ chặt chẽ và biện chứng với chất lượng của
Đảng. Đối với quần chúng, Người viết “chi bộ là gốc rễ của Đảng trong
quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt,
mọi công việc đều tiến bộ không ngừng. Trái lại, chi bộ yếu kém thì công việc
không trôi chảy” [ t42, tr. 161].
Trong quá trình xây dựng Đảng, Đảng ta luôn luôn xác định chi bộ có
một vị trí, vai trò quan trọng: là hạt nhân lãnh đạo chính trị, là cầu nối quan
trọng giữa Đảng với quần chúng, vận động quần chúng thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng. Đồng chí Lê Duẩn - cố Tổng Bí thư của Đảng đã viết:
“Nói đến xây dựng Đảng, trước hết phải nói đến xây dựng chi bộ, vì chi bộ
là tổ chức cơ sở Đảng, là nơi gắn liền Đảng với quần chúng, là nơi vận động
quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng… Chi bộ còn là nơi giáo
dục rèn luyện Đảng viên, mọi nhân tài của Đảng, trước hết nảy nở ở chi bộ và
từ đó mà đưa dần lên cấp lãnh đạo Đảng từ huyện, tỉnh cho tới Trung ương” [
t14, tr.154].
Quán triệt chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã
vận dụng thành công vào thực tiễn công tác xây dựng Đảng, nhất là tổ chức
lý và phân công công tác cho đảng viên, làm công tác vận động quần chúng và
công tác phát triển đảng viên, kiểm tra, thi hành kỷ luật Đảng viên, thu nộp
Đảng phí. Chi bộ, chi ủy họp thường lê mỗi tháng một lần” [ 17, tr. 36].
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, các Nghị
quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã quy định rất cụ thể
chức năng của các loại hình tổ chức cơ sở . Trên cơ sở quy định chức năng,
nhiệm vụ của từng tổ chức cơ sở Đảng mà lãnh đạo thực hịên nhiệm vụ cụ
thể. Điều 1 Quy định số 95-QĐ/TW ngày 03/3/2005 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng quy định về chức năng Đảng bộ, chi bộ cơ sở xã. “Đảng
bộ, chi bộ cơ sở xã là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo phát triển
kinh tế -xã hội; xây dựng hệ thống chính trị ở xã vững mạnh, nông thôn giàu
đẹp, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.”
Chức năng của tổ chức cơ sở Đảng nói chung và chức năng của chi bộ
bộ phận nói riêng là lãnh đạo thực hiện các nhịêm vụ theo đúng đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đạt hiệu quả cao,
không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, hoàn
thành nghĩa vụ với Nhà nước.
Trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay, chức năng lãnh đạo của tổ
chức cơ sở Đảng, chi bộ bộ phận còn thể hiện ở việc phải biến được các
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành
hiện thực và đi vào cuộc sống.
* Nhiệm vụ
Đảng bộ, chi bộ ở nông thôn có nhiệm vụ: quán triệt và thực hiện CNH,
HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát huy vai trò kinh tế hộ gia đình; đồng
thời từng bước xây dựng kinh tế hợp tác phát triển từ thấp đến cao, phù hợp
yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển sự nghiệp văn hóa, thông
13/2002/QĐ-BNV ngày 6/12/2002) quy định:
“Thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc…(gọi chung là thôn), tổ dân phố,
khu phố, khóm…(gọi chung là tổ dân phố) không phải là cấp hành chính mà
là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư, nơi thực hiện dân chủ một cách
trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản và tổ chức
nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của nhà nước và nhiệm vụ của cấp trên giao. Dưới xã là thôn, dưới phường,
thị trấn là tổ dân phố” [ 12].
