LUẬN VĂN: Bảo tồn và phát huy di sản lễ hội để phát triển du lịch ở phú thọ hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Bảo tồn và phát huy di sản lễ hội
để phát triển du lịch ở phú thọ hiện nay

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần biểu hiện những giá trị tiêu
biểu của một cộng đồng, một dân tộc. ở nước ta, lễ hội được tổ chức bao gồm nhiều mặt
của đời sống xã hội như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, sự tích về các vị anh

thế mạnh dịch vụ, du lịch từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”. Tuy
nhiên, do biến đổi của lịch sử, nhiều lễ hội truyền thống trên đất Phú Thọ đã bị mai một,
nhiều lễ hội đã bị thất truyền, việc nghiên cứu phục dựng lễ hội truyền thống để phục vụ
cho du lịch ít được chú ý, các hoạt động du lịch chưa gắn kết chặt chẽ với lễ hội, chưa
phát huy được thế mạnh và giá trị của lễ hội đối với phát triển du lịch.
Vì vậy, cần có những nghiên cứu khoa học cho việc bảo tồn phát huy các giá trị
của lễ hội để phát triển du lịch một cách bền vững. Do đó chúng tôi chọn vấn đề này làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học văn hoá, với mong muốn đóng góp nhỏ về
phương diện lý luận và thực tiễn cho sự phát triển du lịch gắn với lễ hội truyền thống trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trước Cách mạng Tháng Tám, các công trình nghiên cứu về lễ hội gắn với phát
triển du lịch ít được chú ý. Một số học giả thời kỳ này đã đề cập đến lễ hội trong các công
trình nghiên cứu văn hoá như Phan Kế Bính với “Việt Nam phong tục”; Đào Duy Anh
với “Việt Nam văn hoá sử cương”; Nguyễn Văn Huyên với “Góp phần nghiên cứu văn
hoá Việt Nam”. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1954, do hoàn cảnh
chiến tranh nên hầu như lễ hội ít được nghiên cứu, sưu tầm. Từ năm 1954 đến năm 1975,
đất nước tạm thời chia cắt, các công trình nghiên cứu về lễ hội ở hai miền Nam – Bắc
cũng khác nhau. ở miền Nam có một số công trình như "Lễ tế xuân hay Đám rước thần
nông” (Nguyễn Bửu Kế), "Nhớ lại hội hè đình đám (Nguyễn Toại), "Mùa xuân với đời
sống tình cảm Việt Nam”, "Trẩy hội hành hương” (Nguyễn Đăng Thục), "Nếp cũ hội hè
đình đám quyển thượng” (Toan ánh). ở miền Bắc có các công trình "Một số tục cổ và trò
chơi Việt Nam trong tết nguyên đán và mùa xuân” (Nguyễn Đổng Chi), "Thời Đại Hùng
Vương” (Lê Văn Lan), "Hà Nội nghìn xưa” (Trần Quốc Vượng). Từ 1975 đến nay đã có

nhiều học giả quan tâm nghiên cứu sâu sắc về lễ hội như “Đất lề quê thói” (Nhất Thanh);
"lễ hội truyền thống và hiện đại" (Thu Linh - Đặng Văn Lung). “60 lễ hội truyền thống
Việt Nam" (Thạch Phương - Lê Trung Vũ); “lễ hội Việt Nam” (Lê Trung Vũ - Lê Hồng
Lý); "lễ hội cổ truyền" (Lê Trung Vũ chủ biên); "lễ hội truyền thống trong đời sống xã
hội hiện đại" (Đinh Gia Khánh - Lê Hữu Tầng chủ biên).

