LUẬN VĂN: Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH doc - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH


1.2. Trong xu thế giao lưu hội nhập và toàn cầu hoá hết sức sôi động hiện nay,
vấn đề bảo tồn và phát huy DSVH lại càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm gìn
giữ và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, để hội nhập mà không bị hoà tan.
DSVH nước ta giống như một kho báu của quá khứ cần phải được kế thừa một
cách khoa học, tích cực, có chọn lọc đúng đắn để tiến hành xây dựng và phát triển nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII” của Đảng đã khẳng định: “Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải
nhằm xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người
Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, xây dựng môi trường văn
hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội. Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo
đức và thẩm mỹ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc. Bảo tồn và tôn tạo các di
tích lịch sử, văn hoá danh thắng của đất nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường và
mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn
hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự
hào dân tộc. Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp cho nền văn
hoá Việt Nam”.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề
bảo tồn phát huy DSVH dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần
của xã hội: “Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng,
kháng chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hoá
nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc. Bảo tồn và phát
huy văn hoá, văn nghệ dân gian. Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy các di sản văn
hoá với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch”.
Xuất phát từ quan điểm đường lối của Đảng, việc thực hiện đề tài nghiên cứu
Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (qua thực tế một số
tỉnh đồng bằng Bắc Bộ)” là một hoạt động có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và ý nghĩa thời
sự cấp bách đối với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, đối với các vùng miền cả

(bao gồm các tỉnh Hà Tây (cũ), Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh).
Đề tài sẽ cố gắng làm nổi rõ những thành tựu, những mặt tồn tại trong các hoạt
động nêu trên, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, đồng thời đề ra
phương hướng và giải pháp hiệu quả nhất, nhằm bảo tồn và phát huy DSVH trong giai
đoạn tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH tại đồng bằng Bắc Bộ.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Vận dụng các quan điểm mác xít, quan điểm lý luận của Đảng và chính sách
của Nhà nước, những quan niệm của nhân loại tiến bộ về bảo tồn và phát huy DSVH,
kết hợp với những kết quả nghiên cứu tổng kết thực tiễn, đề tài thuyết minh sáng rõ về
mối quan hệ, vai trò của hoạt động bảo tồn, phát huy DSVH với quá trình đẩy mạnh
CNH, HĐH, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế và xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay.
- Khảo sát, điều tra, nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn, phát huy
các DSVH vật thể, DSVH phi vật thể tại một số tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ (chủ yếu
là ở Hà Nội, Hà Tây cũ, Hải Dương và Bắc Ninh) trên các mặt thành tựu, hạn chế, tìm
ra những nguyên nhân dẫn đến thực tiễn đó.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát
huy DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đóng góp
những tư liệu cần thiết để hoàn thiện thêm chính sách bảo tồn và phát huy DSVH dân
tộc phù hợp với những đòi hỏi từ thực tiễn của đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, trong
phạm vi cả nước nói chung.
- Qua nghiên cứu, đề tài bước đầu giới thiệu kinh nghiệm thành công của một
số quốc gia trên thế giới về lĩnh vực bảo tồn phát huy DSVH trong phát triển kinh tế
xã hội hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lý luận
- Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,

Bắc Bộ theo hai chiều lịch đại và đồng đại để tìm ra những nét đặc sắc.
* Phương pháp phân tích SWOT (Điểm mạnh - Điểm yếu - Thời cơ - Thách
thức: Stengths, Weaknesses, Opportunities, Threatts)
4. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nói tới văn hóa người ta thường đề cập ngay tới di sản văn hoá (Cultural
heritage). Diện mạo văn hoá dân tộc trước tiên dễ nhận ra chính là những tài sản văn
hoá đời trước để lại cho đời sau. Vẻ đẹp giá trị của DSVH giống như những lớp vàng
ròng trầm tích kết đọng thành đồng bằng châu thổ đôi bờ con sông văn hoá miệt mài
uốn lượn qua những bến bờ thời gian. Có lẽ vì thế mà khi nghiên cứu văn hoá, DSVH
là một lĩnh vực được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm tìm hiểu
trước tiên và khảo sát ở nhiều cấp độ khác nhau trên các phương diện lý thuyết cũng
như thực tiễn.
* Những thành tựu nghiên cứu lý luận về văn hoá và di sản văn hoá
Vào thời gian nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như UNESCO, UNDP đều nỗ
lực nghiên cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc biệt là về di sản văn hoá.
UNESCO chia di sản văn hoá thành hai loại: di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) và
di sản “văn hoá phi vật thể” (nonphysicalculture).
Trên thế giới nhiều học giả đã nghiên cứu khái niệm Di sản văn hoá (Cultural
heritage). Abraham Moles quan niệm DSVH như một “mã di truyền xã hội”, một thứ
“ký ức tập thể”. Feredico Mayor hình dung DSVH như một “hệ thống các giá trị”,
những nhân tố hình thành nên bản sắc văn hoá dân tộc.
Người Nhật quan niệm giá trị văn hoá như một thứ tài sản - “tài sản văn hoá”
(Cultural propeties) và họ chia di sản văn hoá thành hai loại: tài sản văn hoá “hữu
hình” và tài sản văn hoá “vô hình”. Các thuật ngữ vật thể, phi vật thể, vô hình, hữu
hình giờ đây được sử dụng rộng rãi trên thế giới khi nói về di sản văn hoá.
Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể: Hướng
đến Phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19 đến 23/10/2004,

