PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Bước sang thế kỷ XXI, xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế
giới là bằng mọi cách khơi dậy sức sống mãnh liệt của dân tộc để hội nhập
quốc tế và phát triển hợp lý, phù hợp với xã hội hiện đại. Để làm được điều
đó, nhiều nước đã tìm về di sản văn hoá (DSVH), bởi DSVH chính là một
trong những cội nguồn sức sống tiềm tàng to lớn của dân tộc được tạo ra
trong quá khứ, cần phải được bảo vệ, duy trì và phát huy trong xã hội hiện
đại. Văn hoá là tiềm lực tinh thần to lớn của mỗi dân tộc, thể hiện ra ở những
giá trị hàm chứa trong vốn DSVH dân tộc được tích luỹ theo thời gian lịch sử.
DSVH dân tộc giống như một nguồn lực kép: nguồn lực vật thể (hữu hình) và
nguồn lực phi vật thể (vô hình). DSVH trở thành điểm tựa quan trọng, tạo thế
đi vững chắc cho hiện tại và tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc trong bối
cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Trải qua hàng ngàn năm, những giá trị DSVH phi vật thể và DSVH vật
thể Việt Nam vẫn hiện diện như muôn trùng con sóng cuộn chảy trong dòng
sông văn hoá truyền thống của dân tộc.
Kế thừa di sản quá khứ là quy luật phát triển tất yếu của văn hoá.
Muốn kế thừa và phát huy DSVH thì trước hết cần phải nghiên cứu, tiếp cận
mọi phương diện lý luận về DSVH dân tộc. Đó là một đòi hỏi bức xúc về
phương diện lý luận mà quá trình nghiên cứu đề tài “Bảo tồn và phát huy di
sản văn hoá thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (qua thực tế một số tỉnh đồng bằng
Bắc Bộ)” có thể tìm được những phương án giải trình một cách có hệ thống,
hợp lý và logic.
Mặc dù chỉ nghiên cứu về DSVH ở đồng bằng Bắc Bộ nhưng đề tài
vẫn có điều kiện hệ thống hoá, bao quát và đi sâu hơn về một số vấn đề lý
luận DSVH đương đại, đóng góp chung vào những thành tựu lý luận về lĩnh
vực này.
1.2. Trong xu thế giao lưu hội nhập và toàn cầu hoá hết sức sôi động
hiện nay, vấn đề bảo tồn và phát huy DSVH lại càng có ý nghĩa vô cùng quan
1
không gian DSVH phía Bắc nước ta - một vùng văn hoá lâu đời, tiêu biểu cho
2
văn hoá dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, bao gồm nhiều tiểu vùng văn hoá mở
rộng theo đồng bằng Bắc Bộ, trải dài theo sông Hồng cùng với hệ thống sông
ngòi phía Bắc và vùng châu thổ rộng lớn.
Nghiên cứu, khảo sát DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ sẽ giúp chúng ta
khai thác, tiếp cận những vỉa tầng quan trọng hàng đầu của văn hoá Việt Nam
trong tiến trình lịch sử. Đây là một trong những “địa chỉ” trọng điểm cất giữ
những vẻ đẹp tinh hoa nhất, cốt lõi nhất của văn hoá nước ta. Bởi vậy, muốn
xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc, cần phải nghiên cứu, kế thừa, bảo tồn và phát huy DSVH đồng bằng Bắc
Bộ nói riêng, DSVH Việt Nam nói chung.
1.4. Vừa qua, hoạt động bảo tồn, kế thừa và phát huy DSVH đã diễn ra
rất đa dạng tại các địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ. Theo đó, tình hình
CNH, HĐH, giao lưu hội nhập quốc tế ngày càng sôi động, vừa có thời cơ lại
vừa có những thách thức không nhỏ đối với hoạt động bảo tồn và phát huy di
sản văn hoá. Đã đến lúc cần phải thực hiện một công trình nghiên cứu chuyên
biệt, nhằm khảo sát thực trạng bảo tồn và phát huy DSVH vùng đồng bằng
Bắc Bộ trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, tìm ra những thành tựu và hạn
chế của hoạt động này, kiến nghị và đề xuất những phương hướng và giải
pháp có tính khả thi, nhằm bảo tồn và phát huy tốt hơn DSVH đồng bằng Bắc
Bộ giai đoạn hiện nay và trong tương lai.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ mối quan hệ của hoạt động bảo tồn, phát huy DSVH
với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, hướng tới
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đề tài đi sâu
phân tích, đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy DSVH ở một số tỉnh vùng
đồng bằng Bắc Bộ thời gian qua (bao gồm các tỉnh Hà Tây (cũ), Hà Nội, Hải
Dương, Bắc Ninh).
tiếp cận một cách có hệ thống những tiền đề lý luận về DSVH, về bảo tồn di
sản văn hoá và phát huy DSVH.