trong sự phát triển kinh tế- xã hội.
Lê Thị Tuyết Mai với “Du lịch lễ hội Việt Nam” (Trường Đại học Văn hoá Hà
Nội, 2006) đã giới thiệu những địa điểm du lịch nổi tiếng trên khắp đất nước và các lễ hội
truyền thống tiêu biểu của Việt Nam, trong đó tác giả cũng đề cập lễ hội Đền Hùng. Tuy
nhiên, công trình này chủ yếu chỉ thống kê giới thiệu khái quát chung và cách sử dụng
tiếng Anh chuyên ngành du lịch mà chưa đề cập sâu đến mối quan hệ giữa lễ hội và du
lịch.
Sở Văn hoá Thông tin Phú Thọ và Hội Văn nghệ dân gian với "Về miền lễ hội cội
nguồn dân tộc Việt Nam” (Xuất bản năm 2007). Các tác giả thống kê khá đầy đủ chi tiết
các lễ hội. Tuy nhiên tác giả chưa nghiên cứu chuyên sâu về những lễ hội có tiềm năng
phát triển du lịch và các giải pháp để phục dựng các lễ hội ấy, quy hoạch thành tuyến, tua
du lịch trên địa bàn tỉnh.
Ngoài ra còn nhiều bài viết nghiên cứu về lễ hội và du lịch như “Du lịch lễ hội
tiềm năng và hiện thực khả thi" (GS.TS Phan Đăng Nhật), “lễ hội dân gian và du lịch
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (PGS.TS Nguyễn Chí Bền), “Đa dạng hoá các hoạt
động di tích – lễ hội qua con đường du lịch" (Trần Nhoãn), “Cần có chính sách phát triển
du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn" (Cao Sỹ Kiêm), “Phát huy thế mạnh du lịch lễ
hội” (Võ Phi Hùng), “Du lịch văn hoá ở Việt Nam” (Thu Trang - Công Nghĩa), “Suy nghĩ
về bản sắc văn hoá dân tộc trong hoạt động du lịch” (Huỳnh Mỹ Đức), “lễ hội chọi Trâu
trong phát triển du lịch văn hoá Đồ Sơn" (Bùi Hoài Sơn), “Suy nghĩ về phát triển lễ hội
dân gian trở thành ngày hội văn hoá- du lịch ở địa phương" (Cao Đức Hải), “Khai thác
lễ hội du lịch ở Việt Nam" (Dương Văn Sáu), “Quan hệ du lịch - văn hoá và triển vọng
ngành du lịch Việt Nam" (Ngô Kim Anh), “Chính sách bảo tồn khai thác tài nguyên du
lịch lễ hội” (Nguyễn Phương Lan), "Tổ chức du lịch lễ hội và sự kiện ở Việt Nam"
(Nguyễn Quang Lân), “Chào năm du lịch trên đất Tổ Vua Hùng" (Thăng Long)…

Các công trình trên đã trình bày, đề cập đến lễ hội và du lịch với nhiều nội dung,
nhiều hướng nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về
lễ hội và sự phát triển du lịch ở tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, trong luận văn này tác giả kế thừa,
tiếp thu, đúc kết các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước để đánh giá nghiên

Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ về phát triển kinh tế, văn hoá.
- Về phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp và
phương pháp lôgíc và lịch sử; phương pháp liên ngành, phương pháp điền dã khảo sát,
nghiên cứu thực địa, điều tra xã hội học
6. Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của luận văn
6.1. ý nghĩa về mặt khoa học: Luận văn góp phần làm rõ mối quan hệ giữa lễ hội
và du lịch, sự tác động qua lại giữa chúng, vai trò của lễ hội đối với du lịch và vai trò của
du lịch đối với việc bảo tồn các lễ hội truyền thống ở tỉnh Phú Thọ hiện nay.
6.2. ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn góp phần đánh giá thực trạng của công tác bảo tồn và phát huy di sản
lễ hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm mục tiêu phát triển du lịch.
- Làm rõ hơn những giá trị của các di sản văn hoá lễ hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
để phát triển du lịch.
- Đề xuất các giải pháp về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá lễ hội để phát
triển du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
một cách bền vững.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3
chương, 7 tiết.

Chương 1
vai trò của di sản lễ hội đối với phát triển du lịch 1.1. Quan niệm về di sản văn hoá lễ hội và du lịch
1.1.1. Quan niệm di sản văn hoá
Di sản văn hoá là đề tài lớn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Những năm gần
đây, nhiều công trình đã nghiên cứu về di sản văn hoá với các góc độ khác nhau, cách
phân chia khác nhau phục vụ các mục đích nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các
công trình ghiên cứu có quan niệm tương đối thống nhất về di sản văn hoá, dù nó tồn tại

