LUẬN VĂN:
Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, để hội nhập mà không bị hoà tan.
DSVH nước ta giống như một kho báu của quá khứ cần phải được kế thừa một cách
khoa học, tích cực, có chọn lọc đúng đắn để tiến hành xây dựng và phát triển nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII” của Đảng đã khẳng định: “Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải nhằm xây dựng
nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng,
đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát
triển xã hội. Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn
hoá, nghệ thuật của dân tộc. Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá danh thắng
của đất nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc
biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền
thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc
trên thế giới, làm giàu đẹp cho nền văn hoá Việt Nam”.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo
tồn phát huy DSVH dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần của xã
hội: “Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến,
các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hoá nghệ thuật, ngôn
ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc. Bảo tồn và phát huy văn hoá, văn
nghệ dân gian. Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hoá với các hoạt
động phát triển kinh tế du lịch”.
Xuất phát từ quan điểm đường lối của Đảng, việc thực hiện đề tài nghiên cứu Bảo
tồn và phát huy di sản văn hoá thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (qua thực tế một số tỉnh đồng
bằng Bắc Bộ)” là một hoạt động có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và ý nghĩa thời sự cấp bách
đối với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, đối với các vùng miền cả nước nói chung.
1.3. DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ có vị trí trọng yếu trong toàn bộ không gian
DSVH phía Bắc nước ta - một vùng văn hoá lâu đời, tiêu biểu cho văn hoá dân tộc Việt
Nam từ ngàn xưa, bao gồm nhiều tiểu vùng văn hoá mở rộng theo đồng bằng Bắc Bộ, trải
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Vận dụng các quan điểm mác xít, quan điểm lý luận của Đảng và chính sách của
Nhà nước, những quan niệm của nhân loại tiến bộ về bảo tồn và phát huy DSVH, kết hợp
với những kết quả nghiên cứu tổng kết thực tiễn, đề tài thuyết minh sáng rõ về mối quan
hệ, vai trò của hoạt động bảo tồn, phát huy DSVH với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH,
hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc ở vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay.
- Khảo sát, điều tra, nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn, phát huy các
DSVH vật thể, DSVH phi vật thể tại một số tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ (chủ yếu là ở Hà
Nội, Hà Tây cũ, Hải Dương và Bắc Ninh) trên các mặt thành tựu, hạn chế, tìm ra những
nguyên nhân dẫn đến thực tiễn đó.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy
DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đóng góp những tư
liệu cần thiết để hoàn thiện thêm chính sách bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc phù hợp
với những đòi hỏi từ thực tiễn của đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, trong phạm vi cả nước nói
chung.
- Qua nghiên cứu, đề tài bước đầu giới thiệu kinh nghiệm thành công của một số
quốc gia trên thế giới về lĩnh vực bảo tồn phát huy DSVH trong phát triển kinh tế xã hội
hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lý luận
- Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hoá, đề tài tiếp cận một cách có hệ
thống những tiền đề lý luận về DSVH, về bảo tồn di sản văn hoá và phát huy DSVH.
- Theo đó, đề tài nghiên cứu, vận dụng hợp lý những thành tựu về lý luận DSVH
của thế giới đương đại vào thực tiễn nghiên cứu như:
+ Quan niệm của UNESCO về văn hoá và DSVH, về kế thừa, bảo tồn và phát huy
bờ thời gian. Có lẽ vì thế mà khi nghiên cứu văn hoá, DSVH là một lĩnh vực được giới
nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm tìm hiểu trước tiên và khảo sát ở nhiều
cấp độ khác nhau trên các phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn.
* Những thành tựu nghiên cứu lý luận về văn hoá và di sản văn hoá
Vào thời gian nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như UNESCO, UNDP đều nỗ lực
nghiên cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc biệt là về di sản văn hoá. UNESCO
chia di sản văn hoá thành hai loại: di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) và di sản “văn hoá
phi vật thể” (nonphysicalculture).
Trên thế giới nhiều học giả đã nghiên cứu khái niệm Di sản văn hoá (Cultural
heritage). Abraham Moles quan niệm DSVH như một “mã di truyền xã hội”, một thứ “ký
ức tập thể”. Feredico Mayor hình dung DSVH như một “hệ thống các giá trị”, những nhân
tố hình thành nên bản sắc văn hoá dân tộc.