- Theo đó, đề tài nghiên cứu, vận dụng hợp lý những thành tựu về lý
luận DSVH của thế giới đương đại vào thực tiễn nghiên cứu như:
4
+ Quan niệm của UNESCO về văn hoá và DSVH, về kế thừa, bảo tồn
và phát huy DSVH, về vai trò chức năng của DSVH đối với việc lựa chọn mô
hình phát triển của văn hoá mỗi dân tộc.
+ Những thành tựu về lý thuyết vùng văn hoá và tiểu vùng văn hoá của
giới nghiên cứu văn hoá học trên thế giới đầu thế kỷ XXI.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phân tích - Tổng hợp tài liệu văn bản
Đề tài sẽ nghiên cứu những văn bản, tài liệu liên quan đến nội dung
nghiên cứu:
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các
văn kiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn
hoá, về DSVH, luật DSVH, về bảo tồn và phát huy DSVH.
- Các công trình nghiên cứu của nước ngoài về DSVH vật thể, DSVH
phi vật thể.
- Các công trình nghiên cứu, sưu tầm trong nước về DSVH vật thể,
DSVH phi vật thể Việt Nam nói chung, vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng.
* Điều tra xã hội học, quan sát, khảo tả: phỏng vấn sâu (các nghệ
nhân, các nhà quản lý, cán bộ chuyên trách, người dân tại các vùng miền),
bảng hỏi (tổng thể, chi tiết), thống kê, phân loại
* Lịch sử - Logic: nghiên cứu, phán đoán, suy luận, thuyết minh những
cơ sở lịch sử xã hội hình thành nên DSVH.
* So sánh văn hoá: Đối chứng vùng văn hoá và tiểu vùng văn hoá ở
đồng bằng Bắc Bộ theo hai chiều lịch đại và đồng đại để tìm ra những nét
đặc sắc.
* Phương pháp phân tích SWOT (Điểm mạnh - Điểm yếu - Thời cơ -
trên phương diện lý luận theo Công ước và Quy chế của UNESCO. Đây là
những quan niệm cụ thể nhằm giúp nhận diện một cách đúng đắn khoa học về
DSVH vật thể và phi vật thể trên thế giới.
Ở nước ta, nghiên cứu về DSVH trước tiên phải kể đến công trình Việt
Nam Văn hoá sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan
điểm : “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần
6
thì phải giữ văn hoá cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá mới
làm dụng nghĩa là phải khéo điều hoà tinh tuý của văn hoá phương Đông với
những điều sở trường về khoa học của văn hoá phương Tây”.
Năm 1997, GS,TS. Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách Một số vấn đề về
bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc. Trên cơ sở những quan niệm
DSVH của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về
DSVH, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu DSVH nước ta. Năm 2002,
Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành được coi là văn bản pháp
quy về DSVH.
Trong sách Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể do Bộ Văn hoá - Thể thao
và Du lịch phát hành năm 2007, GS,TS. Ngô Đức Thịnh (nguyên Viện trưởng
viện Văn hoá dân gian) đã bàn đến Văn hoá phi vật thể: Bảo tồn và phát huy.
Trưởng Ban Di sản phi vật thể Văn phòng UNESCO Pari - ông Rieks Smeets
đã nghiên cứu về Bối cảnh, nhận thức và quá trình xây dựng Công ước về
bảo vệ Di sản văn hoá phi vật thể. Tổng giám đốc ACCU- ông Sato Kunio đề
cập đến Các chương trình của ACCU và tầm nhìn về bảo vệ di sản văn hoá
phi vật thể. Hai nhà nghiên cứu Trung Quốc là Cố Quân & Uyển Lợi nghiên
cứu về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể và những quy tắc nên theo. Partrik J.
Bolyan nghiên cứu Di sản văn hoá phi vật thể, cơ hội và thách thức đối với
Bảo tàng và công tác đào tạo cán bộ chuyên môn bảo tàng.