ấn hành, Hà Nội năm 2006 đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận DSVH cũng
như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài. Trong đó tiêu biểu nhất là
các bài: Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hoá (Vũ Quốc Hiền),
Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững (Lê Thành Vinh); Di tích
lịch sử và văn hoá đồng bằng sông Hồng (Đặng văn Bài); Bảo tồn, tôn tạo và xây
dựng khu di tích lịch sử - văn hoá Đường Lâm (Phan Huy Lê).
Sách Giữ gìn, phát huy di sản văn hoá các dân tộc Tây Bắc do NXB Văn hoá
Dân tộc - Tạp chí Văn hoá nghệ thuật phát hành có thể giúp người đọc có thể nhận
diện một số vấn đề lý luận về DSVH.
Trên Tạp chí Cộng sản số 20, năm 2003, PGS, TS. Nguyễn Văn Huy đã có
nhiều cố gắng nghiên cứu Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá các
dân tộc hiện nay. Tác giả bài báo đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của
công tác bảo tồn phát huy DSVH trên phạm vi cả nước.
Cùng hướng nghiên cứu này, Ngô Phương Thảo viết bài Bảo vệ di sản, cuộc
chiến từ những góc nhìn đăng ở Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 289 tháng 07/2008.
Bài viết đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ DSVH hiện nay. Theo tác giả thì “Mỗi
ngày, di sản văn hoá càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất phát từ những hệ lụy của
cuộc sống hiện đại. Cũng mỗi ngày, ý thức về trách nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn
hoá đã tồn tại với thời gian càng lan toả sâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng
đồng để dẫn tới những chương trình dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn
giữ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể”.
* Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát huy di
sản văn hoá đồng bằng Bắc Bộ.
Gần đây xuất hiện một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như Vai
trò của văn hoá trong Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông thôn vùng đồng bằng
sông Hồng do PGS, TS Lê Quý Đức chủ biên (do NXB Văn hoá Thông tin - Viện Văn
hoá, Hà Nội xuất bản năm 2005). Đây là một công trình khảo sát khá sâu rộng công


