Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan nội dung chuyên đề đã viết là do bản than thực hiện, không
sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác. Nếu sai phạm, em xin
chịu kỷ luật với Nhà trường.
Hà Nội, ngày 18 tháng 5, năm 2013
Ký tên
SV: Nguyễn Hồng Quang
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT: Bảo vệ môi trường
ÔNMT: Ô nhiễm môi trường
VSMT: Vệ sinh môi trường
CTR: Chất thải rắn
CTRSH: Chất thải rắn sinh hoạt
CTRSHĐT: Chất thải rắn sinh hoạt đô thị
CTRSHNT: Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
UBND: Ủy ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
LHPN: Liên hiệp phụ nữ
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TN&MT: Tài nguyên và môt trường
TNTN: Tài nguyên thiên nhiên
KTXH: Kinh tế Xã hội
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
Hình 2.6: Sơ đồ hệ thống quản lý CTR của huyện Yên Thành Error: Reference
source not found
Hình 3.1: Sơ đồ Phương thức thu gom, vận chuyển rác Error: Reference source not
found
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ liên tục phát triển với tốc độ khá và toàn diện. Trong nông nghiệp đẩy mạnh áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để không ngừng tăng năng suất cây trồng; phát
triển chăn nuôi theo hướng tập trung với việc hình thành các trang trại, gia trại. Tốc
độ đô thị hóa nông thôn ngày càng cao ở tại thị trấn, các thị tứ, trung tâm xã, các
tuyến giao thông chính. Hình thành và phát triển nhiều ngành nghề mới, thu hút
được lao động; bộ mặt nông thôn và đô thị từng bước thay đổi, đời sống của nhân
dân càng ngày được nâng cao.
Tuy nhiên, cùng với việc tăng trưởng kinh tế - xã hội và tăng dân số là sự gia
tăng mức độ ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Đó là chất thải rắn nông thôn tăng
một cách nhanh chóng, đa dạng về chủng loại, tạo sức ép lớn lên công tác thu gom
và xử lý. Ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường còn hạn chế, còn phổ
biến tình trạng vứt rác, xả rác bừa bãi trong tất cả các hoạt động sinh hoạt và lao
động sản xuất của đời sống; bên cạnh đó công tác quản lý Chất thải rắn còn gặp
nhiều khó khăn và chưa được chú trọng, hiệu suất thu gom và xử lý rác thải còn
chưa cao… Những điều này khiến cho môi trường nông thôn của huyện Yên Thành
bị đe dọa và tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn như: lan truyền dịch bệnh, suy thoái môi
trường đất, nước, không khí. Có thể nói việc quản lý Chất thải rắn nông thôn ở một
huyện nông nghiệp như huyện Yên Thành đã, đang và sẽ là một vấn đề đáng chú ý
của người dân cũng như UBND huyện Yên Thành. Vì vậy, tôi, vốn là một người
con của đất Yên Thành, đề xuất được triển khai, nghiên cứu đề tài “Thực trạng và
thách thức.
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT THẢI RẮN NÔNG THÔN
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm chất thải rắn nông thôn
Khi nói đến rác, nhiều người thường nghĩ đó là vấn đề cấp bách của các đô thị
hay các thành phố lớn. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Bởi ở Việt Nam, một đất nước
nông nghiệp, vấn đề rác thải nông thôn cũng đang là một vấn đề đang được quan
tâm không kém. Trong những năm qua, khu vực nông thôn Việt Nam đã có nhiều
sự chuyển biến tích cực, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã có sự thay đổi đáng kê, đời
sống của người nông dân được nâng lên một mức mới, sản xuất tiểu thủ công
nghiệp, các làng nghề cũng ngày càng phát triển… song đi liền với đó là sự phát
triển tự phát thiếu quy hoạch cụ thể, để lại nhiều vấn đề môi trường bức xúc trong
khu vực nông thôn mà đặc biệt là vấn đề chất thải rắn nông thôn.
