MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1
TỔNG QUAN 4
1.1.
Tổng quan về quản lý chất thải rắn nguy hại 4
1.1.1.
Các khái niệm về chất thải 4
1.1.2.
Khái niệm quản lý CTNH 5
1.1.3.
Cơ sở pháp lý cho việc quản lý CTRNH 9
Đối tượng nghiên cứu 27
2.3.
Nội dung nghiên cứu 27
2.4.
Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu 27
2.4.2.
Phương pháp điều tra và khảo sát thực tế 28
2.4.3.
Phương pháp phân tích định tính 29
2.4.4.
Phương pháp lấy mẫu và phân tích định lượng 29
Chương 3
Mô hình quản lý 44
3.2.2.
Nguồn nhân lực 45
3.2.3.
Hệ thống văn bản pháp luật 45
3.2.4.
Cơ sở hạ tầng 46
3.2.5.
Chi phí phục vụ công tác quản lý CTNH 46
3.2.6.
Hiện trạng quản lý CTNH ngành chế biến mủ cao su 47
3.3.
Đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả CTRNH ngành chế biến mủ cao
su 48
3.3.1.
TT. Thị trấn
TX. Thị xã
UBND Ủy ban nhân dân DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Các cơ sở chế biến mủ cao su trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 17
Bảng 1.2. Định mức sử dụng các loại hóa chất trong chế biến mủ cao su 24
Bảng 3.1. Khối lượng CTRNH phát sinh tại các cơ sở chế biến mủ cao su 33
Bảng 3.2. Thành phần, tính chất nước thải từ các công nghệ chế biến mủ cao su 37
Bảng 3.3. Thành phần nước thải trước và sau xử lý của nhà máy chế biến mủ Cao su
EaKhal 39
Bảng 3.4. Kết quả phân tích thành phần nguy hại của bùn thải 41
Bảng 3.5. Nhân lực quản lý CTNH trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 45
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Vị trí tỉnh Đắk lắk 11
Hình 1.2. Vị trí các cơ sở chế biến mủ cao su tại Đắk Lắk 17
phát triển chung của thế giới thì nhu cầu tiêu thụ cao su ngày càng tăng. Cao su
được sử dụng hầu hết trong những lĩnh vực từ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày đến nhu
cầu nhiên liệu công nghiệp và xuất khẩu. Ngoài tiềm năng công nghiệp, cây cao su
còn có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ tài nguyên đất tránh rửa trôi,
xói mòn, tạo môi trường không khí trong lành…
Theo thống kê của Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam, đến hết năm
2011, diện tích cao su của Việt Nam đạt xấp xỉ 850.000 ha, gồm cao su quốc doanh,
cao su tiểu điền và các thành phần kinh tế khác. Sản lượng cao su của nước ta năm
2011 đạt 811.600 tấn. Năng suất cao su của Việt Nam hiện xếp thứ 2 thế giới, thứ 5
về sản lượng và thứ 4 về lượng cao su xuất khẩu. [5]
Một trong những vùng có thế mạnh phát triển ngành công nghiệp cao su là
khu vực Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Đắk Lắk. Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung
tâm cao nguyên Nam Trung bộ, có vị trí chiến lược quan trọng về Kinh tế - Xã hội
và An ninh - Quốc phòng không chỉ với Tây Nguyên mà còn với cả nước. Với đặc
điểm là một tỉnh có diện tích đất đỏ bazan lớn và ở độ cao trung bình khoảng 500m
đến 800m so với mực nước biển, Đắk Lắk rất thích hợp để trồng và phát triển các
loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu và một số
giống cây ngắn ngày khác.
Cây cao su được trồng ở Đắk Lắk từ những năm 1920, hiện vẫn đang là loại
cây có thế mạnh để phát triển kinh tế ở khu vực này chỉ sau cây cà phê. Theo báo
cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh, diện tích cao su ở Đắk Lắk
đã ổn định trong khoảng 24.000 ha, chủ yếu do 3 công ty nhà nước quản lý, bao
gồm: Công ty TNHHMTV Cao su Đắk Lắk; Công ty TNHHMTV Cao su Ea
H’Leo; Công ty TNHHMTV Cao su Krông Buk.
