MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
1. Giới thiệu chung..................................................................................................1
2. Mục đích của đề tài..............................................................................................2
3. Ý nghĩa của đề tài................................................................................................2
1.1. Cơ sở khoa học..................................................................................................3
1.1.1. Tổng quan về chất thải rắn...........................................................................3
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn sinh hoạt là
chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng, vật
liệu bị loại ra trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng, được thu hồi để tái chế,
tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác [3].............3
Tái chế chất thải là người ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng
hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra sản phẩm mới..........................3
Tái sử dụng chất thải là việc sử dụng những sản phẩm hoặc nguyên liệu có
quãng đời sử dụng kéo dài có thể sử dụng được nhiều lần mà không bị thay đổi
hình dạng vật lý, tính chất hóa học........................................................................3
Chất thải là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người,
sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thương mại, sinh hoạt
gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra, còn phát
sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông, chất
thải là kim loại, hóa chất và từ các vật liệu khác [11]...........................................3
1.2.1. Trên thế giới.................................................................................................17
1.2.1.1. Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại CTR trên thế giới..............17
Bảng 1.1. Lượng CTR phát sinh tính BQ theo đầu người ở một số nước [7]....17
ii
Bảng 1.2. Tỷ lệ CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước [8]
................................................................................................................................. 19
1.2.2. Tại Việt Nam................................................................................................19
1.2.2.1. Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại rác thải ở Việt Nam...........19
Bảng 1.3. Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý Việt Nam đầu năm 2009 [17]
................................................................................................................................. 21
2.1. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................27
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu......................................................................27
2.3. Nội dung nghiên cứu.......................................................................................27
- Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý CTR sinh hoạt tại huyện
Can Lộc: về cơ chế chính sách, nguồn lực, nhận thức của người dân, sự quan
tâm của chính quyền các cấp................................................................................28
2.4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................28
Đê thực hiện được các nội dung của luận văn tôi đã sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau và được thể hiện ở hình 2.1 dưới đây:..................28
2.4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................28
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Can Lộc, với địa bàn rộng, dân cư
phân bố không đồng đều giữa các khu vực, cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông
còn nhiều hạn chế, quá trình điều tra, phỏng vấn gặp nhiều khó khăn do vậy
mức độ tin cậy của các phương pháp, số liệu thu thập được có tính tương đối
và sai số nhất định. ...............................................................................................28
2.4.1. Phương pháp phỏng vấn.............................................................................28
2.4.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn.............29
gốm, sứ, thủy tinh chiếm 7,29%; các chất khác chiếm 15,28%.........................42
Căn cứ vào kết quả trên ta thấy thành phần rác thải hữu cơ chiếm tỷ lệ cao
nhất khoảng 59,17%, các thành phần còn lại chiếm tỷ lệ như sau: cao su, nhựa,
nilon chiếm 6,63%; giấy, carton, vải sợi chiếm 7,79%; kim loại chiếm 3,84%;
gốm, sứ, thủy tinh chiếm 7,29%; các chất khác chiếm 15,28%.........................43
Trong rác thải sinh hoạt, rác thải hữu cơ chiếm tỷ lệ cao, loại rác này thường
bao gồm: cơm, canh, thức ăn thừa, thực phẩm ôi thiu; rau quả hỏng không
iv
bán hết tại chợ; cành cây, lá rụng, gây mùi hôi thối khó chịu, tiềm ẩn các mầm
bệnh gây nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, có thể tận
dụng chúng là nguồn nguyên liệu sản xuất phân vi sinh....................................43