hoá để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hoá và thiên nhiên của một số
khu di sản.
Như vậy, UNESCO đã đề cao các giá trị của các di sản về phương diện lịch sử,
nghệ thuật hay khoa học hoặc thẩm mỹ, dân tộc học nhân chủng học. UNESCO cũng đề
cao vai trò của các quốc gia tham gia Công ước phải xác định và phân định những tài
nguyên thuộc loại di sản văn hoá hay di sản thiên nhiên để bảo vệ, bảo tồn và truyền lại
cho các thế hệ tương lai trên từng lãnh thổ của mình.
Tuy nhiên, việc phân định hoặc những quan niệm khác nhau về di sản văn hoá và
di sản thiên nhiên cũng có tính tương đối bởi bất cứ di sản văn hóa nào cũng không tránh
khỏi khung cảnh thiên nhiên mà nó tồn tại, chịu sự chi phối tác động của yếu tố thiên
nhiên. và ngược lại trong các di sản thiên nhiên lại ẩn chứa các yếu tố văn hoá, lịch sử và
các công trình, sự sáng tạo của con người. Con người và môi trường thiên nhiên là mối
quan hệ chặt chẽ không thể tách rời trong vũ trụ, do vậy tất cả những gì tự nhiên gắn bó
với con người trải qua quá trình tồn tại và phát triển trong lịch sử đều có thể coi là di sản
văn hoá.
Luật Di sản văn hoá được Quốc hội thông qua năm 2001 đã khẳng định: "Di sản
văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ
phận của di sản văn hoá nhân loại có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước của nhân dân ta.” Điều 1 của Luật Di sản văn hoá quan niệm rằng: “di sản văn hoá
bao gồm di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị

lịch sử văn hoá khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [60, tr.12].
Luật Di sản văn hoá thống nhất di sản văn hoá tồn tại dưới 2 dạng: Di sản văn hoá
vật thể và di sản văn hoá phi vật thể. Chương 1, Điều 4 của Luật Di sản văn hoá đã nêu
rõ:
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử văn
hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết được lưu truyền bằng miệng,
truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng
nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học ngữ văn truyền miệng,

ánh tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, các giá trị thẩm mỹ và ý nghĩa của nó qua các
mảng trang trí, những lễ hội, quy tắc về tập tục sinh hoạt đình làng lại là cái hồn, cái
bản chất gắn kết không thể tách rời khỏi cái đình làng vật thể. Bởi vậy, nghiên cứu di
sản văn hoá cần phải đặt di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể trong mối
quan hệ tương tác không thể tách rời, như vậy mới hiểu rõ được giá trị vật chất và giá
trị tinh thần của di sản văn hoá đối với đời sống xã hội.
1.1.2. Quan niệm về lễ hội
Lễ hội theo học giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hoá sử cương thì gọi là đại
hội (vào đám hay vào hội) [2, tr.255]. Về sau nhiều học giả đã thay thuật ngữ này bằng
các thuật ngữ tương đương. Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu qua tên sách, tên
bài viết đã có nhiều cách gọi khác nhau: Toan ánh trong cuốn "Nếp cũ hội hè đình đám”thì
quan niệm rằng hội hè đình đám là những cuộc tổ chức hội họp tại các thôn xã nhân dịp vào
đám và trong dịp vào đám này có nhiều trò mua vui cho dân thôn giải trí [5, tr.9].
Cách quan niệm trên đã nhấn mạnh ý nghĩa tích cực của các hoạt động vui chơi
sinh hoạt tập thể có ý nghĩa giải trí, các yếu tố thuộc về nghi thức mang tính tâm linh tín
ngưỡng thì chưa được đề cập sâu.
Các nhà nghiên cứu khác như Lê Hồng Lý, Nguyễn Khắc Xương, Đinh Gia Khánh
thì coi đó là hội lễ, coi danh từ hội lễ như một thuật ngữ văn hoá. ý nghĩa của thuật ngữ
này được xác định trên cơ sở ý nghĩa của hai thành tố hội và lễ. Hội là sự tập hợp đông
người trong một sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Lễ là các tín ngưỡng (các niềm tin thiêng
liêng) và các nghi thức đặc thù gắn với các tín ngưỡng ấy trong sinh hoạt văn hoá cộng
đồng [41, tr.7].