Công trình Một con đường tiếp cận di sản văn hoá do Bộ Văn hoá -
Thông tin ấn hành, Hà Nội năm 2006 đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý
luận DSVH cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài.
Quang Trọng nghiên cứu về Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi
vật thể của Thăng Long Hà Nội (Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Viện nghiên
cứu Văn hoá - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
Tìm về Di sản văn hoá dân gian trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam
(NXB Thuận Hoá, Huế, 1996), tác giả Chu Quang Trứ đề cập đến di sản văn hoá
vùng đồng bằng Bắc Bộ trong bối cảnh chung của DSVH dân tộc.
Qua công trình Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng
bằng sông Hồng (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội - sách do Tô Duy Hợp chủ
biên năm 2000), người đọc có thể tìm thấy phần nào diện mạo DSVH đồng
bằng Bắc Bộ.
8
Sách Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt ở
đồng bằng Bắc bộ của TS.Nguyễn Quang Lê (NXB Khoa học Xã hội, Hà
Nội, năm 2001) đã giúp cho người đọc có cái nhìn hệ thống về DSVH phi vật
thể nơi đây.
Năm 2003, Hiếu Giang đã nghiên cứu khá công phu Về giá trị văn hoá
phi vật thể Thăng Long - Hà Nội (Tạp chí Di sản Văn hoá - Bộ Văn hoá
Thông tin, số 3). Viết bài trên tạp chí Văn hoá nghệ thuật năm 2002, nhà
nghiên cứu Lưu Trần Tiêu đưa ra vấn đề Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá
Viêt Nam. Năm 2006, nghiên cứu sinh Đàm Hoàng Thụ bảo vệ thành công
luận án TS với đề tài: Nghiên cứu vấn đề bảo tồn di sản văn hoá nghệ thuật
trong giai đoạn hiện nay. Có thể xem đây là công trình nghiên cứu khá sâu về
lý luận DSVH.
Năm 2007, trong tư cách một nhà nghiên cứu có nhiều năm quan tâm
đến DSVH, PGS,TS. Nguyễn Chí Bền viết bài nghiên cứu Bảo tồn di sản văn
hoá phi vật thể ở nước ta hiện nay đăng trên báo Văn hoá. Bài báo bàn sâu về
cách thức bảo tồn văn hóa phi vật thể hiện nay. Với kinh nghiệm của một
người quản lý văn hóa, tác giả Nguyễn Hữu Kim - giám đốc Sở Văn hoá ,Thể
thao và Du lịch Vĩnh Phúc có nhiều đề xuất về Bảo tồn và phát triển di sản
văn hoá ở Vĩnh Phúc.
tầng của nông thôn Việt Nam, NXB Thống kê (2005) v.v
Nhận xét chung
- Phần lớn các công trình nghiên cứu và tư liệu trên đây đều trực tiếp
hoặc gián tiếp đề cập đến DSVH và thực trạng bảo tồn phát huy DSVH vùng
đồng bằng Bắc Bộ ở nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau.
- Dường như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt,
hệ thống và quy mô về thực trạng bảo tồn và phát huy DSVH đồng bằng Bắc
Bộ trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH.
- Các công trình chủ yếu nghiên cứu về bảo tồn và phát huy DSVH
thuần túy mà chưa đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy
DSVH và quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở đồng bằng Bắc Bộ với những
biểu hiện phong phú, đa dạng và phức tạp của quan hệ này.
10
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Nội dung đề tài triển khai
trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy DSVH ở
đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình CNH, HĐH
Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy DSVH thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH ở đồng bằng Bắc Bộ (qua thực tế tại Hà Nội, Hà Tây cũ, Bắc
Ninh và Hải Dương)
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo tồn và phát huy DSVH
thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài sau khi được thực hiện thành công sẽ góp phần hệ thống hoá lý
luận về văn hoá, lý luận về DSVH, về vùng văn hoá và tiểu vùng văn hoá, về
vấn đề kế thừa, bảo tồn, phát huy DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH.
- Đề tài là sự vận dụng lý luận nghiên cứu văn hóa vào một trường hợp cụ
này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp
1789. Quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ
giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản
Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát và phá
hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả
sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi
phục và bảo tồn di sản quốc gia. Di sản lúc đó được hiểu như “ý niệm về một
tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó
là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia”. [83, tr.32]
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định
nghĩa : “di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho
thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện
nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”. [56, tr.20]
Như vậy, DSVH được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước
để lại cho thế hệ sau. DSVH là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ
thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm
văn học mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau.