một số bài viết nghiên cứu về DSVH nói chung, về thực trạng bảo tồn và phát huy
DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng.
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm tác giả đã tham khảo, kế thừa kết quả
của một số tài liệu khoa học là cơ sở gợi mở cho hướng nghiên cứu về bảo tồn và phát
huy DSVH đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm: Hồ Chí Minh toàn tập (1995 - 2000), Cơ sở lý
luận văn hoá Mác - Lê nin ; Văn kiện Hội nghị Trung ương V khoá VIII (BCH TW
khoá VIII); Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X; sách Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của Nguyễn Trung Quế;
Công trình Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt ở Đồng
bằng Bắc Bộ của Nguyễn Quang Lê; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng
đồng bằng sông Hồng thời kỳ 1996 - 2000 (Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Bộ Khoa học,
Công nghệ và Môi trường phát hành tháng 4/1996); Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng
sông Hồng - tiềm năng, thực trạng và một số kiến nghị, (Đề tài cấp Bộ, Hà Nội, Viện
nghiên cứu Văn hoá dân gian -1999); sách Địa lý các tỉnh, thành phố Việt Nam, Phần
I: Các tỉnh, thành phố đồng bằng sông Hồng (năm 2001); Đề tài khoa học Phát triển
làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá do TS Mai Thế
Hởn (chủ biên) GS,TS. Hoàng Ngọc Hoà, PGS,TS. Vũ văn Phúc (đồng chủ biên)
(2002); Sách Bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân văn hoá truyền thống Việt Nam
của Diêm Thị Đường; sách Hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của Đào
Thế Tuấn và Pascal Bergeret; Văn hoá Thăng Long - Hà Nội hội tụ và toả sáng của
GS,TS. Trần Văn Bính (chủ biên); Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn Việt Nam của Nguyễn Sinh Cúc - Lê Mạnh Hùng; Sách Cơ cấu tổ
chức làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ của tác giả Trần Từ; sách Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn các nước và Việt Nam của Nguyễn Điền (1997); Số
liệu thống kê về cơ sở hạ tầng của nông thôn Việt Nam, NXB Thống kê (2005) v.v
Nhận xét chung
- Phần lớn các công trình nghiên cứu và tư liệu trên đây đều trực tiếp hoặc gián
tiếp đề cập đến DSVH và thực trạng bảo tồn phát huy DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ
ở nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau.

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung, gợi mở, góp phần hoàn thiện
chính sách bảo tồn và phát huy DSVH trong cả nước nói chung, vùng đồng bằng
Bắc Bộ nói riêng.
- Đề tài bước đầu hệ thống hoá về DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ, đưa ra các
kiến nghị và giải pháp giúp cho các cơ quan chức năng làm tốt công tác bảo tồn và
phát huy DSVH kết hợp với đẩy mạnh phát triển kinh tế, thực hiện CNH, HĐH.
- Đề tài trở thành tài liệu tham khảo cho học viên hệ Cao cấp lý luận chính trị,
học viên Cao học và nghiên cứu sinh tại Viện Văn hoá và phát triển, Học viện Chính
trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
- S¶n phÈm cña ®ề tài xuất bản thành sách tham khảo nhằm giới thiệu, quảng
bá hình ảnh DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ.
NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DSVH
Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH

1.1. Lý luận chung về di sản văn hoá
1.1.1. Khái niệm “di sản văn hoá”
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [84, tr. 254]. Di sản văn
hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong
cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là
tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của
các ý nghĩa nói trên.
Khái niệm DSVH trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một quá trình
hình thành khá lâu dài. Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ này lại được hình
thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789. Quá trình tịch thu được
tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài

là sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ đã được lựa chọn theo nhu cầu của xã
hội hiện đại. Di sản là sự lựa chọn từ quá khứ lịch sử những ký ức, báu vật của cộng
đồng, thể hiện nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện đại. Do đó, sự ra đời
của Luật Di sản văn hóa năm 2001 cùng với các văn bản hướng dẫn đi kèm đã trở
thành cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm tăng cường nhận thức và hành động cho toàn xã
hội, tăng cường sự hiểu biết về di sản và quá trình bảo vệ, phát huy kho tàng di sản văn
hóa của dân tộc.
Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc phê chuẩn Công
ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO và là thành viên của
Ủy ban Liên Chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt động và các chính sách
quốc tế có liên quan đến Công ước này. Di sản văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa,
chuyển tải bản sắc văn hóa của một cộng đồng xã hội. DSVH Việt Nam là tài sản văn
hóa quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân
loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Như
vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ
gìn và làm phong phú cho kho tàng DSVH nhân loại.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ
trương đường lối và chính sách bảo vệ và phát huy giá trị DSVH nhằm nâng cao đời
sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. DSVH
Việt Nam khi được bảo tồn, kế thừa và phát huy sẽ có tác dụng tích cực trong xây
dựng và phát triển văn hóa Việt Nam đương đại, kết hợp với quá trình đẩy mạnh CNH,
HĐH, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.1.2. Phân loại di sản văn hoá
Phân loại (classification) sự vật và hiện tượng là một trong những cách nhận
thức và thâu tóm bản chất của sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội đa dạng phong
phú. Phân loại DSVH là một nhu cầu chính đáng trong nghiên cứu. Theo quan niệm

cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về
bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và
tính sáng tạo của con người” [17, tr.142].
Cũng giống như DSVH vật thể, các hiện tượng văn hóa phi vật thể cũng có thể
bị mai một, biến dạng, hoặc mất đi vĩnh viễn bởi thử thách của thời gian, bởi sự vô ý
thức của con người. Trong thực tế, người ta thường có xu hướng thêm bớt hoặc lãng
quên trong quá trình lưu giữ những giá trị phi vật thể. Cho nên, văn hóa phi vật thể vừa
có tính bền vững (trong ký ức của cộng đồng) lại vừa mang tính mong manh, dễ bị tổn
thương (phụ thuộc vào cuộc sống của một cá nhân - nghệ nhân với những may rủi bất
ngờ). Hơn nữa, văn hóa phi vật thể còn có nguy cơ biến dạng rất cao bởi tính dị bản
của nó do sự can thiệp của các nhóm xã hội qua các thời đại. Trên cơ sở đồng thuận
với quan niệm của UNESCO, Luật Di sản văn hoá của Việt Nam phân loại di sản văn
hóa như sau:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng,
truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói,
chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng
dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về
y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các
tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử,
văn hóa, khoa học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia ( ) Giá trị đặc biệt quý hiếm của bảo vật quốc gia được thể
hiện bằng các tiêu chí sau đây:
a) Hiện vật nguyên gốc, độc bản;
b) Hình thức độc đáo;
c) Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện:
- Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh

nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi.
- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài (tức
là có giá trị lâu dài, có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”) trước những biến đổi tất yếu về
đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH hiện nay với chính sách mở cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình
toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động.
Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”)
Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dang “tĩnh” là vận dụng thành quả khoa
học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như sự vốn có
về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng. Khi cần phục nguyên các di sản
văn hóa vật thể cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi
tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều; chụp ảnh; băng hình video; xác định
trong lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể. Sau khi tiến hành bảo tồn
nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để
không làm biến dạng di sản văn hóa vật thể.
Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm, thu thập
các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc
chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng
tiếng (audio), ảnh.v.v Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ
trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng.
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”)
Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa. Các
di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di
tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật
công nghệ hiện đại. Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn “động” trên cơ sở
kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng.
Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi

trước sự tác động mạnh mẽ của văn hoá phương Tây. Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn
Quốc là những nước có nhiều thành công trong việc giải quyết mối quan hệ này.
Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia có chung một hằng số cho lịch sử phát
triển văn hoá dân tộc. Đó là nền văn minh lúa nước. Trước thế kỷ XIX, cả hai nước
đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Trung Hoa, cùng với Triều Tiên là những
nước “đồng văn”. Trong lịch sử, khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, mỗi nước lại
chọn những giải pháp khác nhau, đưa đến cách ứng xử khác nhau đối với DSVH dân
tộc. Trong giai đoạn hiện nay, bối cảnh thế giới đã có nhiều thay đổi, văn hoá các dân
tộc có sự gần gũi hơn trong một định hướng chung cho sự phát triển. Do vậy, mô hình
bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc của Nhật Bản qua hơn một thế kỷ mở cửa với
phương Tây có nhiều bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo.
Khi tiến hành mở cửa với phương Tây, Nhật Bản vẫn là một quốc gia lạc hậu
hàng thế kỷ so với các nước đã công nghiệp hoá. Với điều kiện như vây, người Nhật
đã huy động mọi tiềm năng sức mạnh dân tộc để phát triển đất nước. Những giá trị văn
hoá truyền thống đã trở thành lực cố kết sức mạnh của toàn dân tộc cho mục tiêu hiện
đại hoá đất nước. DSVH đã được người Nhật quan niệm và đối xử như một tài sản đặc
biệt quan trọng - tài sản văn hoá. Ở thời kỳ đầu, những thành tựu của văn minh
phương Tây đã hấp dẫn người Nhật, khuynh hướng Tây hoá ồ ạt đã làm cho không ít
thành tựu văn hoá truyền thống bị mai một. Cũng trong giai đoạn này, Nhật Bản đã
phá huỷ nhiều công trình kiến trúc lịch sử và chùa chiền liên quan đến Phật giáo và
nghệ thuật truyền thống. Hiện tượng này chấm dứt khi đạo luật về bảo tồn di sản văn
hoá ra đời năm 1897. Kể từ đấy, các yếu tố bản địa được phục hồi với tất cả vẻ đẹp
độc đáo của nó trong một định hướng giá trị mới, biểu tượng cho tinh hoa dân tộc.