Phế thải sắt thép cùng với các loại giấy vụn, chai lọ, bìa carton, kim loại…là
những rác thải có thể tái chế được đem lại giá trị kinh tế và lợi ích về môi
trường nếu biết cách tận dụng triệt để nguồn rác thải này................................43
3.3. Đánh giá hiện trạng công tác quản lý thu gom CTRSH trên địa bàn huyện
Can Lộc..................................................................................................................43
3.3.1. Hiện trạng tổ chức, thu gom CTRSH trên địa bàn huyện........................43
3.3.2. Công tác thu gom, vận chuyển, xử lý và phân loại, tái chế CTRSH trên
địa bàn huyện.........................................................................................................55
3.3.3. Chi phí cho các hoạt động quản lý CTRSH...............................................58
3.3.4. Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý, xử lý CTRSH
trên địa bàn huyện.................................................................................................58
3.3.5. Đánh giá lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường từ CTRSH trên địa bàn
huyện Can Lộc.......................................................................................................60
Bảng 3.12. Giá mua một số thành phần CTRSH để tái chế trên địa bàn huyện
................................................................................................................................. 60
Bảng 3.13. Ước tính giá trị kinh tế từ CTRSH....................................................60
1. Giới thiệu chung
Huyện Can Lộc nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh. Trong những năm gần
đây, do tác động của nền kinh tế thị trường và chính sách mở cửa cùng với vị trí
giao lưu kinh tế thuận tiện nên quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra
mạnh mẽ. Theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020, huyện
Can Lộc sẽ là khu vực xây dựng các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh
doanh và dịch vụ. Do vậy, trong những năm tới địa bàn huyện Can Lộc sẽ thu hút
đầu tư, phát triển kinh tế đối ngoại, văn hóa - giáo dục, nâng cao dân trí và phát
triển nguồn lực về kinh tế cũng như xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập, cơ sở hạ tầng và
kinh tế kỹ thuật còn yếu, sự phát triển không đồng đều trên địa bàn huyện, tỷ lệ gia
tăng dân số còn cao, dẫn đến phát sinh nhiều vấn đề môi trường và xã hội.
Cách quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại hầu hết các thành phố, thị xã
ở nước ta hiện nay đều chưa đáp ứng được các yêu cầu về vệ sinh và bảo vệ môi
trường (BVMT). Không có những bước đi thích hợp, những quyết sách đúng đắn và
những giải pháp đồng bộ, khoa học để quản lý chất thải rắn trong quy hoạch, xây
dựng và quản lý rác thải sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, làm suy giảm chất
lượng môi trường, kéo theo những mối nguy hại về sức khoẻ cộng đồng, hạn chế sự
phát triển của xã hội. Đối với công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại
địa bàn huyện Can Lộc, cơ chế quản lý và các chính sách hỗ trợ cho công tác quản
lý chất thải rắn sinh hoạt còn thiếu, chưa chú trọng đến các giải pháp công nghệ xử
lý chất thải sinh hoạt thu gom phù hợp với trình độ và điều kiện kinh tế của huyện,
chủ yếu mới tổ chức thu gom, vận chuyển rác thải ở các khu đông dân cư và đổ lộ
thiên. Chưa phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.
Để tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Can Lộc đồng
thời đảm bảo cho sự phát triển bền vững, một trong các nhiệm vụ trọng tâm là quản
lý hiệu quả chất thải, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn. Nhằm giúp các
1
3
rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn. Chôn
lấp chất thải rắn hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu
chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.
1.1.2. Nguồn phát sinh chất thải rắn
Các nguồn phát sinh CTRSH chủ yếu từ các hoạt động: công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ và thương mại, khu dân cư, cơ quan, trường học, bệnh viện.
Dịch vụ,
thương mại,
xe, nhà ga
Cơ quan,
trường học
Nông nghiệp,
hoạt động xử lý
rác thải
Nhà dân, khu
dân cư
Chất thải
rắn
Bệnh viện, cơ
sở y tế
Giao thông,
Từ các hoạt động xây dựng và tháo dỡ công trình xây dựng, giao thông vận
tải như: xây dựng nhà mới, sữa chữa nâng cấp mở rộng đường phố, cao ốc, san nền
xây dựng. Các loại chất thải bao gồm: gỗ, sắt thép, bê tông, gạch ngói...
Từ các hoạt động dọn rác vệ sinh đường phố, công viên, khu vui chơi giải
trí...Thành phần bao gồm: rác, cành cây cắt tỉa, giấy vụn, xác động vật chết...
Từ các hoạt động sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy sản xuất công nghiệp
(sản xuất vật liệu xây dựng, nhà máy hoá chất, nhà máy lọc dầu, nhà máy chế biến
thực phẩm...). Thành phần của chúng bao gồm: vật liệu phế thải không độc hại và
các chất thải độc hại. Phần rác thải không độc hại có thể đổ bỏ chung với rác thải hộ
dân. Đối với rác thải công nghiệp độc hại phải được quản lý và xử lý riêng.