Tác giả Lê Trung Vũ trong các bài viết trên Tạp chí văn hoá dân gian (giai đoạn
1983 đến 1986) thường gọi là "Hội làng”, "Hội lễ”, "Hội - Lễ” còn các trường hợp khác
ông thường gọi là "Lễ hội”.
Như vậy, lễ hội có thể có nhiều cách gọi khác nhau nhưng cơ bản thống nhất và
tập trung ở từ "lễ hội”. Xét về mặt nghĩa của từ nó bao gồm hai thành tố "lễ “và "hội”.
Theo Hán việt từ điển của Đào Duy Anh thì Lễ bao gồm các nghĩa sau:
- Cách bày tỏ kính ý

khích, hoan hỷ của công chứng dự lễ ”[12, tr.132].
Việc phân tích các quan niệm về lễ hội ở trên dựa vào cấu trúc lễ hội, theo đó lễ
hội bao gồm phần lễ và phần hội tuy nhiên cách phân chia này cũng chỉ mang tính tương
đối. Lễ hội là một hiện tượng văn hoá xã hội tổng thể, do vậy nếu phân chia lễ và hội một
cách máy móc, cơ học thì sẽ dẫn đến không thể hiểu được bản chất của lễ hội thậm chí
hiểu sai, lệch lạc về lễ hội.
Như vậy, lễ trong lễ hội cần phải được hiểu là nghi thức, cách thức tiến hành
những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỷ niệm một sự kiện,
nhân vật nào đó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh, ước nguyện về sự kiện, nhân vật đó với
mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng
siêu hình mà người ta thờ cúng. Đó là những sinh hoạt tinh thần của các cá nhân hay tập
thể, là sinh hoạt cả cộng đồng người trong đời sống tín ngưỡng tâm linh, đồng thời cũng
là cách ứng xử của các tầng lớp nhân dân dành cho thần, hướng về thần trong mối quan
hệ "Người - Thần” vốn luôn tồn tại trong tâm thức và hành động của con người. Từ
những phân tích trên nhằm hiểu đúng bản chất của "lễ", tránh cách hiểu chưa đúng hoặc
những quan niệm thông tục coi lễ chỉ là lễ bái, lễ vật, lễ lạt…
Xét về mặt cấu trúc và cội nguồn thì lễ và hội luôn gắn kết chặt chẽ với nhau,
không có lễ thì không có hội và hội ở đây cũng mang tính nghi lễ chứ không phải hội chỉ
là “đám vui chơi đông người’’. Trên thực tế có một số đám vui đông người nhưng không
thành lễ hội như đám cưới, đám khao chẳng hạn. Trong thực tế cũng có một ít nghi lễ
chưa có phần hội (tức phần sinh hoạt văn hoá kèm theo như một số nghi lễ liên quan tới
sản xuất nông nghiệp ở các tộc người thiểu số vùng núi hay một số nghi lễ trong phạm vi
gia đình người Việt), tuy nhiên chỉ là số rất ít, còn hầu hết các lễ hội dân gian (lễ hội
truyền thống) đều có phần lễ và phần hội. Nhìn một cách tổng thể thì lễ hội thuộc phạm

trù cái thiêng của thế giới thiêng liêng. Ngôn ngữ lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên
trên đời sống hiện hữu thường nhật. Vì vậy, phần hội luôn luôn gắn với phần lễ, là bộ
phận phái sinh của phần lễ, nó gắn với cái thiêng với vị thần, nhân vật mà con người thờ
phụng. Các sinh hoạt vui chơi, giải trí, trò diễn trong lễ hội như đua thuyền, các trò diễn
mang tính phồn thực… thì nó vẫn mang tính nghi lễ phong tục chứ không phải là trò

