LUẬN VĂN:
Bảo tồn và phát huy di sàn văn hóa
thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa -
hiện đại hóa Báo cáo kiến nghị đề tài
Năm là, yếu tố hiện đại là những giá trị văn hóa được sáng tạo căn bản dựa trên
cơ sở những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa
văn hóa nhân loại. Như thế, hiện đại chính là sự hội nhập giữa dân tộc và quốc tế. Và
cái gọi là hiện đại hôm nay (những giá trị văn hóa do chúng ta sáng tạo ra) sẽ trở thành
quá khứ của tương lai - cái mà chúng ta gọi là cổ truyền. Rõ ràng, giữa cổ truyền và
hiện đại có rất nhiều gạch nối và sự bổ sung liên tục bởi những giá trị văn hóa. Công tác
bảo tồn, tôn tạo di sản văn hóa chính là hoạt động giữ gìn ngọn lửa truyền thống văn
hóa và đem đến ý nghĩa sinh động cho khái niệm truyền thống. Có thể hiểu việc "giữ lửa
và tiếp lửa" là thổi sinh khí văn hóa cổ truyền vào đương đại, để cho cổ truyền không
bao giờ xưa cũ, mà luôn luôn mới và có vị trí xứng đáng trong đời sống đương đại.
Sáu là, DSVH là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế và
chính trị cụ thể qua nhiều thời kỳ lịch sử. Vì thế, mối liên hệ của các di tích lịch sử
và văn hóa với thời kỳ lịch sử mà chung được sáng tạo ra là những thông tin mà
những người làm công tác bảo tồn và trùng tu cần quan tâm, trong đó có hai yếu tố
quan trọng nhất là tính nguyên gốc và tính chân xác lịch sử của di tích. Tính
nguyên gốc gắn bó với những bộ phận cấu thành của di tích được sáng tạo ngay từ
lúc khởi dựng. Còn tính chân xác lịch sử lại gắn với những dấu ấn sáng tạo được
hình thành trong quá trình tồn tại của di tích (các bộ phận kiến trúc, vật liệu, kỹ
thuật xây dựng, chức năng truyền thống và những công năng tương ứng của di
tích ). Như vậy, yếu tố nguyên gốc và yếu tố chân xác lịch sử sẽ quyết định các
mặt giá trị của di tích. Đến lượt mình, các mặt giá trị của di tích và nhu cầu khai
thác và sử dụng nó sẽ quyết định phương pháp bảo tồn và trùng tu di tích.
Bảy là, không nên coi công tác bảo tồn và trùng tu di tích là một loạt những công
thức hay mô hình sẵn có mang tính vạn năng, cứng nhắc. Ngược lại, trong công tác bảo
tồn và trùng tu di tích, những mô hình, nguyên tắc mang tính chất lý thuyết phải được
vận dụng linh hoạt tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, nét đặc thù và các mặt giá trị tiêu
biểu của những di tích cụ thể theo thứ tự ưu tiên như sau:
- Ưu tiên hàng đầu là bảo vệ và phát huy các mặt giá trị tiêu biểu của di sản văn
hóa: giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học và những chức năng truyền thống cũng
như công năng mới của di tích.
tàng lưu giữ.
+ Xây dựng chế độ phụ cấp hàng tháng cho ngưòi bảo vệ thường xuyên tại các di tích
đã được xếp hạng do cấp xã trực tiếp quản lý.