12
Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp
quốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003
đã bàn thảo và ra Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Công ước đã
ghi nhận: Các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với
các điều kiện khác đã tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng,
đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và
hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể.
Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
xác định: “di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn
hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam”. [3, tr.17]
1.1.2. Phân loại di sản văn hoá
Phân loại (classification) sự vật và hiện tượng là một trong những cách
nhận thức và thâu tóm bản chất của sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội đa
dạng phong phú. Phân loại DSVH là một nhu cầu chính đáng trong nghiên
cứu. Theo quan niệm của UNESCO, DSVH bao gồm hai loại:
Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản
phẩm văn hóa có thể “sờ thấy được”. Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại
của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng,
trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời
gian xác định. DSVH vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người,
để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt. Văn hóa vật thể được khách thể hóa và tồn tại như
một thực thể ngoài bản thân con người. DSVH vật thể luôn chịu sự thách thức
của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại
sau. DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều
so với nguyên gốc. Hiện nay, vấn đề bảo tồn những DSVH vật thể lâu đời đòi
hỏi công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ.
Di sản “Văn hóa phi vật thể” (intangible culture) là dạng thức tồn tại
của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không
gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành
14
vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người
trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra. Từ đó người ta có thể nhận
biết được sự tồn tại của “văn hóa phi vật thể”.
Đặc trưng rõ nhất của “văn hóa phi vật thể” là nó luôn tiềm ẩn trong
tâm thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động
của con người. “Văn hóa phi vật thể” được lưu giữ trong thế giới tinh thần
của con người và thông qua các hình thức diễn xướng, nó được bộc lộ sinh
động trong tư cách một hiện tượng văn hóa.
“Di sản “văn hóa phi vật thể” (intangible culture) được hiểu là các tập
quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là các
thể hiện bằng các tiêu chí sau đây:
a) Hiện vật nguyên gốc, độc bản;
b) Hình thức độc đáo;
c) Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện:
- Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp
của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất.
- Là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá trị
thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một
phong cách, một thời đại;
- Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao,
có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định;
d) Được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến của
thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia” [3, tr. 46].
Như vậy, rõ ràng là DSVH phi vật thể luôn sống trong tâm trí con
người, được con người nắm giữ các tri thức về nó để trình diễn các kỹ năng
thực hành biểu hiện giá trị của nó. DSVH phi vật thể luôn đồng hành cùng
con người, gắn với ký ức của con người theo dòng lịch sử. DSVH vật thể tồn
tại trong tri giác, được nhận biết thông qua các giác quan của con người, trong
sự thừa nhận của một cộng đồng xã hội kéo dài theo thời gian lịch sử xã hội.
1.1.3. Quan điểm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Trước hết là quan điểm bảo tồn DSVH. Từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa:
“bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy là làm cho cái hay, cái
tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”.
16
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng
thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến
hóa hay biến thái”. Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái
niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối tượng
bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực
và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác
thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại. Đối với các di sản văn hóa phi vật
thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó
ngay chính trong đời sống cộng đồng. Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi
trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất
để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã
hội theo thời gian. Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng
đồng, nương náu trong tiếng nói, trong các hình thức diễn xướng, trong các
nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian.
Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của con
người mà chúng ta thường mệnh danh họ là những nghệ nhân hay là những
Báu vật nhân văn sống. Do đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật
thể còn đồng nghĩa với việc bảo vệ những Báu vật nhân văn sống. Đó là việc
xã hội thừa nhận các tài năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều
kiện tốt nhất để trong hoàn cảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát
huy được khả năng của họ trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống. Cần phải phục hồi các giá trị văn hóa phi vật thể một cách
khách quan, sáng suốt, tin cậy, chứ không thể chủ quan tùy tiện. Tất cả những
giá trị văn hóa phi vật thể phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp
nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng, thuyết phục
thông qua các dự án điều tra, sưu tầm bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu
tích DSVH phi vật thể.
Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng DSVH phi vật thể chính
là mong muốn “lý tưởng” nhất, hoàn hảo nhất. Nếu không thể bảo tồn nguyên
dạng thì phải bảo tồn theo hiện dạng đang có. Bởi theo quy luật của thời gian
thì các DSVH phi vật thể ngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc. Do vậy,
nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng là điều cần
phải thực hiện và có ý nghĩa khả thi nhất.