Người Nhật quan niệm giá trị văn hoá như một thứ tài sản - “tài sản văn hoá”
(Cultural propeties) và họ chia di sản văn hoá thành hai loại: tài sản văn hoá “hữu hình” và
tài sản văn hoá “vô hình”. Các thuật ngữ vật thể, phi vật thể, vô hình, hữu hình giờ đây
được sử dụng rộng rãi trên thế giới khi nói về di sản văn hoá.
Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể: Hướng đến
Phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19 đến 23/10/2004, Tuyên
bố Yamato về Phương pháp tiếp cận tổng thể trong bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi
vật thể đã được thông qua. Với bản Tuyên bố này, các quan niệm về DSVH đã được nhân
loại định nghĩa cụ thể trên phương diện lý luận theo Công ước và Quy chế của UNESCO.
Đây là những quan niệm cụ thể nhằm giúp nhận diện một cách đúng đắn khoa học về
DSVH vật thể và phi vật thể trên thế giới.
Ở nước ta, nghiên cứu về DSVH trước tiên phải kể đến công trình Việt Nam Văn
hoá sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan điểm : “Ta muốn trở thành
một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hoá cũ (di sản) làm thể
(gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hoà tinh tuý của văn
gắng nghiên cứu Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá các dân tộc hiện
nay. Tác giả bài báo đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát
huy DSVH trên phạm vi cả nước.
Cùng hướng nghiên cứu này, Ngô Phương Thảo viết bài Bảo vệ di sản, cuộc chiến
từ những góc nhìn đăng ở Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 289 tháng 07/2008. Bài viết đã
đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ DSVH hiện nay. Theo tác giả thì “Mỗi ngày, di sản văn
hoá càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất phát từ những hệ lụy của cuộc sống hiện đại.
Cũng mỗi ngày, ý thức về trách nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn hoá đã tồn tại với thời
gian càng lan toả sâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng để dẫn tới những
chương trình dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hoá vật thể
và phi vật thể”.
* Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát huy di sản
văn hoá đồng bằng Bắc Bộ.
Gần đây xuất hiện một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như Vai trò
của văn hoá trong Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng
do PGS, TS Lê Quý Đức chủ biên (do NXB Văn hoá Thông tin - Viện Văn hoá, Hà Nội
xuất bản năm 2005). Đây là một công trình khảo sát khá sâu rộng công phu về văn hoá
nông thôn đồng bằng sông Hồng, trong đó đề cập đến lĩnh vực DSVH trong thời kỳ CNH,
HĐH. Võ Quang Trọng nghiên cứu về Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật
thể của Thăng Long Hà Nội (Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Viện nghiên cứu Văn hoá -
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
Tìm về Di sản văn hoá dân gian trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam (NXB
Thuận Hoá, Huế, 1996), tác giả Chu Quang Trứ đề cập đến di sản văn hoá vùng đồng bằng
Bắc Bộ trong bối cảnh chung của DSVH dân tộc.
Qua công trình Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng
(NXB Khoa học xã hội, Hà Nội - sách do Tô Duy Hợp chủ biên năm 2000), người đọc có
thể tìm thấy phần nào diện mạo DSVH đồng bằng Bắc Bộ.
một số kiến nghị, (Đề tài cấp Bộ, Hà Nội, Viện nghiên cứu Văn hoá dân gian -1999); sách
Địa lý các tỉnh, thành phố Việt Nam, Phần I: Các tỉnh, thành phố đồng bằng sông Hồng
(năm 2001); Đề tài khoa học Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá do TS Mai Thế Hởn (chủ biên) GS,TS. Hoàng Ngọc Hoà,
PGS,TS. Vũ văn Phúc (đồng chủ biên) (2002); Sách Bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân
văn hoá truyền thống Việt Nam của Diêm Thị Đường; sách Hệ thống nông nghiệp vùng
đồng bằng sông Hồng của Đào Thế Tuấn và Pascal Bergeret; Văn hoá Thăng Long - Hà
Nội hội tụ và toả sáng của GS,TS. Trần Văn Bính (chủ biên); Thực trạng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Việt Nam của Nguyễn Sinh Cúc - Lê Mạnh Hùng; Sách
Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ của tác giả Trần Từ; sách Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn các nước và Việt Nam của Nguyễn Điền (1997); Số
liệu thống kê về cơ sở hạ tầng của nông thôn Việt Nam, NXB Thống kê (2005) v.v
Nhận xét chung
- Phần lớn các công trình nghiên cứu và tư liệu trên đây đều trực tiếp hoặc gián tiếp
đề cập đến DSVH và thực trạng bảo tồn phát huy DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ ở nhiều
góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau.