2
Sản lượng cao su hàng năm của Đắk Lắk góp phần không nhỏ vào việc đưa
Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cao su lớn trên thế giới. Tuy nhiên, ngành công
nghiệp chế biến cao su của Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng vẫn chưa phát
chương trình “Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây
Nguyên” (chương trình Tây Nguyên 3) do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam chủ trì, thực hiện đề tài “Điều tra, đánh giá hiện trạng thu gom, vận
chuyển và xử lý chất thải rắn các tỉnh Tây Nguyên và đề xuất phương án quy hoạch,
xử lý và quản lý chất thải rắn phù hợp đến năm 2020”, học viên đã lựa chọn đề tài
“Hiện trạng và giải pháp quản lý chất thải rắn nguy hại ngành chế biến mủ cao su
tỉnh Đắk Lắk” để thực hiện luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành khoa học môi
trường. Nghiên cứu này nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Đánh giá được hiện trạng phát sinh chất thải rắn nguy hại của ngành chế
biến mủ cao su trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
- Đánh giá được hiện trạng quản lý chất thải rắn nguy hại của tỉnh Đắk Lắk.
- Xây dựng các giải pháp quản lý chất thải rắn nguy hại ngành chế biến mủ
cao su phù hợp với hiện trạng cơ sở vật chất và năng lực quản lý của tỉnh Đắk Lắk.
Tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ đóng góp một
phần nhỏ bé vào việc quản lý chất thải rắn nguy hại của ngành chế biến mủ cao su
và công cuộc bảo vệ môi trường của tỉnh Đắk Lắk nói chung.
4
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về quản lý chất thải rắn nguy hại
1.1.1.
Các khái niệm về chất thải
* Chất thải:
Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 LBVMT năm 2005 thì: “Chất thải là vật
chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc hoạt động khác”.
Phụ thuộc vào các tiêu chí khác nhau, chất thải có thể được phân chia thành
các loại như sau:
- Căn cứ vào nguồn phát sinh: có thể chia thành 3 loại: chất thải sinh hoạt,
giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển
và xử lý CTNH
Tại thông tư này, Các nhà làm luật đã liệt kê hàng loạt hoạt động của việc
quản lý CTNH theo một quy trình chặt chẽ hơn, bao gồm cả những hoạt động liên
quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại CTNH. Như vậy, trách nhiệm
quản lý chất thải của cơ quan Nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến
việc quản lý CTNH không chỉ có từ khi chất thải đó phát sinh, mà các chủ thể trên
còn có trách nhiệm trong việc phòng ngừa, giảm thiểu bằng việc áp dụng mọi biện
pháp kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến… nhằm hạn chế lượng CTNH phát sinh
trên thực tế.
Theo quy định trên, quản lý CTNH có những đặc điểm sau:
(1) Trách nhiệm quản lý chất thải thuộc về cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
quản lý CTNH và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Các cơ quan Nhà nước có trách
nhiệm quản lý CTNH trong phạm vi chức năng luật định. Các tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm quản lý CTNH là những chủ thể có những hoạt động liên quan trực tiếp
đến CTNH như: chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ.
6
(2) Nội dung quản lý CTNH là các hoạt động mà các cơ quan quản lý Nhà
nước về bảo vệ môi trường và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện. Cụ
thể là: các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật về quản lý CTNH, thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời những sai
phạm… các tổ chức, cá nhân có liên quan phải tiến hành những hoạt động phân
loại, thu gom, vận chuyển, xử lý… CTNH.
Quy trình quản lý CTNH được thực hiện theo 5 giai đoạn. Đó là:
Giai đoạn 1: Quản lý nguồn phát sinh CTNH. Đây là việc tiến hành các biện
pháp để quản lý CTNH ngay tại chính nguồn phát sinh ra chất thải đó. Kiểm soát
CTNH tại nguồn là một công việc khá phức tạp. Cách thông thường nhất được
nhiều quốc gia sử dụng để giải quyết những vấn đề trên là tiến hành thủ tục đăng ký
cấp giấy phép đối với các chủ nguồn thải CTNH, đặc biệt là trong ngành công
gia trên thế giới cũng như Việt Nam đang sử dụng.