18
Tuy nhiên, hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng.
Theo đó, cần xác định rõ thời điểm bảo tồn để sau này khi có thêm tư liệu tin
văn hoá truyền thống bị mai một. Cũng trong giai đoạn này, Nhật Bản đã phá
huỷ nhiều công trình kiến trúc lịch sử và chùa chiền liên quan đến Phật giáo
và nghệ thuật truyền thống. Hiện tượng này chấm dứt khi đạo luật về bảo tồn
di sản văn hoá ra đời năm 1897. Kể từ đấy, các yếu tố bản địa được phục hồi
với tất cả vẻ đẹp độc đáo của nó trong một định hướng giá trị mới, biểu tượng
cho tinh hoa dân tộc.
Đối với Nhật Bản, quan niệm di sản văn hoá là tài sản
văn hoá không chỉ dừng lại ở nhận thức mà còn được cụ thể hoá trong những
đạo luật, chính sách văn hoá, nổi bật nhất là Bộ luật bảo tồn các tài sản văn
hoá được ban hành vào những năm 80 của thế kỷ trước. Bộ luật ra đời nhằm
thực hiện bảo tồn di sản văn hoá trên cơ sở xác lập quyền sở hữu và bảo trợ
của nhà nước. Trong đó, Bộ luật quy định rõ, mọi tài sản văn hoá đều thuộc
quyền sở hữu của các công dân, các cơ quan sự vụ, các tổ chức chính phủ và
phi chính phủ. Quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản văn hoá bao
gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Việc công nhận
quyền của các chủ sở hữu được đảm bảo bằng một “Giấy chứng nhận” do
Bộ trưởng Bộ Giáo dục cấp. Bộ luật cũng quy định rõ, chính phủ và các
cấp chính quyền địa phương phải tôn trọng quyền của các chủ sở hữu và
quyền sở hữu của những người hữu quan. Như vậy, từ một khái niệm triết
học (di sản văn hoá), các vật thể mang các giá trị văn hoá được gọi là tài
sản văn hoá (thuật ngữ luật học) có thể sở hữu. Khi di sản văn hoá được
công nhận là tài sản văn hoá sẽ tạo nên chuyển biến mạnh mẽ trong nhận
thức và hành động nhằm bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá. Bởi vì,
việc bảo tồn và khai thác tài sản văn hoá chỉ có thực hiện tốt khi nó thuộc
quyền sở hữu của một chủ thể cụ thể nào đó. Nếu chưa được pháp luật
công nhận, các di sản đó luôn phải đứng trứớc nguy cơ bị thất thoát, mai
một làm tổn hại đến vốn tài sản văn hoá dân tộc, một hiện tượng đã xảy ra
phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Không những được coi là
tài sản văn hoá, DSVH còn được xác định là một thứ văn hoá đặc biệt,
thống nhất cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai, chỉ đạo và giám
định thi hành pháp luật. Cục Văn hoá Nhật Bản là cơ quan duy nhất có chức
21
năng pháp lý điều hành các hoạt động bảo tồn và phát huy DSVH từ Trung
ương đến địa phương. Cơ quan này có nhiệm vụ phổ biến văn hoá, bảo tồn và
sử dụng các tài sản văn hoá, cũng như thực hiện việc quản lý nhà nước liên
quan đến tôn giáo với sự cộng tác của các cơ quan chính phủ hữu quan.
Người đứng đầu Cục Văn hóa Nhật bản có quyền tiến hành hoặc đình chỉ mọi
hoạt động bảo tồn và khai thác DSVH trong trường hợp cần thiết, theo quy
định của pháp luật. Nếu chính quyền các địa phương các cấp muốn tiến hành
hoạt động bảo tồn và khai thác DSVH, phải được uỷ quyền của Cục Văn hoá.
Ngân sách cho những hoạt động của Cục Văn hoá cũng không ngừng tăng
theo các năm.
Như vậy, cách thức tổ chức của Cục Văn hoá Nhật Bản và ngân sách
dồi dào của chính phủ nước này đã giúp cho bộ máy điều hành triển khai các
hoạt động bảo tồn và khai thác DSVH một cách hiệu quả.