Chất thải rắn nông thôn là những vật chất mà được tạo ra trong các hoạt động
sinh hoạt, lao động và sản xuất của con người ở khu vực nông thôn, chúng bị vứt bỏ
đi trong chính khu vực nông thôn đó và không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt
bỏ này đồng thời chúng được xã hội nhìn nhận như là một thứ mà cả khu vực nông
thôn phải có trách nhiệm thu dọn.
Thực tế ở nông thôn Việt Nam trước kia, việc phân loại rác vốn được thực
hiện rất tốt. Lượng rác thải ở nông thôn vốn nhỏ, chủ yếu là rác thải hữu cơ. Lượng
rác thải hữu cơ này nguồn gốc chủ yếu từ thức ăn thừa, được tận dụng làm thức ăn
cho gia súc. Một lượng chất thải rắn khác là phân người và gia súc được tận dụng
làm phân bón ruộng. Các phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ, được dung làm đun
nấu và thức ăn gia súc. Ý thức người dân về sử dụng và phân loại rác rất tốt, và hầu
như không có rác thải đổ ra môi trường.
Trong mô hình canh tác kiểu truyền thống cộng với điều kiện kinh tế xã hội
- Chất thải rắn làng
nghề
1.1.2. Chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn
Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn là loại chất thải phát sinh trong hoạt động
sinh hoạt thường ngày của người dân ở nông thôn tại từng cá nhân, hộ gia đình……
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải rắn liên quan đến các hoạt động sinh
hoạt của con người, nguồn gốc tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,
trường học, bệnh viện Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm thực phẩm
dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, vỏ, rau quả, kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói
vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, xương động vật, lông gà,
Hình 1.1: Sơ đồ Các nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển,
nhu
cầu tiêu dùng của người dân ở các vùng nông thôn nói chung và khu dân cư
nói
riêng
ngày càng phong phú và đa dạng. Đây cũng là nguyên nhân chính
làm
gia
tăng thành phần và tải lượng rác thải sinh hoạt nông
thôn.
Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh từ các nguồn: các hộ gia đình,
chợ,
1.1.3. Chất thải rắn nông nghiệp
Chất thải rắn nông nghiệp thông thường là chất thải rắnphát sinh từ các hoạt
động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ, ), thu
hoạch nông sản (rơm, rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô…), bao bì đựng phân bón,
thuốc BVTV, các chất thải ra từ chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến
thuỷ sản,
Chất thải rắn nông nghiệp gồm nhiều chủng loại khác nhau, phần lớn là các
thành phần có thể phân hủy sinh học như phân gia súc, rơm rạ, trấu, chất thải từ
chăn nuôi, một phần là các chất thải khó phân hủy và độc hại như bao bì chất bảo vệ
thực vật. Chất thải rắn nông nghiệp nguy hại chủ yếu phát sinh từ các hoạt động
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
nông nghiệp (chai lọ đựng hoá chất BVTV và thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng),
hoạt động chăm sóc thú y (chai lọ đựng thuốc thú y, dụng cụ tiêm, mổ).