Trước hết, khẳng định thôn không phải là một cấp hành chính trong hệ
thống hành chính ở nước ta. Bởi vì, tại điều 118 Hiến pháp 1992 (sửa đổi)
quy định hệ thống hành chính của nước ta gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành
phố), huyện (quận) và xã (phường). Về cơ cấu tổ chức, mỗi thôn có 01 trưởng
thôn và 01 phó thôn ( giúp việc cho trưởng thôn), nếu có số dân trên 1.500 thì
có thể bố trí thêm 1 phó thôn. Trưởng thôn do dân trực tiếp bầu ra, vừa là
người đại diện cho dân vừa là người đại diện cho chính quyền xã để thực hiện
một số công việc hành chính tại thôn. Thôn có một vị trí, vai trò rất quan
trọng trong phát triển kinh tế xã hội, giải quyết những vấn đề xã hội trên địa
bàn dân cư thôn, giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội, giữ vững
và phát huy truyền thống tốt đẹp. Đồng thời, thôn là nơi vận động quần chúng
nhân dân giữ gìn an toàn trật tự, phòng chống các tệ nạn trên địa bàn dân
cư… Có thể nói,thôn không phải là một cấp hành chính trong hệ thống hành
chính ở nước ta, mà là hệ thống chân rết của chính quyền xã đồng thời nó còn
là chân rết của các tổ chức đoàn thể hoạt động.
1.1.2.2.Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của các chi bộ thôn
Như trình bày ở trên, thôn không phải là cấp chính quyền trong hệ thống
hành chính ở nước ta và nó hoạt động dưới hình thức tự quản. Chính vì vậy,
chi bộ thôn có vai trò là hạt nhân chính trị ở địa bàn dân cư, là cầu nối giữa
Đảng với nhân dân. Chi bộ thôn gắn bó trực tiếp với quần chúng nhân dân,
đạo cuộc đấu tranh. 2. (Dt) cơ quan lãnh đạo, bao gồm những người có khả
năng tổ chức dẫn dắt phong trào: chờ lãnh đạo cho ý kiến [ 61, tr.1979] .
Hay theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng ( 1997)
Năng lực 1: là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực
hiện một hoạt động nào đó, 2: phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo cho con người
hoàn thành một hoạt động nào đó [ 56, tr.639].Lãnh đạo: đề ra chủ trương,
đường lối và tổ chức vận động thực hiện đường lối đó[ 56, tr.524].
Như vậy có thể hiểu, năng lực lãnh đạo là khả năng của một tập thể hay
cá nhân có khả năng đề ra mục tiêu, chủ trương đường lối và khả năng tổ
chức, dẫn dắt tập thể, thực hiện thắng lợi đường lối đó.
Đối với năng lực lãnh đạo của Đảng, theo cuốn sách Tìm hiểu một số khái
niệm trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, do PGS Vũ Hữu Ngoạn chủ biên thì
năng lực lãnh đạo của Đảng là “khả năng đề ra được mục tiêu cách mạng đúng
đắn, cơ bản, lâu dài, cũng như thời kỳ và bằng những phương thức, phương pháp
đúng đắn tổ chức nhân dân, dân tộc thực hiện có hiệu quả” [ 49, tr. 38].
Như vậy,có thể khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng là khả năng hiện
thực bao gồm nhiều nội dung: năng lực đề ra chủ trương, đường lối, năng lực xây
dựng nghị quyết, chỉ thị, năng lực tổ chức thực hiện đường lối, năng lực kiểm tra
phát hiện và xử lý.
1.2.2. Quan niệm về sức chiến đấu của chi bộ thôn
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Sức” (dt), I khả năng hoạt động của thân
thể cho sự bền bỉ của gân cốt, II: khả năng làm việc, tác động hoặc chịu tác
động đến đâu[ 62, tr.1474].
“Chiến đấu” (dtg), 1: Đánh nhau giữa các lực lượng vũ trang ở trên chiến
trường; 2: Đối chọi, chống trả quyết liệt với lực lượng gây nguy hại cho mình
[ 62, tr.357].
Như vậy, có thể hiểu sức chiến đấu của một tổ chức hay một cá nhân là
chứng với nhau, có tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau, năng lực lãnh đạo của
chi bộ thôn tốt sẽ là cơ sở cho sức chiến đấu cao, đồng thời, chi bộ thôn có
sức chiến đấu cao là điều kiện để chi bộ thôn có năng lực lãnh đạo tốt. Do đó,
sức chiến đấu cao thì năng lực lãnh đạo càng tốt và ngược lại. Thực tế cho
thấy giữa NLLĐ và SCĐ rất khó chia tách rạch ròi vấn đề nào là của NLLĐ
và vấn đề nào của SCĐ. Điển hình như: thực hiện tốt công tác vận động quần
chúng, phát huy vai trò của quần chúng trong việc thực hiện nhiệm vụ của chi
bộ thôn là vấn đề thuộc về NLLĐ, đồng thời đây cũng là những nội dung
công tác thuộc về hoạt động tăng cường sức chiến đấu, tăng cường mối quan
hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
1.4. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ YÊU CẦU NÂNG CAO
NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA CHI BỘ THÔN
1.4.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của chi bộ thôn
Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, nâng cao NLLĐ và SCĐ của chi bộ
thôn là yêu cầu thiết thực và cấp bách hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, để làm
được điều này đòi hỏi phải xem xét, phân tích, đánh giá những yếu tố khách
quan và chủ quan tác động đến NLLĐ và SCĐ của chi bộ thôn.