hội truyền thống, hay lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian. Cụm từ truyền thống hay cổ
truyền đều là từ Hán việt. Theo cuốn Hán việt từ điển của Thiều Chửu thì:
Cổ là ngày xưa, cũ
Truyền là đem của người này trao cho người kia, trao cho
Thống là mối tơ, đầu gốc, đời đời nối dõi không dứt gọi là thống [14].
Như vậy trong tiếng việt cổ truyền và truyền thống là 2 từ gần nghĩa nhau nhưng
không hoàn toàn trùng khít nhau. Từ cổ truyền có nghĩa trao lại cái cũ của người xưa, nó
dường như có tính bất biến bảo thủ. Từ truyền thống có ý nghĩa cởi mở hơn biện chứng hơn,
một mặt truyền lại những cái gì gọi là dường mối, đầu gốc, một mặt nó có sự thích nghi
sáng tạo để phù hợp với thực tại.
Hơn nữa lễ hội lại là hiện tượng tổng thể, đồng thời nó tích hợp các hiện tượng
văn hoá phái sinh trong quá trình lịch sử để tạo nên một tổng thể lễ hội. Nó vừa có phần
gốc rễ làm chủ đạo (phần lễ) vừa có phần phái sinh tích hợp (phần hội). Trong quá trình
truyền lại, lễ hội vẫn giữ được cái dường mối, căn cốt của lễ hội. Do vậy, đối với hiện
tượng lễ hội, một hiện tượng văn hoá luôn biến đổi vận động thì dùng cụm từ lễ hội
truyền thống sẽ phù hợp hơn lễ hội cổ truyền, mang ý nghĩa biện chứng hơn cụm từ lễ hội
cổ truyền. Từ sự phân tích và cách hiểu trên, trong luận văn này chúng tôi thống nhất
dùng cụm từ lễ hội truyền thống.
1.1.3. Quan niệm về du lịch
Du lịch là hoạt động đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử tồn tại và phát triển của
loài người. Lúc đầu có thể là hiện tượng cá biệt, riêng lẻ, về sau trở thành một hiện tượng
xã hội phổ biến và trở thành nhu cầu tất yếu, trở thành hiện tượng tồn tại khách quan của
loài người; do các nhu cầu thẩm nhận về vật chất như: Các cảnh quan, chỗ ở, món ăn,
thức uống, trò chơi khác lạ và nhu cầu thẩm nhận về tinh thần như tìm hiểu văn hoá, lịch
sử, văn học, nghệ thuật, phong tục tập quán lễ hội

Những năm gần đây du lịch phát triển mạnh mẽ bởi nó giúp cho con người cân bằng
cuộc sống của mình trong xã hội và trước thiên nhiên. Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch
ngày nay cũng là một tất yếu khách quan cùng với sự phát triển kinh tế và xu thế hội nhập
quốc tế của tất cả các quốc gia trên thế giới.

Nhà nghiên cứu Trần Nhạn đã đưa ra một khái niệm khá toàn diện tổng thể, thể
hiện được bản chất của du lịch: “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi
quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là thẩm nhận được những giá trị vật
chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác lạ với quê hương không nhằm mục đích sinh lợi
được tính bằng đồng tiền" [54, tr.30].
Cách quan niệm trên khá toàn diện về du lịch, vừa đề cập đến khách du lịch vừa đề
cập đến các dịch vụ du lịch để đáp ứng nhu cầu vật chất tinh thần của khách du lịch nhằm
thoả mãn mục đích của du khách, đó là các giá trị văn hoá tinh thần đặc sắc mà khách du
lịch thu nhận được trong qúa trình du lịch.
Khái niệm du lịch trong Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội thông qua năm
2005 cũng xuất phát từ quan điểm trên.
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư
trú thường xuyên nhằm thoả mãn đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một thời gian nhất định” [61, tr.9].
Như vậy, khái niệm du lịch của Luật Du lịch Việt Nam đã đề cập đến tổng hợp các
hiện tượng, các hoạt động các mối quan hệ của con người trong hoạt động du lịch. Hoạt
động du lịch là tổng thể các hoạt động của khách du lịch, hoạt động của các tổ chức, cá
nhân kinh doanh du lịch (các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch, các
Công ty Lữ hành…) hoạt động của các cộng đồng dân cư, hoạt động của các cơ quan tổ
chức cá nhân liên quan đến du lịch.
Cách quan niệm về du lịch như vậy đã bao quát các yếu tố liên quan đến nhu cầu
con người trong hoạt động du lịch. Nó tác động trực tiếp đến hệ thống các thiết chế văn
hóa có liên quan để đáp ứng các nhu cầu du lịch của con người như hệ thống các di tích
lịch sử văn hoá, hệ thống công viên, vườn bách thảo, hệ thống viện bảo tàng văn hoá, bảo
tàng lịch sử, các phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, các khu nghỉ dưỡng, môi trường