+ Kiện toàn hệ thống quản lý Nhà nước về DSVH trên địa bàn tỉnh, thành
phố (thành lập hệ thống các Ban Quản lý di tích)
+ Khai thác tiềm năng về vốn thực hiện bảo tồn và phát huy DSVH (ngân sách
Trung ương, địa phương, nguồn vốn xã hội hoá)
- DSVH phải được coi là “nhân vật trung tâm “ của các đô thị hiện đại. Cần đặt
những tên gọi có tính chất cổ xưa, truyền thống cho các công trình kiến trúc mới hoàn
toàn, gợi ra những giá trị trường tồn với thời gian, có sự hài hòa giữa truyền thống và
hiện đại. Tạo ra những nét xưa cũ trên dáng hình đô thị hiện đại (chẳng hạn như dự án
Con đường gốm sứ trên đê Yên Phụ- Hà Nội). Các loại hình nghệ thuật cổ truyền với
hình thức đa dạng cần được đưa vào những trung tâm văn hóa lớn, tạo ra những quầng
sáng của văn hóa truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (Chẳng hạn như hát xẩm
trong tuyến phố đi bộ Hàng Ngang, Hàng Đào)
- Bảo tồn và phát huy các Báu vật nhân văn sống (các nghệ nhân) bằng chế độ
chính sách ưu đãi đặc biệt, kết hợp với đào tạo nghệ nhân trẻ trong sự dìu dắt của các
nghệ nhân lâu năm. Tôn vinh các danh hiệu nghệ nhân dân gian trên các vùng miền theo
định kỳ hàng năm và quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và
quốc tế.
- Cần có kế hoạch và thực thi việc sưu tầm, lưu trữ và truyền bá các tư liệu nghe
nhìn, truyền bá các kỹ năng truyền thống, đưa việc giảng dạy văn hóa truyền thống Việt
Nam vào hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện giáo dục học đường về bảo tồn và phát
huy di sản văn hóa, tăng cường tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng, phim ảnh, nghệ thuật. Đan xen và vận thông các yếu tố văn hóa truyền thống
trong đời sống xã hội hiện đại (quảng cáo, trang trí, thiết kế kiến trúc, mỹ thuật ).
- Cần lập hệ thống hồ sơ về các DSVH cần được tôn vinh và bảo vệ một cách
giáo trình giảng dạy và tổ chức đào tạo, dạy nghề cho các làng nghề mà trước mắt là
đào tạo nghề cho thợ cả từ các nghệ nhân, thợ giỏi. Hỗ trợ xây dựng các phòng trưng
bày các hình ảnh, các mẫu sản phẩm, đồ thủ công mỹ nghệ, khu trình diễn nghề và
xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm mở rộng thị trường và mở rộng sản xuất. Đảm
bảo đủ nguồn vốn cho bảo tồn và phát huy nghề thủ công chính tại các làng nghề cổ
truyền. Quy hoạch phát triển nghề cổ truyền gắn với du lịch và chính sách đất đai,
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đầu tư và tài chính tín dụng, thương mại và hội
nhập quốc tế.
Chính phủ nên có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các làng nghề được công nhận đạt
danh hiệu “Làng văn hóa - Làng nghề” về vốn đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, giảm lãi
xuất cho vây hỗ trợ phát triển sản xuất trung, dài hạn để phù hợp với hội nhận kinh tế
quốc tế.
Các bộ, ngành Trung ương khi có chính sách mới của Chính phủ ban hành cần
ra Thông tư hướng dẫn kịp thời; hỗ trợ vốn đầu tư cho phát triển nghề cổ truyền cần kết
hợp với du lịch và khắc phục ô nhiễm môi trường ở các làng nghề.
Bộ Công Thương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền
thông cần có chương trình quảng bá sản phẩm, hỗ trợ kinh phí cho làng nghề, doanh
nghiệp làng nghề, hộ gia đình, nghệ nhân đăng ký tham gia hội chợ triển lãm, hội chợ
du lịch làng nghề; tổ chức các tuyến du lịch làng nghề; có chương trình hợp tác quốc tế
về nguyên liệu cho làng nghề. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện các
chương trình khuyến công quốc gia, bảo tồn và phát triển làng nghề cổ truyền, ngành
nghề nông thôn. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Làng nghề
Việt Nam và các tổ chức có liên quan ở Trung ương cần quan tâm quan hệ với các tổ
chức quốc tế hỗ trợ cung cấp thông tin trên các phương tiện thông tin để giúp doanh
nghiệp, làng nghề tiếp cận thị trường quốc tế để xuất khẩu các sản phẩm, nhập khẩu
nguyên liệu cho các làng nghề.