Do chất thải nguy hại thường có nguồn gốc phát sinh từ các hoạt động sản
xuất kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên pháp luật môi trường cũng quy
định trách nhiệm của nhiều cơ quan khác nhau trong việc quản lý loại chất thải này.
Cụ thể:
- Bộ tài nguyên và môi trường thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về
chất thải nguy hại trong phạm vi toàn quốc; chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các
hoạt động quản lý chất thải nguy hại. Ban hành các chỉ tiêu môi trường cho việc lựa
chọn bãi chôn lấp chất thải nguy hại các chỉ tiêu kỹ thuật cho việc thiết kế, xây
dựng và vận hành các khu lưu giữ, các bãi chôn lấp chất thải nguy hại bảo đảm vệ
sinh môi trường; lựa chọn và tư vấn các công nghệ xử lý chất thải nguy hại; phối
hợp với Bộ Tài chính ban hành mức thu phí, lệ phí quản lý chất thải nguy hại.
Hướng dẫn nội dung và thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của cơ
8
sở thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy và các bãi chôn lấp chất thải nguy
hại. (Điều 21 Quy chế quản lý CTNH)
- Bộ xây dựng có trách nhiệm Hướng dẫn các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương trong việc quy hoạch xây dựng các khu xử lý chất thải nguy hại hợp vệ
sinh, các bãi chôn lấp chất thải nguy hại phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương. Phối hợp với ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương trong việc chỉ đạo các Sở Giao thông Công chính trong việc lập quy
hoạch và kế hoạch xây dựng các khu lưu giữ, các cơ sở xử lý, tiêu hủy, các bãi chôn
lấp chất thải nguy hại hợp vệ sinh, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch quản
lý chất thải (bao gồm cả chất thải nguy hại) của địa phương (Điều 22 Quy chế
quản lý CTNH)
- Bộ Công thương có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và triển khai các biện
pháp hữu hiệu buộc các chủ nguồn thải phải tuân thủ các quy định của Quy chế.
Trường hợp các chủ nguồn thải không có khả năng tự thực hiện được việc thu gom,
xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại, thì yêu cầu các chủ nguồn thải phải ký hợp đồng
Cơ sở pháp lý của công tác quản lý CTNH là luật và các văn bản Luật, các
Quyết định, Thông tư, Nghị định, Quy định của Quốc gia, tỉnh thành. Các văn bản
pháp lý rõ ràng sẽ giúp cho các nhà quản lý và các doanh nghiệp thực hiện dễ dàng.
Các văn bản này không những bắt buộc các doanh nghiệp, các cơ quan, cá nhân
tuân thủ chấp hành mà còn khuyến khích ý thức BVMT, góp phần quản lý CTNH
một cách có hiệu quả nhất.
Các văn bản pháp lý về quản lý CTNH bao gồm:
1.1.3.1. Các văn bản của Quốc Hội, Chính phủ
Luật bảo vệ môi trường được Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua
ngày 29 tháng 11 năm 2005.
Nghị định số 50/1998/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 1998 của chính phủ quy
định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh an toàn bức xạ;
10
Chỉ thị số 199/TTg ngày 03/4/1997 của Thủ tướng Chính Phủ về những biện
pháp cấp bách trong công tác quản lý CTR ở các đô thị và các KCN;
Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 7/8/2002 của Bộ trưởng Bộ
Khoa học Công nghệ và Môi trường về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật
chôn lấp chất thải nguy hại;
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi
trường;
Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 về ban hành danh mục
CTNH;
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý CTR;
Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007của Chính phủ về phí bảo vệ
môi trường đối với chất thải rắn.