Bao bì hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón
Trong hoạt động trồng trọt, tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như
phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tràn lan, thiếu kiểm soát. Do
đó, các chất thải rắn như chai lọ, bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật, vỏ bình phun
hóa chất: thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc trừ chuột; thuốc trừ bệnh; thuốc trừ cỏ
tăng lên đáng kể và không thể kiểm soát.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường, Tổng cục Thống kê, Tổng
cục Hải quan từ năm 2000 đến năm 2005, mỗi năm Việt Nam sử dụng
khoảng35.000 đến 37.000 tấn hoá chất bảo vệ thực vật, đến năm 2006, tăng đột biến
lên tới 71.345 tấn và đến năm 2008 đã tăng lên xấp xỉ 110.000 tấn. Thông thường,
lượng bao bì chiếm khoảng 10% so với lượng thuốc tiêu thụ, như vậy năm 2008 đã
thải ra môi trường 11.000 tấn bao bì các loại. Lượng phân bón hoá học sử dụng ở
nước ta, bình quân 80 - 90 kg/ha (cho lúa là 150 - 180kg/ha). Việc sử dụng phân
bón cũng phát sinh các bao bì, túi chứa đựng. Năm 2008, tổng lượng phân bón vô
cơ các loại được sử dụng 2,4 triệu tấn/năm. Như vậy mỗi năm thải ra môi trường
toán
trong thống kê lượng chất thải rắn
phát sinh của các
địa
phương cũng như toàn quốc. Ngoài ra, lượng các phụ phẩm
khác như bã mía, cây ngô… cũng là một lượng chất thải rắn không nhỏ. Tại các
vùng
nông
thôn trồng điều, cà phê như Tây Nguyên, lượng chất thải rắn từ nguồn
này là khá
lớn.
Chất thải rắn chăn nuôi
Hiện tại, ở nông thôn Việt Nam có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi với gần
6 triệu con bò; gần 3 triệu trâu; 27 triệu con lợn; 300 triệu gia cầm. Riêng về
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
nuôi lợn, từ 1 - 5 con chiếm 50% số hộ, nuôi 6 - 10 con chiếm 20%, từ 11 con
trở lên chiếm 30%. (Cục Chăn nuôi, TCTK, 2011).
Mặc dù chăn nuôi phát triển, song phương thức chăn nuôi còn lạc hậu,
quy mô nhỏ. Do đó, chưa quan tâm đến xử lý chất thải đã làm cho môi trường
nông thôn vốn đã ô nhiễm càng ô nhiễm hơn. Chất thải rắn chăn nuôi đang là
một trong những nguồn thải lớn ở nông thôn, bao gồm phân và các chất độn
chuồng, thức ăn thừa, xác gia súc, gia cầm chết, chất thải lò mổ
So sánh khối lượng chất thải rắn chăn nuôi của Việt Nam trong 4 năm
vừa qua cho thấy tổng khối lượng chất thải chăn nuôi tương đối ổn định, do
tổng số các loài vật nuôi ít biến động. Theo ước tính, có khoảng 40 - 70% (tuỳ
theo từng vùng) chất thải rắn chăn nuôi được xử lý, số còn lại thải trực tiếp ra
ao, hồ, kênh, mương
Chất thải rắn thuỷ sản
Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm
Các loại chất thải rắn chủ yếu của nông sản sau khi thu hoạch bị loại bỏ
trong quá trình chế biến. Một số loại như các loại đầu mẩu thừa, phế phụ phẩm
ôi thiu, vỏ sắn, xơ sắn, bã dong, đao, bã đậu.
Nhóm làng nghề tái chế phế liệu
Chất thải rắn phát sinh từ các làng nghề tái chế bao gồm 2 loại chính: các
phế liệu không thể tái chế được lẫn trong nguyên liệu được thu mua và các
chất thải phát sinh trong quá trình tái chế các vật liệu. Chất thải rắn phát sinh
từ các làng nghề tái chế nhựa: nhựa phế liệu không đủ tiêu chuẩn tái chế, các
tạp chất khác lẫn trong nhựa phế liệu (nhãn mác, nilon, bùn cặn), tro xỉ than.
Chất thải rắn phát sinh từ ngành tái chế giấy: tro xỉ, bột giấy, giấy vụn, đinh
ghim, nilon, giấy phế liệu. Chất thải rắn phát sinh trong các làng nghề sản xuất
và tái chế kim loại như: các tạp chất phi kim loại (nilon, nhựa, cao su ) bị loại
bỏ, kim loại không đủ tiêu chuẩn tái chế, tro xỉ từ quá trình nấu kim loại, xỉ
than từ lò nấu.