3.2. Phát huy mạnh mẽ vai trò của gia đình và dòng họ trong bảo tồn và phát huy
hội cổ truyền trong xã hội hiện đại
Hiện nay, do sự tăng trưởng kinh tế và gia tăng nhu cầu văn hoá tinh thần của con
người là điều kiện làm cho lễ hội cổ truyền phát triển mạnh. Chưa bao giờ xu hướng đề
cao tâm linh, tín ngưỡng lại được coi trọng như hiện nay. Sự phát triển của kinh tế thị
trường và mặt trái của nó đã làm nảy nở lối sống thực dụng, quá coi trọng các lợi ích vật
chất kết hợp xu hướng duy tâm và mê tín dị đoan “phú quý sinh lễ nghĩa” có nguy cơ
lan tràn trong cộng đồng. Thêm nữa, sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ và
ứng dụng của nó trong đời sống sẽ làm thay đổi hình sinh hoạt lễ hội và làm các trò chơi
trong lễ hội biến dạng và mai một. Lễ hội cổ truyền đang biến đổi trên các phương diện:
+ Biến đổi về thời gian, không gian tổ chức lễ hội.
+ Biến đổi về nghi lễ trong lễ hội.
+ Biến đổi trò chơi, trò diễn trong lễ hội.
+ Biến đổi về chủ thể tham dự lễ hội.
Trong xã hội hiện đại, lễ hội đang bộc lộ một số nhược điểm như kéo dài thời
gian ở các lễ hội trong khi nội dung còn sơ sài là điều bất cập. Những ý kiến cho rằng
bảo tồn lễ hội nguyên xi như nó vẫn có, hoặc hiện đại hoá lễ hội, xem nhẹ nghi thức,
chú ý đưa văn hoá hiện đại vào lễ hội đều cần phải điều chỉnh. Khôi phục lễ hội theo xu
hướng vừa bảo tồn vừa cách tân là xu hướng phù hợp nhất. Những nghi thức rườm rà,
câu nệ, dài dòng cần lược bớt, thời gian tế lễ nên rút ngắn lại nhưng vẫn đảm bảo sự
long trọng, thiêng liêng của nghi thức. Văn tế ở nhiều lễ hội vẫn sử dụng chữ Hán nên
tác dụng rất hạn chế. Nếu dùng văn tế bằng tiếng Việt thì đại đa số quần chúng nhất là
thanh thiếu niên đến với lễ hội có thể hiểu được. Họ sẽ rung cảm và tự hào với truyền
thống của cha ông, tác dụng giáo dục sẽ tăng lên. Phần hội có thể đưa thêm các trò chơi,
trò diễn với liều lượng hợp lý và không làm lễ hội biến dạng. Đồng thời, cần sử dụng
phương tiện hiện đại như loa phóng thanh, đèn chiếu sáng, máy tăng âm, quay camera
để các nghi thức tế lễ, dâng hương được long trọng và phổ cập rộng rãi đến người tham
gia lễ hội.
- Đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế về bảo tồn và phát huy DSVH nhằm tranh
thủ sự ủng hộ, giúp đỡ dưới mọi hỡnh thức.
Bảo tồn và khai thác luôn là hai mặt của một vấn đề, nếu chỉ bảo tồn mà
không chú ý tới khai thỏc sẽ gõy lóng phớ tài nguyờn, hạn chế việc phỏt huy giỏ trị;
nếu chỉ khai thỏc mà khụng bảo tồn thỡ cũn nguy hiểm hơn nữa, điều đó sẽ gây hủy
hoại di tích, hủy hoại môi trường và những hậu quả to lớn khác cho toàn xó hội.
Bảo vệ và phát huy giá trị của DSVH là nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ, xây
dựng và phát triển đất nước, là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người và của cả
cộng đồng.
3.6. Tăng cường xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy DSVH
Muốn huy động được sự tham gia của toàn xã hội, cần phải sử dụng đúng mục
đích và có hiệu quả sự đóng góp trí tuệ, vật chất của cả cộng đồng cho sự nghiệp bảo vệ,
phát huy di sản văn hóa. Tạo môi trường và điều kiện tốt nhất để công chúng được trực
tiếp tham gia, đồng thời được hưởng thụ các kết quả do hoạt động bảo vệ và phát huy
giá trị DSVH mang lại. Vì vậy, Nhà nước phải xây dựng cơ chế, chính sách cho việc
đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo tồn DSVH, khuyến khích huy động cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp đóng góp kinh phí để tu bổ di tích, hiến tặng hiện vật cho bảo tàng
Nhà nước. Các địa phương nên thực hiện thường xuyên công tác tuyên truyền về xã hội
hóa với hình thức đa dạng, có chiều sâu và phổ biến đến tận người dân. Tuyên truyền,
phổ biến các mô hình xã hội hóa hoạt động tốt, các tổ chức, cá nhân tích cực trong các
hoạt động xã hội hóa.