Phát sinh từ đồng ruộng, ao vườn, chuồng trại... Các loại chất thải bao gồm
phân rác, rơm rạ, thức ăn thừa...
1.1.3. Phân loại chất thải rắn
Có nhiều cách phân loại CTR khác nhau, dựa vào tính chất, quá trình hình
thành và mức độ nguy hại, ngươi ta phân loại CTR như sau [12]:
* Theo vị trí hình thành người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà,
ngoài nhà, trên đường phố, chợ...
* Theo thành phần hoá học và vật lý người ta phân biệt theo các thành phần
hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da, giẻ vụn, cao
su, chất dẻo.
* Theo mức độ nguy hại:
5
Rác thải nguy hại bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, rác
thải sịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải phóng xạ, các rác
thải nhiễm khuẩn, lây lan… có thể gây nguy hại tới con người, động vật và gây
nguy hại tới môi trường. Nguồn phát sinh ra rác thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt
động y tế, công nghiệp và nông nghiệp.
của các lò giết mổ.
* Theo mức độ nguy hại, chất thải rắn được phân thành các loại:
Chất thải nguy hại bao gồm các loại hoá chất gây phản ứng, độc hại, chất
thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất thải
nhiễm khuẩn, lây lan...có nguy cơ đe dọa đến sức khoẻ của người và động vật cây
cỏ.
Nguồn phát sinh ra chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công
nghiệp và nông nghiệp.
Chất thải không nguy hại là những loại chất thải không chứa các chất và các
hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần.
1.1.4. Thành phần chất thải rắn
Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp không đồng nhất và phức tạp của
nhiều vật chất khác nhau. Tuỳ theo cách phân loại, mỗi một loại chất thải rắn có
một số thành phần đặc trưng nhất định. Thành phần của chất thải rắn đô thị là bao
quát hơn tất cả vì nó bao gồm mọi thứ chất thải rắn từ nhiều nguồn gốc phát sinh
khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường
phố).
Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau:
Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27% - 62,22%);
Chứa nhiều đất cát, sỏi đá vụn, gạch vỡ;
Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900kcal/kg) [12].
1.1.5. Những tác hại và lợi ích của CTRSH
1.1.5.1. Tác hại của CTRSH đối với môi trường và sức khỏe con người
a. Tác hại của CTRSH sinh hoạt đến môi trường
Môi trường đất
CTRSH nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu giữ lại trong
đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon… nằm
7
8
Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp,
cứ đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trở
thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất
thải độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể
người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh.
CTRSH còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh là
nguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con
người. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh ung
thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25 % dân số. Ngoài ra, tỷ
lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm
tới 25 % [12].
c. CTRSH làm giảm mỹ quan đô thị
CTRSH nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu gom không
hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… đều là những
hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố,
thôn xóm.
Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân
chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng, lề đường và mương rãnh vẫn
còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu
gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ.
1.1.5.2. Lợi ích của CTRSH
Bên cạnh những tác hại của CTRSH đối với con người và sinh vật, CTRSH còn
có một số lợi ích sau:
Các loại CTR có thể phân hủy sinh học có khả năng tái chế lại để sản xuất năng
lượng điện bằng công nghệ chôn lấp rác để thu khí gas chạy máy phát điện hoặc sản
xuất phân bón bằng công nghệ ủ vi sinh (composting). Việc tái chế chất thải hữu cơ
bằng một hoặc cả hai phương pháp này đều góp phần đáng kể làm giảm tổng lượng
a. Phương pháp chôn lấp
Phương pháp truyền thống đơn giản nhất là chôn lấp rác. Phương pháp này có
chi phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển.
Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách dùng xe chuyên dụng chở CTRSH tới
các bãi đã xây dựng trước. Sau khi CTR được đổ xuống, xe ủi san bằng, đầm nén
10
trên bề mặt và đổ lên một lớp đất, hàng ngày phun thuốc diệt ruồi muỗi, rắc vôi
bột… theo thời gian, sự phân hủy của vi sinh vật làm cho CTR trở nên tơi xốp và
thể tích của bãi rác giảm xuống. Việc đổ CTR lại được tiếp tục cho đến khi bãi rác
đầy thì chuyển sang bãi rác mới.