Nhóm
làng nghề thủ công mỹ
nghệ
Nhóm làng nghề thủ công mỹ nghệ bao gồm các ngành: làng nghề sản xuất gỗ
mỹ nghệ, sơn mài, điêu khắc, sản xuất đồ nội thất, mây tre đan, làm nón. Chất thải
rắn của nhóm này: gỗ vụn, gỗ mảnh, mùn cưa, dăm bào, vỏ trai, giấy giáp thải, hộp
đựng các dung môi (hộp đựng sơn, hộp đựng vecni). Tuy nhiên, lượng thải không
lớn, khoảng 20-30 kg/cơ sở/tháng.
Nhóm
làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ
và
thuộc
da
Vấn đề môi trường nổi cộm của các làng nghề ươm tơ, dệt nhuộm là vấn đề
nước thải, còn vấn đề chất thải rắn chưa trở nên bức xúc. Chất thải rắn của các làng
xây dựng kế hoạch và nguồn lực nhằm xử lý triệt để chất thải rắn.
+ Phân loại rác thải: Nhằm tách lọc những thành phần khác nhau phục vụ cho
công tác tái sinh, tái chế. Phân loại rác quyết định chất lượng các sản phẩm chế tạo
từ vật liệu tái sinh. Nếu phân loại rác không tốt, phân bón hữu cơ chế tạo từ rác sẽ
có chứa những chất vô cơ, nhựa,… Làm ảnh hưởng đến độ màu, chất lượng phân
bón dẫn đến làm giảm năng suất, hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp. Phân loại các
rác ngay tại nguồn tái sinh là một giải pháp hữu hiệu làm tăng hiệu quả kinh tế của
phân loại rác.
Theo trung tâm sức khỏe phụ nữ và gia đình (RaFH), RTSH có thể phân thành
hai loại:
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
- Rác hữu cơ dễ phân hủy: Bao gồm rau củ, quả, thịt, cỏ và phần thừa trong
chế biến thức ăn; thức ăn thừa; phân, xá động vật, hoa lá cành; xương các loại gia
súc, gia cầm, thủy hải sản,…
- Rác phế liệu: Bao gồm túi nilon, các loại vỏ đồ hộp bằng nhựa, kim loại,
thủy tinh, sành sứ, quần áo bỏ đi, giày dép, các dụng cụ thiết bị gia đình, đồ chơi trẻ
em, nến, các loại pin, ắc quy, thuốc quá hạn sử dụng, …
+ Lưu giữ, thu gom rác thải: Lưu giữ rác thải tại nguồn trước khi rác được thu
gom là khâu quan trọng trong Quản lý Chất thải rắn. Việc quản lý rác thải bắt đầu từ
việc lưu giữ tại nguồn, yếu tố chủ yếu trong việc phân loại các thiết bị lưu giữ là
tính tương thích của các thiết bị với nguồn phát sinh, tính nguy hại tối thiểu đối với
sức khỏe, tính sửa đổi với thu gom hiệu quả và chi phí. Khối lượng lưu giữ chất thải
dựa vào dung lượng và tần suất thu gom rác. Ở các nước phát triển, người ta thường
áp dụng một trong hai phương án hoặc lưu giữ Chất thải rắn đó được phân loại tại
nhà rồi định kỳ chuyển đến các thùng rác lớn của thành phố, hoặc phân loại trước
khi đổ vào các thùng rác dành riêng cho từng loại. Ở các nước đang phát triển
thường tận dụng các dụng cụ chứa rác phù hợp như: Túi nilon, bao nhựa, thùng sắt,
… kích cỡ và đặc điểm dụng cụ phụ thuộc vào từng mức độ phát sinh và tần suất
Trạm trung chuyển thường được đặt gần các khu vực thu gom để giảm thời gian vận
chuyển của các xe thu gom Chất thải rắn.
+ Xử lý Chất thải rắn: Tùy vào từng đối tượng, thành phần rác ở từng quốc
gia, từng khu vực, từng vùng cụ thể mà có cách tiếp cận xử lý rác thải khác nhau.