Quá trình xã hội hoá công việc bảo tồn di tích là một hoạt động đúng hướng,
nhưng nếu không được quản lý, chỉ đạo, giám sát chặt chẽ thì sẽ góp phần làm cho vi
phạm di tích tăng lên. Ngày càng nhiều cá nhân, tổ chức tham gia đóng góp vào công
tác bảo vệ và tu bổ di tích. Nguồn lực của xã hội cho hoạt động bảo tồn DSVH còn rất
lớn nhưng nguồn lực này chưa được quy tụ và định hướng vào những công việc thật sự
cấp bách (bảo quản, gia cố, tu bổ), mà thường chú trọng vào xây dựng mới ở di tích.
phú đa dạng trong hoạt động, chủ động liên hệ với các cơ quan, đoàn thể, các hội quần
chúng, các trường học tổ chức các cuộc tham quan, học tập đạt hiệu quả tốt trong bảo
tồn phát huy DSVH.
DSVH dân tộc nằm trong từng gia đình, dòng họ, làng xã, nên cần phát động
phong trào toàn dân gìn giữ, phát huy các giá trị văn hoá nhằm huy động sức lực, trí tuệ,
nguồn kinh phí của toàn xã hội sử dụng cho các công việc sau :
+ Tuyên truyền các giá trị DSVH trên các phương tiện thông tin đại chúng. Khuyến khích
các doanh nghiệp tài trợ cho các chuyên mục trên Đài phát thanh & Truyền hình tỉnh, thành phố,
báo chí, các cuộc thi tìm hiểu về DSVH.
+ Thành lập quỹ DSVH bằng nguồn từ các doanh nghiệp trung ương và địa phương
đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trong khu vực và các tổ chức xã hội nhân dân đóng góp.
+ Thành lập các Hội Di sản văn hóa ở các tỉnh, thành phố.
3.7. Tăng cường nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cho công tác bảo tồn và phát huy
DSVH
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác DSVH bằng hình thức mở các
lớp tập huấn, tham quan học tập trong và ngoài nước, bổ sung đội ngũ cán bộ được đào
tạo có chuyên môn, nghiệp vụ cao cho các đơn vị chức năng bảo tồn DSVH cấp tỉnh,
thành phố.
Hoàn thiện hệ thống thiết chế bảo tồn DSVH, đẩy nhanh việc nâng cấp nhà Bảo
tàng tỉnh, thành phố, thường xuyên bổ sung hiện vật. Kịp thời vận dụng các thành tựu khoa
học công nghệ tiên tiến để bảo quản, giữ gìn tài liệu, hiện vật tốt nhất, phục vụ khách tham
quan. Đẩy mạnh việc xây dựng mạng lưới nhà văn hóa thôn để tăng cường các hoạt động
tuyên truyền và giữ gìn các DSVH.
Khuyến khích xây dựng bảo tàng tư nhân, sưu tập tư nhân, phòng truyền thống
trường học, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp một cách đa dạng, phong phú.
Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và khuyến khích những sáng kiến
trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa. Tổ chức hội thảo hàng năm để tranh thủ ý kiến
đến cảnh quan, môi trường của di tích.
- Sáu là, tổ chức thu nhận, bảo quản các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do tổ
chức, cá nhân giao nộp và thu giữ ở Hà Nội theo quy định của pháp luật.
- Bảy là, tổ chức đăng ký và quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn.
- Tám là, quản lý, hướng dẫn hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị DSVH, lễ hội
truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích, nhân vật lịch sử tại địa phương.
- Chín là, tuyên truyền, quảng bá các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, giáo
dục ý thức bảo vệ và phát huy DSVH trong cộng đồng dân cư.