sinh thái, các công trình kiến trúc độc đáo… để đáp ứng các nhu cầu tham quan, giải trí
nghỉ dưỡng, tìm hiểu khám phá văn hóa của con người.
Như vậy, căn cứ vào mục đích, nhu cầu của từng chuyến du lịch, có thể chia ra
nhiều loại hình du lịch khác nhau:

hoá kể cả các tài nguyên du lịch tự nhiên như địa chất, địa hình, hệ sinh thái cảnh quan
thiên nhiên cũng chứa đựng các yếu tố văn hoá. Hơn nữa trong hoạt động du lịch, con
người cũng có thể nhằm thoả mãn nhu cầu trong từng chuyến du lịch, có thể vừa tìm hiểu
truyền thống văn hoá, vừa kết hợp nghỉ dưỡng, giải trí vừa hoạt động thể thao…
1.1.4. Đặc điểm của du lịch lễ hội văn hoá
Như việc phân tích ở trên, du lịch lễ hội văn hoá thuộc loại hình du lịch văn hoá. Du
lịch lễ hội văn hoá là hoạt động mà khách du lịch muốn thoả mãn nhu cầu tìm hiểu truyền
thống văn hoá, phong tục tập quán, lịch sử, tín ngưỡng dân gian… thông qua việc tham dự,
chứng kiến các hoạt động của lễ hội.
Khác với các loại hình du lịch thiên nhiên, du lịch thể thao, du lịch giải trí… Du
lịch lễ hội văn hoá có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Du lịch lễ hội văn hoá luôn gắn với thời gian mở hội nên thường diễn ra theo
mùa vụ. Các lễ hội ở Việt Nam chủ yếu được tổ chức vào mùa xuân, một số ít lễ hội tổ
chức vào mùa thu. Do vậy, yếu tố mùa vụ của lễ hội sẽ chi phối lớn đến các thiết chế
phục vụ hoạt động du lịch lễ hội như hệ thống tài nguyên du lịch, quy hoạch tuyến du lịch
điểm du lịch, các hoạt động dịch vụ, các cơ sở lưu trú, các chương trình du lịch… cũng
phải tuân theo các yếu tố mùa vụ. Các loại hình du lịch khác như du lịch thể thao, du lịch
giải trí ít bị chi phối bởi yếu tố mùa vụ. Do vậy việc chuẩn bị các yếu tố phục vụ các hoạt
động du lịch lễ hội phải có sự sắp xếp khá chu đáo và khoa học. Nếu không có sự chuẩn
bị trước (từ cơ sở vật chất, các dịch vụ, công tác tổ chức lễ hội)… sẽ dẫn đến không đáp
ứng nhu cầu du khách hoặc sẽ xảy ra tình trạng quá tải do lượng du khách tăng đột biến
so với những ngày thường.
- Du lịch lễ hội thường gắn với không gian, thời gian và địa điểm nhất định. Chẳng
hạn lễ hội Đền Hùng chỉ diễn ra một lần vào dịp 10/3 hàng năm tại tỉnh Phú Thọ; lễ hội
Trò Trám chỉ diễn ra 1 lần vào dịp 11 - 12 tháng giêng hàng năm tại xã Tứ Xã, huyện
Lâm Thao; lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn chỉ diễn ra 1 lần vào dịp 9/8 hàng năm tại Thị xã Đồ

Sơn, Hải Phòng… Do vậy việc tổ chức các hoạt động du lịch lễ hội phải nắm chắc thời
gian, địa điểm và các hoạt động văn hoá đặc trưng các nội dung chính của lễ hội để khai
thác đúng hướng và hiệu quả. Chẳng hạn muốn tìm hiểu lịch sử thời Hùng Vương dựng