Hiện nay có khá nhiều phương pháp xử lý và phổ biến là các phương pháp như:
Chôn lấp (bao gồm chôn lấp hợp vệ sinh, ủ thành phân hữu cơ, tạo khí gas), thiêu
đốt, thu hồi tài nguyên. Xử lý rác thải là một vấn đề tổng hợp liên đến các vấn đề về
kỹ thuật lẫn KT - XH. Vì vậy, tùy thuộc vào điều kiện và đặc tính của rác thải mà
có sự lựa chọn, kết hợp các phương pháp xử lý phù hợp nhất.
Tái chế, tái sử dụng RTSH: Là hoạt động nhằm làm giảm thiểu lượng chất thải
phát sinh, giảm chi phí đồ thải, tiết kiệm TNTN và một lợi ích quan trọng là có thể
thu lợi nhuận từ các hoạt động này.
Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để
chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản
xuất. Hoạt động tái chế và thu hồi chất thải được thực hiện thông qua hệ thống thu
gom Chất thải rắn theo mạng lưới 3 cấp gồm: Người thu gom, đồng nát và buôn bán
phế liệu. Sự giảm thiểu chất thải có thể thực hiện được thông qua thiết kế, chế tạo
sản phẩm với thể tích bé nhất và tuổi thọ lớn nhất. Sự giảm thiểu chất thải cũng có
thể thực hiện tại nơi tiêu thụ, thương mại hay công nghiệp thong qua việc tái sử
dụng sản phẩm.
1.2. Cơ sở pháp lý và chính sách quản lý Chất thải rắn, Chất thải rắn
nông thôn của nước ta
Theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, chất thải được hiểu là vật chất ở thể
rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
động khác. Đó như là một loại vật chất mà người ta thải đi như một thứ vô giá trị.
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 29/4/2007của Chính phủ về quản lý Chất thải
rắn, định nghĩa như sau: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
+ Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
+ Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 29/4/2007của Chính phủ về quản lý
Chất thải rắn;
+ Quyết định số 2149/2009/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp Chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến
năm 2050, và phụ lục ban kèm;
+ Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo
vệ môi trường đối với Chất thải rắn;
+ Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 07/8/2002 của Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trường về việc ban hành hướng dẫn kĩ thuật chôn lấp chất thải
nguy hại;
+Luật Hoá chất ngày 21/11/2007;
+ Chỉ thị số 24/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về
đẩy mạnh công tác quản lý Chất thải rắn tại nông thôn;
+ Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 của Bộ Tài chính hướng
dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư quản lý Chất thải rắn.
Các văn bản Pháp luật trên thì Nghị định số 59/2007/NĐ-CP 2007của
Chính phủ về quản lý Chất thải rắn là Nghị định quy định các hoạt động quản lý
chất thải rắn, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến Chất thải rắn. Còn
Chỉ thị số 24/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về đẩy mạnh công tác quản
lý Chất thải rắn tại nông thôn là chỉ thị có ý nghĩa trực tiếp đối với việc tăng cường
công tác quản lý Chất thải rắn ở Khu vực nông thôn.
1.3. Về quản lý Chất thải rắn nông thôn hiện nay
1.3.1. Hiện trạng quản lý Chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay
Việt nam tiếp cận chậm đối với vấn đề xử lý ÔNMT nói chung và xử lý rác
thải, Chất thải rắn nói riêng. Tuy chính phủ và các bộ, nghành ngày càng quan tâm
- Tp. Hồ Chí Minh 1,3 9
- Hà Nội 1,0 6
- Đà Nẵng 0,9 2
Nông thôn ( toàn quốc ) 0,3 50 60 - 65
Nguồn : Tổng cục BVMT,2009
Tuy cả nước chỉ có 2 đô thị đặc biệt nhưng tổng lượng Chất thải rắn sinh hoạt
phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng Chất
thải rắn sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị ( hình 1.1).