Đối
với Nhật Bản, quan niệm di sản văn hoá là tài sản văn hoá không chỉ dừng lại ở nhận
thức mà còn được cụ thể hoá trong những đạo luật, chính sách văn hoá, nổi bật nhất là

văn hoá thuộc tư nhân đối với các tài sản hữu hình. Nhà nước nắm giữ vai trò điều tiết
hoạt động bảo tồn và khai thác tài sản văn hoá trong tổng thể các hoạt động chung của
toàn xã hội. Do đó, các di sản văn hoá hữu hình được giữ gìn trong các dự án phát
triển. Việc đảm bảo giữ nguyên cảnh quan trong đó di sản văn hoá đuợc bảo vệ chỉ có
thể tiến hành một cách hiệu quả dưới sự quản lý của nhà nước với vốn kinh phí đầu tư
thích đáng, với sự hợp tác của các ngành, các tổ chức liên quan. Qua đó, các hoạt động
bảo tồn văn hoá được tiến hành dưới một hành lang pháp lý. Các di sản văn hoá ở Nhật
Bản được kiểm kê và bảo tồn hiệu quả, tránh được mọi mất mất, thất thoát và hư hại từ
phía thiên nhiên và con người.
Ở Việt Nam, trong quá trình CNH, HĐH, nhiều ngôi nhà cổ, công trình kiến
trúc, DSVH có nguy cơ bị thay thế bằng những ngôi nhà cao tầng, đường cao tốc chạy
dài hay những cây cầu trong các dự án phát triển. Bài toán đặt ra cho Việt Nam là
cần tìm ra được giải pháp thỏa đáng dung hòa giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh
tế, biến di sản văn hóa thành nguồn tài nguyên quí giá phục vụ cho công cuộc xây
dựng đất nước. Kinh nghiệm của Nhật Bản về vai trò chủ đạo của nhà nước trong công
tác bảo tồn và khai thác các DSVH là một bài học quý cho nước ta trong quá trình phát
triển hiện nay.
Một bài học kinh nghiệm nữa của Nhật Bản trong việc bảo tồn, khai thác các
DSVH là phải có một bộ máy hành chính có tính chuyên biệt và thống nhất cao, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc triển khai, chỉ đạo và giám định thi hành pháp luật. Cục
Văn hoá Nhật Bản là cơ quan duy nhất có chức năng pháp lý điều hành các hoạt động
bảo tồn và phát huy DSVH từ Trung ương đến địa phương. Cơ quan này có nhiệm vụ
phổ biến văn hoá, bảo tồn và sử dụng các tài sản văn hoá, cũng như thực hiện việc
quản lý nhà nước liên quan đến tôn giáo với sự cộng tác của các cơ quan chính phủ
hữu quan. Người đứng đầu Cục Văn hóa Nhật bản có quyền tiến hành hoặc đình chỉ
mọi hoạt động bảo tồn và khai thác DSVH trong trường hợp cần thiết, theo quy định
của pháp luật. Nếu chính quyền các địa phương các cấp muốn tiến hành hoạt động bảo