Ở Việt Nam, mặc dù đã có Luật Di sản Văn hoá nhưng trên thực tế,
nhiều vấn đề "nóng" như lấn chiếm di tích, trộm cắp cổ vật hay thiếu một quy
hoạch tổng thể để bảo tồn vẫn là những "bài toán khó" mà bao năm nay vẫn
chưa tìm được lời giải. Những bài học của Nhật Bản trên đây có thể là kinh
nghiệm quý, góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong công tác bảo
tồn DSVH nước ta.
* Khai thác các giá trị của văn hoá truyền thống trên cơ sở gắn với
đời sống hiện đại
Bảo tồn DSVH không chỉ là cất giữ cho khỏi mất tài sản, để giữ gìn
bản sắc dân tộc hoặc tự ca ngợi mình. Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản,
Trung Quốc là chủ trương bảo tồn để phát triển, khai thác các giá trị văn hoá
truyền thống là làm cho sống lại, làm cho các giá trị đó tồn tại trong đời sống,
năng động hoá các hình thức tồn tại của di sản văn hoá trên cơ sở thu hút sự
quan tâm của các tầng lớp xã hội, nhờ đó mà các giá trị được vận hành, thâm
tại khác nhau, được khai thác từ những mối quan tâm khác nhau, vô số tài sản
văn hoá từ truyền thống đã hoá thân vào cuộc sống hiện tại, trở thành một bộ
phận quan trọng và gần gũi với đời sống cộng đồng.
Ở Trung Quốc, bên cạnh việc hoàn thiện pháp chế về bảo vệ các DSVH
lịch sử, thực hiện phân cấp bảo vệ văn vật, nhà nước yêu cầu các cấp chính
23
quyền đưa việc bảo vệ văn vật vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương, vào quy hoạch xây dựng thành thị và nông thôn, vào ngân sách, vào
cải cách thể chế; đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ bảo vệ của cộng đồng,
huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác bảo vệ văn vật.
Trong quá trình đẩy mạnh hội nhập thế giới, Trung Quốc đặc biệt chú
trọng thúc đẩy việc bảo vệ DSVH thông qua giáo dục cộng đồng. Đề cương
về chương trình: “Mỗi người đều có trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa của
đất nước” do Bộ Văn hóa và Cục Di sản đã công bố từ năm 1989, được quán
triệt và thực hiện trong cả nước. Các viện bảo tàng, nhà tưởng niệm và các cơ
quan bảo vệ DSVH đã mở cửa đón công chúng và cung cấp nhiều chương
trình về bảo vệ DSVH. Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đề
cập nhiều tới tầm quan trọng và giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học của
DSVH Trung Quốc. Nhiều tờ báo lớn đã có chuyên mục về luật bảo vệ
DSVH. Chính phủ Trung Quốc đã xác định: những tài sản văn hoá là do nhân
dân tạo nên, chỉ khi nào bản thân tài sản ấy được nhân dân nhận thức đúng
đắn, khi ấy nó mới có những giá trị đích thực. Đặc biệt từ sau khi gia nhập
WTO, công tác bảo tồn, phát huy và quảng bá DSVH dân tộc của Trung Quốc
càng được coi trọng. Trong Báo cáo Chính trị của Đại hội 17, Tổng bí thư Hồ
Cẩm Đào đã chỉ rõ, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh bảo tồn văn hoá trong quá trình
xây dựng một xã hội thịnh vượng hài hoà trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nói,
đây là lần đầu tiên, vấn đề bảo tồn văn hoá được đưa vào một văn kiện chính
trị quan trọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chính phủ sẽ thúc đẩy bảo tồn
văn hoá bằng cách tạo ra cấu trúc các ngành công nghiệp, cách thức tăng
trưởng và phương thức tiêu dùng đặt cơ sở trên hiệu quả về năng lượng và tài
truyền bá các hoạt động nghệ thuật tuyền thống của mình ra khắp thế giới,
đầu tư nhiều tiền của cho nỗ lực đẩy mạnh các mối quan hệ trao đổi, hợp tác
quốc tế về văn hoá. Đó là thực hiện các triển lãm tài sản văn hoá Nhật Bản tại
nước ngoài, tổ chức các liên hoan mời các đoàn nghệ thuật dân gian từ các
nước đến biểu diễn cùng với các nhóm nhạc dân gian Nhật Bản. Qua đó,
những giá trị văn hoá truyền thống của Nhật Bản được truyền bá rộng rãi ra
khắp thế giới, trở thành tài sản chung của văn hoá nhân loại. Trong số các
25