1.1.3.2. Các văn bản của Bộ và Liên Bộ
Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng hướng
dẫn một số điều của Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007của Chính phủ
9'45" - 13
0
25'06" độ vĩ Bắc. Diện tích
tự nhiên là: 13.125 km
2
[3]
Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai;
Phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng;
Phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh
Khánh Hòa;
Phía Tây giáp Vương quốc CamPuChia
và tỉnh Đăk Nông.
Độ cao trung bình của tỉnh là 500-800m
so với mực nước biển.
Hình 1.1. Vị trí tỉnh Đắk lắk
12
1.2.1.2. Địa hình
Nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình
dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các
sông chính. Địa hình có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc. [3]
1.2.1.3. Khí hậu
Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng khí hậu. Vùng phía Tây Bắc
có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; Vùng phía Đông có khí hậu mát mẻ,
ôn hòa. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24
0
C, tháng nóng nhất và lạnh nhất chênh
lệch nhau chỉ hơn 5
0
C.
định số 24/2005/QĐ – UB ngày 24/03/2005 của UBND tỉnh Đắk Lắk.
Tổng diện tích đất có rừng: 618.227,8 ha, trong đó:
- Rừng sản xuất: 246.579,2 ha;
- Rừng phòng hộ:143.437,3 ha;
- Rừng đặc dụng:228.211,3 ha.
Diện tích còn rừng tự nhiên ở Đắk Lắk phân bố ở phía Nam thuộc vùng núi
cao Chư Yang Sin (rừng thường xanh), phía Tây thuộc huyện Ea Súp giáp với
Campuchia (rừng khộp) và còn lại ở vùng núi thuộc huyện M’Đrăk, Ea Kar, Ea
H’Leo. Diện tích rừng bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng rừng, trong những
năm gần đây, mặc dù tình trạng chặt phá rừng đã hạn chế rất nhiều nhưng tình trạng
khai thác lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra. Những vùng còn rừng tự nhiên hiện nay
phần lớn nằm ở địa hình dốc, hiểm trở hoặc là các khu bảo tồn thiên nhiên, không
thích hợp cho sản xuất nông nghiệp. Độ che phủ rừng toàn tỉnh là 46%. Tổng trữ
lượng gỗ khoảng 50 triệu m
3
. Rừng Đắk Lắk nằm ở thượng lưu các sông suối lớn
14
nên đóng vai trò quan trọng về phòng hộ và bảo vệ nguồn nước không những cho
tỉnh mà còn cho cả khu vực. [3]
1.2.1.7. Tài nguyên khoáng sản
Đắk Lắk có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, nhất là khoáng sản vật liệu
xây dựng. Các khoáng sản chủ yếu là:
- Coalin được dùng trong nguyên liệu gốm sứ có trữ lượng P là 36,9 triệu
tấn, phân bố chủ yếu ở M’Đrắk, Ea Kar.
- Fenspat có 2 mỏ với tổng trữ lượng 2,74 triệu tấn. Penspat được khai thác
và cung cấp cho các cơ sở sản xuất gốm sứ.
- Đá vật liệu xây dựng cao cấp (đá ốp lát) là đá Granit ở Ea H’Leo, Krông
Bông, đá Bazan và các loại đá khác có hầu hết ở các huyện trong tỉnh đã được khai
thác để phục vụ cho xây dựng cầu đường, công trình dân dụng, công nghiệp
giường, một khu điều trị phong 30 giường cùng 7 cơ sở y tế khác (da liễu, sốt rét,
tâm thần…)
Tuyến huyện có 12 bệnh viện đa khoa, 12 đội vệ sinh phòng dịch sốt rét, 12
UBDS KHHGĐ. Các đơn vị cơ sở có 165 trạm y tế, phòng khám đa khoa trên tổng
số 165 xã, phường, thị trấn. [3]
1.2.1.9. Phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 8,05% trong đó mức tăng
trưởng công nghiệp 20,77%, nông lâm nghiệp 4,1%, dịch vụ 17,07%. đến cuối năm
2005 cơ cấu kinh tế đạt là: Nông lâm nghiệp 64.56%, công nghiệp xây dựng
12,71%, dịch vụ 22,73%. Nền kinh tế tiếp tục phát triển và chuyển dịch theo hướng
tích cực. Nông nghiệp từng bước phát triển ổn định, cơ bản đã chuyển sang nền
kinh tế sản xuất hàng hoá. Quy mô sản xuất công nghiệp từng bước được mở rộng.