nhân) làm tăng mạnh mẽ nguồn kinh phí cho các hoạt động khai thác di sản văn hoá.
Các công ty tư nhân tăng lượng đầu tư cho lĩnh vực văn hoá để qua đó khuếch trương
danh tiếng và quảng cáo cho thương hiệu của họ. Nhà nước cũng khuyến khích tư
nhân tham gia đầu tư bằng việc áp dụng chính sách miễn giảm thuế cho các công ty
này. Cùng với việc hợp tác như trên, hoạt động khai thác văn hoá truyền thống còn
được mở rộng trên cơ sở hợp tác chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương, giữa nhân
dân và các cơ quan nhà nước. Tại các địa phương, văn phòng hỗ trợ văn hoá vùng của
chính phủ có chức năng phổ biến và đưa giá trị văn hoá thâm nhập vào cộng đồng
nhân dân nơi đây. Qua việc tổ chức các chương trình liên hoan văn hoá toàn quốc, lập
các bảo tàng, hiện đại hoá phương tiện thông tin đại chúng… các tài sản văn hoá tại
các địa phương được “tái sinh” trong sự khẳng định giá trị của mình ngay trong đời
sống hiện tại. Các hoạt động trên thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân, qua đó
giúp họ tiếp nhận một cách tích cực, chủ động đối với các giá trị văn hoá truyền thống.
Trong nhiều trường hợp, vai trò chủ thể tiến hành khai thác tài sản văn hoá
chuyển từ cơ quan nhà nước sang nhân dân. Sự hợp tác rộng rãi của các lực lượng toàn
xã hội trong hoạt động khai thác tài sản văn hoá đã làm tăng lên mạnh mẽ sức sống
của những giá trị truyền thống. Với các hình thức tồn tại khác nhau, được khai thác từ
những mối quan tâm khác nhau, vô số tài sản văn hoá từ truyền thống đã hoá thân vào
cuộc sống hiện tại, trở thành một bộ phận quan trọng và gần gũi với đời sống cộng
đồng.
Ở Trung Quốc, bên cạnh việc hoàn thiện pháp chế về bảo vệ các DSVH lịch sử,
thực hiện phân cấp bảo vệ văn vật, nhà nước yêu cầu các cấp chính quyền đưa việc bảo
vệ văn vật vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vào quy hoạch xây
dựng thành thị và nông thôn, vào ngân sách, vào cải cách thể chế; đồng thời cũng nhấn
mạnh nghĩa vụ bảo vệ của cộng đồng, huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia
công tác bảo vệ văn vật.
Trong quá trình đẩy mạnh hội nhập thế giới, Trung Quốc đặc biệt chú trọng

các giá trị văn hoá truyền thống của mình bằng cách tăng cường truyền bá các giá trị
văn hoá đó ra toàn thế giới, trở thành tài sản văn hoá chung của toàn nhân loại.
Trung Quốc chú trọng mở rộng ảnh hưởng văn hóa của mình ra các nước và khu
vực trên thế giới mà châu Phi là một ví dụ điển hình. Trung Quốc đã ký với các nước
châu Phi các hiệp định văn hóa và dự án văn hóa. Trung Quốc cũng tổ chức hoạt động
“Thực hành văn hóa Trung Quốc ở châu Phi”, cử nhiều đoàn nghệ thuật và nghệ nhân
biểu diễn lần lượt ở các nước châu Phi, những hoạt động này đã nâng cao sức hấp dẫn
về văn hóa của Trung Quốc ở châu Phi.
Chính sách trao đổi văn hoá của Nhật Bản tập trung chủ yếu vào đẩy mạnh văn
hoá Nhật Bản bằng những hoạt động quản lý mà tạo ảnh hưởng ra thế giới. Nhật Bản
gửi các nghệ sĩ của mình sang phương Tây để học hỏi trào lưu mới và tìm những
nguồn cảm hứng mới. Mục tiêu chính của việc trao đổi văn hoá của Nhật Bản là nâng
cao chất lượng (theo tiêu chuẩn quốc tế )của các hoạt động nghệ thuật Nhật Bản nhằm
đạt được sự thừa nhân trong cộng đồng quốc tế. Nhật Bản còn gửi các nghệ sĩ Kabuki
và kịch Noh ra nước ngoài học tập, giới thiệu võ thuật Nhật Bản ra nước ngoài. Nhật
Bản đã nỗ lực truyền bá các hoạt động nghệ thuật tuyền thống của mình ra khắp thế
giới, đầu tư nhiều tiền của cho nỗ lực đẩy mạnh các mối quan hệ trao đổi, hợp tác quốc
tế về văn hoá. Đó là thực hiện các triển lãm tài sản văn hoá Nhật Bản tại nước ngoài,
tổ chức các liên hoan mời các đoàn nghệ thuật dân gian từ các nước đến biểu diễn
cùng với các nhóm nhạc dân gian Nhật Bản. Qua đó, những giá trị văn hoá truyền
thống của Nhật Bản được truyền bá rộng rãi ra khắp thế giới, trở thành tài sản chung
của văn hoá nhân loại. Trong số các nước châu Á, Nhật Bản có lẽ là nước đã thành
công nhất trong việc “xuất khẩu” các hình ảnh văn hóa mang tính thương hiệu, mà mỗi
khi nú xut hin, lp tc khin ngi ta ngh ngay n nn vn húa Nht. ú l cỏc
biu tng mang tớnh truyn thng nh hoa Anh o, Tr o, cỏc mụn vừ thut Sumo,
Judo, Karate, Kendo
1.2. Quan im, ng li ca ng, chớnh sỏch ca Nh nc v bo tn v phỏt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status