Lớp phủ bề mặt
Ốngống thu khí bãi
rác
Đến hệ thống xử lý
khí
Ránh thoát nước
mặt
Lớp phủ hàng ngày
Lớp rác, gò rác
Đến hệ thống xử lý
nước rác
Lớp lót đáy
gia phát triển vì phải có một nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thu đốt rác
sinh hoạt như là một dịch vụ phúc lợi xã hội toàn dân. Tuy nhiên việc đốt rác sinh
hoạt bao gồm nhiều chất thải khác nhau sinh khói độc và dễ sinh khí dioxin nếu
không giải quyết tốt việc xử lý khói. Năng lượng phát sinh khi đốt rác có thể tận
dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cho ngành công nghệ nhiệt và phát điện. Mỗi lò
đốt phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải tốn kém nhằm khống chế ô
nhiễm không khí do quá trình đốt gây ra.
Hiện nay tại các nước Châu Âu có xu hướng giảm đốt CTRSH thải vì hàng
loạt các vấn đề kinh tế cũng như môi trường cần phải giải quyết. Việc thu đốt CTR
thải thường chỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại, CTR thải bệnh viện hoặc
CTR thải công nghiệp và các phương pháp khác không xử lý triệt để được. Tuy
12
nhiên, hiện nay công nghệ đốt CTR không sử dụng nhiên liệu đang được sử dụng
rộng rãi ở các nước đang phát triển với quy mô nhỏ và vừa [12].
c. Phương pháp ủ sinh học
Ủ sinh học (compost) là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để hình
thành các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học tạo môi
trường tối ưu đối với quá trình.
Quá trình ủ hữu cơ từ CTR hữu cơ (sản xuất phân bón hữu cơ) là một phương
pháp truyền thống được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển trong đó
có Việt Nam. Quá trình ủ được coi như quá trình lên men yếm khí mùn hoặc hoạt
chất mùn. Sản phẩm thu hồi là hợp chất mùn không mùi, không chứa vi sinh vật gây
bệnh và hạt cỏ. Để đạt mức độ ổn định như lên men, việc ủ đòi hỏi năng lượng để
tăng cao nhiệt độ của đống ủ. Trong quá trình ủ oxy sẽ được hấp thụ hàng trăm lần
và hơn nữa so với bể aeroten. Quá trình ủ áp dụng với chất hữu cơ không độc hại,
lúc đầu là khử nước, sau là xử lý cho đến khi nó thành xốp và ẩm. Độ ẩm và nhiệt
độ được kiểm tra thường xuyên và giữ cho vật liệu ủ luôn ở trạng thái hiếu khí trong
loại
Thủy tinh
Giấy
Nhựa
\
Các khối kiện
sau khi ép
Băng tải
thải vật liệu
Máy
ép rác
Hình 1.4. Sơ đồ công nghệ xử lý CTR bằng phương pháp ép kiện [12]
đ. Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydromex
Đây là một công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng ở Mỹ (2/1996). Công
nghệ Hydromex nhằm xử lý CTR đô thị (kể cả rác độc hại) thành các sản phẩm
phục vụ ngành xây dựng, vật liệu, năng lượng và sản phẩm dùng trong nông nghiệp
hữu ích.
Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ CTR sau đó polime hóa và
sử dụng áp lực lớn để nén, định hình các sản phẩm. CTR thải được thu gom (rác
hỗn hợp, kể cả rác cồng kềnh) được chuyển về nhà máy, không cần phân loại và
đưa vào máy cắt nghiền nhỏ, sau đó đưa đến các thiết bị trộn bằng băng tải. Chất
thải lỏng pha trộn trong bồn phản ứng, các phản ứng trung hòa và khử độc thực hiện
trong bồn. Sau đó chất thải lỏng từ bồn phản ứng được bơm vào các thiết bị trộn:
thống phun vi sinh khử mùi cũng như ozone diệt vi sinh vật độc hại. Tiếp đến, băng
tải sẽ chuyển rác tới máy xé bông để phá vỡ mọi loại bao gói. Rác tiếp tục đi qua hệ
thống tuyển từ (hút sắt thép và các kim loại khác) rồi lọt xuống sàng lồng.