Đặc biệt là cơ sở hạ tầng Kinh tế - Xã hội đã được tăng cường, đáp ứng yêu cầu cơ
bản của công cuộc phát triển.
16
Trên địa bàn tỉnh có 1 khu công nghiệp và cụm công nghiệp: Khu công
nghiệp và khu đô thị dịch vụ Hoà Phú, xã Hoà Phú, Tp Buôn Ma Thuột (227,4ha);
cụm công nghiệp Buôn Hồ, huyện Krông Buk (70ha); cụm Công nghiệp Ea Đar,
huyện Ea Kar (50ha); khu tiểu thủ công nghiệp Tp Buôn Ma Thuột (48,5ha). [3]
1.2.2.
Các cơ sở chế biến mủ cao su
Cây cao su được đưa vào trồng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk khoảng từ năm
1926 tại Mêvan (huyện Cư M’gar). Tính đến tháng 10 năm 2013, theo số liệu của
tổng cục thống kê, diện tích cao su toàn tỉnh hiện có là 23.100ha, trong đó diện tích
các đơn vị quốc doanh quản lý là 18.776ha. Với lợi thế về tài nguyên đất đai và điều
kiện khí hậu thuận lợi, cùng với sự quan tâm đầu tư của các doanh nghiệp và các hộ
dân, năng suất và sản lượng cao su đang ngày càng tăng cao. Sản lượng khai thác
tính đến tháng 10/2013 là 29.850 tấn mủ quy khô, trong đó các công ty cao su Nhà
nước ước khai thác được 24.636 tấn, các hộ cao su tiểu điền khai thác được 5.214
cốm
15.000
18
STT
Tên cơ sở Địa chỉ Sản phẩm
Công suất
(tấn/năm)
Cư M’gar
3 Công ty TNHHMTV
Cao su Krông Buk
Xã Ea Hồ - huyện
Krông Năng
Mủ cốm 6.000
Tổng 25.500
Nguồn: Điều tra thực tế
1.2.3.
Công nghệ chế biến mủ cao su
1.2.3.1. Phân loại và sơ chế mủ cao su thiên nhiên
Mủ cao su được phân loại thành mủ nước và mủ tạp… Mủ nước là mủ tốt
nhất, thu trực tiếp trên thân cây, mỗi ngày mủ nước được gom vào một giờ qui
định. Khi thu mủ từ vườn, người ta cho NH
3
vào để chống đông, tránh sự oxi hóa
làm ảnh hưởng đến chất lượng mủ nước.
Mủ tạp (mủ thứ cấp) bao gồm mủ đất, mủ chén, mủ vỏ là mủ rơi vãi
xuống đất hoặc sau khi thu mủ nước mủ vẫn còn chảy vào chén, hoặc mủ dính trên
vỏ cây. Mủ tạp nói chung rất bẩn, lẫn nhiều đất, cát, các tạp chất và đã đông lại
trước khi đưa về nhà máy. [6]
phần còn lại là các chất phi cao su. Các phương pháp đã được triển khai để cô đặc
mủ nước từ vườn cây là ly tâm, tạo kem và bốc hơi. Trong công nghệ ly tâm do sự
khác nhau về tỷ trọng giữa cao su và nước, các hạt cao su dưới dạng serum được
tách ra nhờ lực ly tâm để sản xuất ra mủ ly tâm tiêu chuẩn với 60% DRC. Mủ ly
tâm sau đó được xử lý với các chất bảo quản phù hợp và đưa vào bồn lưu trữ để ổn
định tối thiểu từ 20 đến 25 ngày trước khi xuất. [6]
Cán rửa
Cao su cô đặ
c
(latex)
Đông tụ
Mủ Skim
Máy li tâm
Mủ nước
Mủ tạp
Ngâm
Sấy
Băm, cắt
Đóng bánh
Cao su cốm
Mủ vườn cây