Hình 1.2: Số lượng CTRSH phát sinh ở các loại đô thị khác nhau
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng
ĐNB có lượng Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất tới 6.713 tấn/ngày hay
2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSHĐT loại III trở lên
của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh
CTRSHĐT tấn/ngày hay 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực
miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh CTRSHĐT thấp nhất chỉ có 69.350
tấn/năm (chiếm 1,07%), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên,
tổng lượng phát sinh CTRSHĐT là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%).
Bảng 1.2: Lượng CTRSHĐT theo vùng địa lý ở VN đầu năm 2009
STT Đơn vị hành chính
Lượng CTRSH
bình quân đầu
người
Tổng lượng CTRSHĐT
phát sinh (tấn/ngày)
Tấn/ngày Tấn/năm
1 ĐB sông Hồng 0,81 4.441 1.622.060
2 Đông Bắc 0,76 1.164 424.860
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
Các loại Chất thải rắn Toàn quốc Đô thị Nông thôn
Tổng lượng phát sinh chất
thải sinh hoạt (tấn/năm)
12.800.000 6.400.000 6.400.000
Chất thải nguy hại từ công
nghiệp (tấn/năm)
128.400 125.000 2.400
Chất thải không nguy hại từ
công nghiệp (tấn/năm)
2.510.000 1.740.000 770.000
Chất thải Y tế lây nhiễm
(tấn/năm)
21.000 - -
Tỷ lệ thu gom trung bình (%) - 71 20
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô
thị trung bình theo đầu người
( kg/người/ngày)
- 0,8 0,3
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
1.3.2. Các vấn đề về quản lý chất thải rắn nông thôn và một số mô hình
quản lý chất thải nông thôn ở Việt Nam hiện nay
1.3.2.1. Về quản lý chất thải nông thôn
Hiện nay, Chất thải rắn nông thôn đã và đang trở thành vấn đề nổi cộm. Lượng
Chất thải rắn nông thôn phát sinh ngày càng nhiều, đa dạng về thành phần và tính
chất độc hại. Thực tế cho thấy, công tác thu gom và xử lý còn manh mún, lạc hậu,
thô sơ, không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vệ sinh an toàn môi trường. Công tác
quản lý còn nhiều bất cập thể hiện rõ nét qua sự chồng chéo trong việc phân công
nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý.
đất, nước, tác động xấu đến cảnh quan.
•"Yếu kém" trong xử lý
Thực tế hiện nay, Chất thải rắn nông thôn hầu như chưa được quan tâm xử lý,
nếu có xử lý thì chỉ bằng những công nghệ hết sức thô sơ, lạc hậu. Ước tính hiện
nay, chỉ có khoảng 40-70% Chất thải rắn nông nghiệp, nông thôn được xử lý.
Đối với Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn, người dân xử lý chủ yếu bằng
phương pháp chôn lấp, không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vệ sinh môi trường.
Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như phương pháp ủ phân compost, đốt chất
thải thu năng lượng. Tuy nhiên, hai phương pháp này chưa thể áp dụng rộng rãi tại
khu vực nông thôn Việt Nam.
Đối với các loại Chất thải rắn như bao bì, chai lọ thuốc BVTV hiện nay hầu
như chưa được xử lý an toàn, hợp vệ sinh. Bao bì thuốc BVTV sau khi thu gom
cùng với bao bì phân bón hóa học thường được đem đốt hoặc chôn lấp ở xa khu dân
cư. Nhiều địa phương, nông dân còn thu chung với rác thải sinh hoạt. Phương pháp
đốt ở các lò tiêu chuẩn có khả năng xử lý triệt để ô nhiễm nhưng chi phí xây dựng
và vận hành cao, xa các cụm dân cư Nếu địa phương có thu gom tập trung thì
cũng phải thu gom một lượng đủ lớn mới có thể tổ chức đem tiêu hủy, trong khi đó
số lò đủ tiêu chuẩn của Việt Nam còn quá ít, chi phí vận chuyển tới nơi tiêu hủy khá
cao. Như vậy, việc xử lý tại chỗ để làm sạch bao bì phục vụ cho tái sử dụng hoặc
lưu giữ trước khi đem tái chế hoặc tiêu hủy là cần thiết và phù hợp nhất đối với đặc
thù của nền sản xuất nhỏ như nước ta.