đuổi giặc phương Bắc sau hơn 1000 năm Bắc thuộc và chiến thắng 2 đế quốc lớn.
- Du lịch lễ hội là một hoạt động văn hoá sâu sắc vừa có ý nghĩa lịch sử vừa mang
giá trị nghệ thuật độc đáo.
Bản chất của du lịch là văn hóa, một điều chắc chắn rằng không ai đi du lịch đến
một nơi khác để trải nghiệm những thứ giống như nơi mình đang sinh sống. Do vậy bản
sắc văn hoá của từng vùng, từng địa phương, tộc người là một khía cạnh cần được khai
thác, nghiên cứu trong phát triển du lịch.
Sự phong phú và sâu sắc về văn hoá của hoạt động du lịch và lễ hội thể hiện ngay
trong đặc điểm là nội dung, hình thức và tổ chức của hội.
Xét về đề tài thì lễ hội vô cùng phong phú với quá nhiều loại hình lễ hội khác
nhau: Loại hình lễ hội nông nghiệp như lễ hội xuống đồng, lễ hội cầu mùa, lễ trình nghề,
trò tứ dân…; Loại hình lễ hội phồn thực, giao duyên như “cầu tằm”, "cướp kén”, "tiệc
cầu đinh”… loại hình lễ hội văn nghệ giải trí như Hội Lim (Hát quan họ Bắc Ninh); Hát
Xoan (Phú Thọ); Hát Đúm (Hải Phòng); Loại hình lễ hội thi tài như phóng lao, đấu vật,
đánh phết (Hội Phết Hiền Quan - Phú Thọ), cướp cầu, bơi chải… ; Loại hình lễ hội lịch
sử như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Hai Bà Trưng, lễ hội về những người anh hùng Ngoài ra
còn có các loại hình lễ hội về tôn giáo…
Nội dung của lễ hội là sự phản ánh hiện thực cuộc sống (nếp nghĩ, nếp sống,
nguyện vọng…) của nhân dân. Cho nên có bao nhiêu lĩnh vực của đời sống thì cũng có
bấy nhiêu mảng đề tài lễ hội. Đây là một đặc điểm rất cơ bản của du lịch lễ hội. Sự phong
phú về đề tài là một môi trường thuận lợi để du lịch phát triển đáp ứng nhu cầu tinh thần
phong phú và đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân.
Lễ hội là sản phẩm của lịch sử, với chức năng phản ánh thì lễ hội phản ánh lịch sử
bằng hình ảnh, sự kiện mang tính nghệ thuật hoá, biểu tượng hoá. Điển hình là lễ hội Đền
Hùng và các lễ hội có đề tài lịch sử với các nghi lễ tôn thờ các vị anh hùng dựng nước
(riêng vùng đất Phú Thọ, Vĩnh Phúc đã có 700 nơi thờ tự các Vua Hùng và tướng lĩnh thời
Vua Hùng dựng nước). Các lễ hội vùng này thường diễn lại các chiến công của người anh
hùng theo truyền thuyết.

Về mặt hình thức thì các lễ hội truyền thống đều được xây dựng mang tính tượng

độc đáo của du lịch, là nguyên liệu gốc của du lịch. Các hệ thống kiến trúc của Đình,
Đền, Chùa, các di tích lịch sử gắn với những sự kiện, những nhân vật thờ tự là phần vật
thể. Còn lễ hội tại các di tích ấy mới là phần hồn, phần phi vật thể chứa đựng giá trị văn
hoá lịch sử. Chẳng hạn lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích lịch sử tại Đền Hùng, lễ hội
Đền Trần và các di tích Đền Trần đang là điểm du lịch hấp dẫn thu hút đông đảo du
khách hàng năm.
Do vậy để phát triển tốt du lịch lễ hội thì bên cạnh việc bảo tồn các giá trị văn hoá
lễ hội truyền thống cũng cần bảo tồn các di tích đảm bảo tính nguyên bản của nó để phát
triển du lịch.
1.2. Giá trị của lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện nay
Lễ hội truyền thống là một loại hình sinh hoạt văn hoá tinh thần đặc biệt mang tính
tập thể cộng đồng, lễ hội truyền thống chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống
kinh tế - văn hoá - xã hội. Nó là sản phẩm tinh thần, là di sản văn hoá phi vật thể có giá
trị to lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân. Lễ hội truyền thống trong đời sống xã
hội hiện nay có thể khái quát thành năm giá trị cơ bản: Giá trị cố kết cộng đồng dân tộc,
giá trị giáo dục, giá trị tâm linh, giá trị bảo tồn nền văn hoá dân tộc, giá trị kinh tế.
1.2.1. Giá trị cố kết cộng đồng dân tộc
Lễ hội là một hoạt động tập thể mang tính cộng đồng, lễ hội của người Việt ở
đồng bằng Bắc bộ thường được gọi là hội làng. Hội làng là đặc trưng nổi bật nhất của
đồng bào các dân tộc nước ta. Làng, bản là một kết cấu tổ chức xã hội có tính cộng đồng
cao, biểu hiện ở cộng đồng dân cư, cương vực kinh tế - văn hoá - xã hội. Dân cư của làng
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau từ rất lâu đời, có khi là quan hệ dòng tộc, có khi là
quan hệ láng giềng "Tối lửa tắt đèn có nhau”, "Bán anh em xa mua láng giềng gần” và
như vậy lễ hội là một hoạt động tinh thần gắn kết họ lại với nhau để cùng chung một
niềm tin cùng hướng về tổ tông dòng tộc, cùng chung một thần linh, thành hoàng…
Tính cố kết cộng đồng ấy thể hiện qua sự cộng mệnh và cộng cảm. Cộng mệnh là
sự gắn bó giữa con người trong cộng đồng thông qua vận mệnh của cộng đồng, thể hiện ở
việc cả làng cùng suy tôn, cùng tôn thờ một sức mạnh siêu nhiên bảo vệ cho sự tồn vong
của cả cộng đồng. Đó là Đức quốc Tổ Hùng Vương trong lễ hội Đền Hùng, Quốc mẫu