Những yếu tố khách quan:
Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội là yếu tố khách quan có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến NLLĐ và SCĐ của chi bộ thôn. Những thôn có điều kiện tự nhiên, địa hình,
thuận lợi và kết cấu hạ tầng tốt thì rất thuận lợi trong việc tổ chức sinh hoạt, hội
họp, việc tiếp nhận, cập nhật thông tin cho đảng viên và quần chúng nhân dân
nhanh chóng, dễ dàng. Ngược lại, đối với những thôn mà địa hình phức tạp, điều
kiện kinh tế và đời sống người dân khó khăn thì việc sinh hoạt Đảng, hội họp, tuyên
truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
khó khăn. Như vậy, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có tác động rất lớn đến NLLĐ
và SCĐ của chi bộ thôn. Do vậy, mỗi một chi bộ thôn phải đánh giá đúng thực
chất, bán mình cho “quỷ dữ”. “Tỷ lệ đảng viên thật sự thể hiện rõ vai trò tiên
phong, gương mẫu còn thấp (khoảng 30%), đội ngũ đảng viên đang đứng
trước nguy cơ tụt hậu và không đều về trình độ trí tuệ. Đáng lo ngại nhất là
tình trạng cơ hội về chính trị, thoái hóa về đạo đức và lối sống, nhất là tham
nhũng, đã trở thành một bộ phận không nhỏ ở tất cả các cấp, các lĩnh vực và
có xu hướng tăng lên”[ 55, tr. 149]. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải xây
dựng đội ngũ đảng viên nói chung và nhất là đảng viên ở cơ sở nói riêng có
năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hịên chủ trương đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với
dân, biết phát huy sức mạnh, không tham nhũng, không ức hiếp dân.
Từ những vấn đề trình bày ở trên cho thấy đội ngũ đảng viên có vị trí,
vai trò quan trọng trong NLLĐ và SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng nói chung và
chi bộ thôn nói riêng. Do vậy, phải xây dựng một đội ngũ đảng viên “vừa
hồng, vừa chuyên” là nền tảng căn bản để nâng cao NLLĐ và SCĐ của chi bộ
thôn.
1.4.2 Những yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của chi bộ thôn
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vấn đề xây dựng tổ chức hệ thống
chính trị nói chung và chi bộ thôn nói riêng là yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết.
Một là, việc nâng cao NLLĐ và SCĐ của chi bộ thôn nhằm thực hiện
tốt chức năng, nhiệm vụ của Đảng là vấn đề cơ bản và cấp bách trong công
tác xây dựng Đảng.
Hai là, từ khi thành lập cho đến nay, vai trò lãnh đạo của Đảng đã được khẳng
định qua phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Tuy nhiên,
để những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi
vào cuộc sống điều đó phụ thuộc rất lớn vào NLLĐ và SCĐ của chi bộ thôn. Hơn
nữa, chi bộ thôn còn là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn của những chủ trương và
chính sách ấy. Do vậy, mỗi chi bộ thôn phải phấn đấu nâng cao NLLĐ và SCĐ để
bộ thôn bản ở 21 đảng bộ cơ sở. Những chi bộ nhiều năm không kết nạp được
đảng viên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do thiếu nguồn và nhận
thức của một số quần chúng ưu tú về việc phấn đấu trở thành đảng viên còn
hạn chế.