Sàng lồng có nhiệm vụ tách chất thải mềm, dễ phân huỷ, chuyển CTR vô cơ
(kể cả bao nhựa) tới máy vò và rác hữu cơ tới máy cắt. Trong quá trình vận chuyển
này, một chủng vi sinh ASC đặc biệt, được phun vào rác hữu cơ nhằm khử mùi hôi,
làm chúng phân huỷ nhanh và diệt một số tác nhân độc hại. Sau đó, rác hữu cơ được
đưa vào buồng ủ trong thời gian 7-10 ngày. Buồng ủ có chứa một chủng vi sinh
khác làm rác phân huỷ nhanh cũng như tiếp tục khử vi khuẩn. Rác biến thành phân
khi được đưa ra khỏi nhà ủ, tới hệ thống nghiền và sàng. Phân trên sàng được bổ
sung một chủng vi sinh đặc biệt nhằm cải tạo đất và bón cho nhiều loại cây trồng,
15
thay thế trên 50% phân hoá học. Phân dưới sàng tiếp tục được đưa vào nhà ủ trong
thời gian 7-10 ngày.
Do lượng rác vô cơ khá lớn nên các nhà khoa học tục phát triển hệ thống xử lý
phế thải trơ và dẻo, tạo ra một dây chuyền xử lý rác khép kín. Phế thải trơ và dẻo đi
qua hệ thống sấy khô và tách lọc bụi tro gạch. Sản phẩm thu được ở giai đoạn này là
phế thải dẻo sạch. Chúng tiếp tục đi qua tổ hợp băm cắt, phối trộn, sơ chế, gia nhiệt
bảo tồn rồi qua hệ thống thiết bị định hình áp lực cao. Thành phẩm cuối cùng là ống
cống panel, cọc gia cố nền móng, ván sàn, cốp pha...
Cứ 1 tấn CTR đưa vào nhà máy, thành phẩm sẽ là 300-350 kg seraphin (chất
thải vô cơ không huỷ được) và 250-300kg phân vi sinh. Loại phân này hiện đã được
bán trên thị trường với giá 500 đồng/ kg.
Như vậy, qua các công đoạn tách lọc - tái chế, công nghệ seraphin làm cho rác
thải sinh hoạt được chế biến gần 100% trở thành phân bón hữu cơ vi sinh, vật liệu
xây dựng, vật liệu sản xuất đồ dân dụng, vật liệu cho công nghiệp. Các sản phẩm
này đã được cơ quan chức năng, trong đó có Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất
Lượng thải BQ kg/người/ngày
1
Canada
1,7
2
Australia
1,6
3
Thuỵ Sỹ
1,3
4
Thuỵ Điển
1,3
5
Trung Quốc:
xử lý chất thải rắn thành năng lượng (113 nhà máy thực hiện). Với phương pháp
này có thể giảm 70% - 90% tổng lượng chất thải rắn và thu hồi nhiệt lượng để
chuyển thành điện năng.
Ở Nhật Bản do diện tích đất đai có hạn nên hiện nay Nhật Bản đang sử dụng
phương pháp thiêu đốt chất thải rắn với việc thu hồi năng lượng là chủ yếu (chiếm
72,8% tổng lượng chất thải với 1919 xí nghiệp đốt rác hoạt động). Công suất của
các xí nghiệp lớn nhất lên tới 1980 tấn/ngày đêm.
Ở Đức rất chú trọng đến biện pháp tái sinh chất thải rắn, lượng chất thải rắn
chôn lấp có xu hướng giảm dần (70% năm 1990 chỉ còn lại 46% ở những năm cuối
thế kỷ 20), nguyên nhân chính là do chính phủ quy định công nghệ chôn lấp phải
tiên tiến, bãi chôn lấp chỉ tiếp nhận rác đã qua thiêu huỷ hoặc xử lý sơ bộ (nghiền,
nén).
Trong khi đó, ở các nước đang phát triển còn phải đối mặt với những khó
khăn về xử lý chất thải. Chủ yếu là thiếu kinh phí, thiếu kinh nghiệm, thường tập
trung xử lý chôn lấp (Mockva 90%, Seoul 70%, Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ 87,5%,
Budapest - Hungari 50%, Bangkok 85%, Philipin xấp xỉ 90%, Việt Nam gần 95%),
chỉ một khối lượng rất nhỏ được chế biến phân bón và đốt, xấp xỉ 2% với những kỹ
thuật chưa tiên tiến. Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực của các chính quyền đô thị và sự
quan tâm của Nhà nước.
18