Lễ hội truyền thống còn là kết quả quá trình sân khấu hoá đời sống xã hội, là sự
mô phỏng, tái hiện lại hình ảnh của các nhân vật của sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá
khứ dưới hình thức diễn xướng dân gian, các trò diễn dân gian. Điển hình như lễ hội
"Rước Chúa Gái” ở Lâm Thao, Phú Thọ là quá trình tái hiện truyền thuyết lễ thời Hùng
Vương về tích truyện Sơn Tinh đón Ngọc Hoa công chúa đưa về núi Tản Viên và phản
ánh cả các phong tục tập quán sinh hoạt thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Vì vậy có thể
nói lễ hội truyền thống là một “bảo tàng lịch sử sống” một “kho báu sống” về lịch sử dân
tộc.
Giá trị giáo dục của lễ hội cũng được thể hiện trong tính hướng về cội nguồn "Tất
cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn cội. Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người
vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ, nguồn cội cộng đồng, như dân tộc,
đất nước xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá… Hơn thế nữa hướng về nguồn đã trở
thành tâm thức của con người Việt Nam”.[73, tr.343] "uống nước nhớ nguồn”, "ăn quả
nhớ kẻ trồng cây”, "chim có tổ người có tông, như cây có cội như sông có nguồn” Điều
đó giúp nhắc nhở mọi người trong cộng đồng những bài học về đạo lý của ông cha về
lịch sử của làng, lịch sử của dân tộc và truyền thống ông cha…
Lễ hội truyền thống là hoạt động văn hoá tinh thần thể hiện tình cảm con người
với tổ tiên, thần thánh để cầu mong mọi lực lượng siêu nhiên che chở phù hộ cho con
người. Cũng từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giúp con người không bao giờ quên cội
nguồn, con người đến với lễ hội là đến với lòng thành kính tổ tiên và các bậc tiền nhân,
nhắc nhở mọi người nhớ đến bổn phận và trách nhiệm của mình với ông bà, tổ tiên, dòng
tộc… Do vậy lễ hội truyền thống có giá trị lớn trong việc giáo dục đạo đức giáo dục
truyền thống lịch sử của làng bản quê hương đất nước đối với mọi thành viên tham gia lễ
hội.
1.2.3. Giá trị văn hoá tâm linh
Con người luôn có nhu cầu lớn về đời sống vật chất và tinh thần. Bên cạnh cuộc
sống vật chất, cuộc sống hiện thực thì các yếu tố thuộc về lĩnh vực tinh thần là nhu cầu
không thể thiếu, nó giúp con người cân bằng trong đời sống thực tại. Trong cuộc sống thế
tục, con người đôi khi bất lực trước sức mạnh tự nhiên, có lúc họ bế tắc trong sự giải
thoát và phải tìm đến nguồn sức mạnh tinh thần, tìm đến sự che chở phù hộ của tổ tiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status