The báo cáo của Đồng chí Vũ Văn Lập, Phó Bí thư Thường trực Đảng
ủy xã Hùng Lợi: “Đảng bộ xã có 22 chi bộ, trong đó có 17 chi bộ thôn bản,
192 đảng viên. Hiện nay, Đảng bộ còn 4 chi bộ có dưới 5 đảng viên là các chi
bộ thôn Nhùng, Tấu Lìn, thôn Toạt và Khuổi Ma. Trong đó, chi bộ thôn
Nhùng có 3 đảng viên, Tấu Lìn, thôn Toạt và Khuổi Ma, mỗi chi bộ có 4 đảng
viên”. Thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ xã lần thứ
XIX, nhiệm kỳ 2010 - 2015, phấn đấu mỗi năm kết nạp 12 đảng viên, Đảng
bộ xã đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh công tác
phát triển Đảng, đặc biệt đối với những chi bộ nhiều năm chưa kết nạp được
đảng viên và những chi bộ dưới 5 đảng viên. Tuy nhiên, việc kết nạp Đảng ở
những chi bộ này gặp rất nhiều khó khăn.
Nguồn lớn nhất để giới thiệu cho Đảng là đoàn viên thì hầu hết thanh
niên hoàn thành chương trình THPT đều đi làm ăn xa, một bộ phận còn lại
không muốn phấn đấu đứng trong hàng ngũ của Đảng. Có những quần chúng
ưu tú đã được cử đi học lớp tìm hiểu về Đảng, nhưng lại không theo học.
Bên cạnh những chi bộ thôn bản ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số khó khăn trong công tác phát triển Đảng vẫn còn những chi
bộ thuộc các xã vùng “sáng” cũng nhiều năm chưa kết nạp được đảng viên và
còn có chi bộ dưới 5 đảng viên như: Chi bộ Nghiêm Sơn 2, Đảng bộ xã
Hoàng Khai có 4 đảng viên; Chi bộ Hòn Vang, Đảng bộ xã Thắng Quân có 3
đảng viên. Như ở thôn Nghiêm Sơn 2, xã Hoàng Khai: “Chi bộ hiện có 4 đảng
viên, trong đó có 1 đồng chí Ủy viên BCH Đảng bộ xuống sinh hoạt tăng
cường. Đảng viên cao tuổi nhất đã 82 tuổi, đảng viên ít tuổi nhất đã 42 tuổi.
Trong nhiều năm liền, chi bộ không kết nạp được đảng viên mới vì khó khăn
hành tiết kiệm, đấu tranh chống tiêu cực cho đảng viên và quần chúng nhân
dân.
Các chi bộ phải chủ động đổi mới nội dung và phương thức công tác tư
tưởng, thường xuyên đi sâu, đi sát thực tế để nắm những tâm tư, băn khoăn và
giải quyết kịp thời những nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của quần chúng
nhân dân nhằm củng cố niềm tin của họ đối với Đảng và Nhà nước.Nhất là
những bản, thôn xa trung tâm. Hơn nữa, thông qua công tác chính trị tư tưởng
để nâng cao SCĐ của từng đảng viên góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ đất nước;
đấu tranh, phê phán, uốn nắn kịp thời những quan điểm, những nhận thức lệch
lạc. Do vậy, các chi bộ thôn ở huyện Yên Sơn phải coi công tác tư tưởng là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng.
- Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng, nhất là ở những nơi còn ít đảng
viên, những địa bàn trọng yếu, chú ý phát triển Đảng tại chỗ: những đoàn viên
ưu tú, những cá nhân có thành tích xuất sắc trong các phong trào, lực lượng
dân quân tự vệ, dân phòng v.v...
- Phải đổi mới phương thức họat động của chi ủy, xây dựng và thực hiện
tốt quy chế hoạt động. Các chi bộ ấp phải xác định đúng đắn trọng tâm nhiệm
vụ và sát hợp với tình hình thực tiễn: chuyễn dịch cơ cấu nông nghiệp, xây
dựng đời sống văn hoá mới, giữ gìn an ninh trật tự.
- Chi bộ phải duy trì thường xuyên chế độ họp, sinh họat trong chi ủy,
chi bộ để phổ biến kịp thời những chủ trương, đường lối, chính sách, pháp
luật của Nhà nước và nắm bắt thông tin, những phản ánh kịp thời, chính xác
để có những quyết sách thích hợp.
- Các chi bộ thôn cần quan tâm chăm lo, xây dựng các tổ chức quần
chúng nhằm làm cho các tổ chức này họat động có hiệu quả và là nòng cốt
trong các phong trào. Chi bộ thôn tăng cường những đảng viên có năng lực,
trình độ và phẩm chất đạo đức tốt để lãnh đạo các tổ chức này. Quan tâm giới
thiệu những cá nhân ưu tú trong các tổ chức quần chúng nhằm làm nòng cốt,