Việc xử lý các phụ phẩm nông nghiệp hầu như chưa có hướng xử lý thích hợp.
Hiện nay, các phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu chủ yếu được xử lý bằng
cách đốt rồi dùng tro bón ruộng. Tuy nhiên, cách làm này vừa gây lãng phí, vừa gây
ô nhiễm môi trường do khói bụi và các nguy cơ cháy nổ.
Phương pháp xử lý Chất thải rắn trong chăn nuôi còn đơn giản. Chủ yếu được
xử lý bằng ủ nóng và hầm biogas. Sau khi xử lý, phân được sử dụng bón cho cây
trồng, dùng làm thức ăn cho cá hoặc để nuôi giun
•Các vấn đề trong công tác quản lý Nhà nước về Chất thải rắn nông thôn
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế đất nước, kinh tế nông
Thương. Hiện tượng chồng chéo trong quản lý giữa các cơ quan có trách nhiệm
khiến công tác này bị bỏ ngỏ. Chính vì, sự phân công, phân nhiệm của các
Bộ/ngành trong quản lý Chất thải rắnnông thôn còn chưa được rõ ràng nên chưa
thấy được vai trò của các cấp trong hệ thống quản lý và chồng chéo khi triển khai
thực hiện.
Sự tham gia của cộng đồng đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên, công tác xã
hội hóa quản lý Chất thải rắn còn yếu. Bên cạnh các công ty xử lý rác thải ở đô thị,
ở khu vục nông thôn đã hình thành các tổ đội, hợp tác xã thu gom, vận chuyển Chất
thải rắn sinh hoạt nông thôn. Trong những năm gần đây phương thức quản lý Chất
thải rắn ở nông thôn với cách tiếp cận dựa vào cộng đồng cũng đã được nhiều dự án
SV: Nguyễn Hồng Quang Lớp: KT&QL Môi trường K51
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
quan tâm thực hiện và thu được kết quả tốt. Điển hình như mô hình thí điểm thu
gom, xử lý rác thải chế biến phân bón hữu cơ của thôn Tảo Phú (Tam Hồng, Vĩnh
Phúc), dự án cải thiện môi trường kênh Chín Tế, chợ Bà Rén (Bến Tre) Tuy nhiên,
một thách thức không thể phủ nhận còn tồn tại đối với việc huy động sự tham gia
của cộng đồng đó là, công tác xã hội hóa còn yếu. Vấn đề nảy sinh cả từ phía cộng
đồng và chính quyền. Nhận thức và năng lực của cộng đồng chưa đảm bảo để thực
hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong công tác quản lý Chất thải rắn nông thôn,
đặc biệt là ở khu vực tập trung đông dân nghèo. Ý thức của người dân đối với việc
giữ gìn vệ sinh công cộng còn rất thấp, họ thường xả rác ra đường, cống rãnh hoặc
đổ trộm Chất thải rắn xây dựng ra bờ sông, các khu vực công cộng gây tác động
tiêu cực đến vệ sinh môi trường và cảnh quan thiên nhiên. Ngược lại, về phía các
nhà quản lý, vẫn còn thiếu các văn bản quy định phù hợp nhằm thu hút sự tham gia
của các đoàn thể, quần chúng và toàn xã hội, còn thiếu nhiều chương trình huy động
cộng đồng trong quản lý Chất thải rắn.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đã trở thành một công cụ hữu ích.
Trong những năm qua, công tác thanh tra, giám sát từ Trung ương đến địa phương
vẫn là nhiệm vụ thường xuyên, được tổ chức hàng năm, chủ yếu tập trung vào việc