- Dường như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, hệ thống và
quy mô về thực trạng bảo tồn và phát huy DSVH đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình đẩy
mạnh CNH, HĐH.
- Các công trình chủ yếu nghiên cứu về bảo tồn và phát huy DSVH thuần túy mà
chưa đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy DSVH và quá trình đẩy mạnh
CNH, HĐH ở đồng bằng Bắc Bộ với những biểu hiện phong phú, đa dạng và phức tạp của
quan hệ này.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Nội dung đề tài triển khai trong 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy DSVH ở đồng bằng Bắc
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DSVH
Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH
1.1. Lý luận chung về di sản văn hoá
1.1.1. Khái niệm “di sản văn hoá”
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [84, tr. 254]. Di sản văn hoá
theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống
đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là
những gì quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa
nói trên.
Khái niệm DSVH trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một quá trình hình
thành khá lâu dài. Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ này lại được hình thành và
được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789. Quá trình tịch thu được tài sản của
tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau
cách mạng tư sản Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát và
phá hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp,
phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di
sản quốc gia. Di sản lúc đó được hiểu như “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi
công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản
quốc gia”. [83, tr.32]
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa : “di sản
là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì
mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ
tương lai”. [56, tr.20]
Như vậy, DSVH được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế
hệ sau. DSVH là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Như vậy, bảo tồn và phát huy các
giá trị DSVH là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến
tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ gìn và làm phong phú cho kho tàng
DSVH nhân loại.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ
trương đường lối và chính sách bảo vệ và phát huy giá trị DSVH nhằm nâng cao đời sống
tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. DSVH Việt Nam
khi được bảo tồn, kế thừa và phát huy sẽ có tác dụng tích cực trong xây dựng và phát triển
văn hóa Việt Nam đương đại, kết hợp với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh
tế xã hội của đất nước.
1.1.2. Phân loại di sản văn hoá
Phân loại (classification) sự vật và hiện tượng là một trong những cách nhận thức
và thâu tóm bản chất của sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội đa dạng phong phú. Phân
loại DSVH là một nhu cầu chính đáng trong nghiên cứu. Theo quan niệm của UNESCO,
DSVH bao gồm hai loại:
Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản phẩm văn hóa có
thể “sờ thấy được”. Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới
dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu
dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định. DSVH vật thể được tạo tác từ bàn tay
khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt. Văn hóa vật thể được khách thể hóa và
tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người. DSVH vật thể luôn chịu sự thách thức
của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau. DSVH
vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc. Hiện
nay, vấn đề bảo tồn những DSVH vật thể lâu đời đòi hỏi công nghệ kỹ thuật cao mới có
thể phục nguyên lại như cũ.
Di sản “Văn hóa phi vật thể” (intangible culture) là dạng thức tồn tại của văn hóa
không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không gian và thời gian, mà nó
trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp
sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về
văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác. Di sản
văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm các di
tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ( ) Giá trị đặc
biệt quý hiếm của bảo vật quốc gia được thể hiện bằng các tiêu chí sau đây:
a) Hiện vật nguyên gốc, độc bản;
b) Hình thức độc đáo;
c) Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện:
- Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất.
- Là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá trị thẩm mỹ và
hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại;
- Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng
thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định;
d) Được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến của thẩm định
của Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia” [3, tr. 46].
Như vậy, rõ ràng là DSVH phi vật thể luôn sống trong tâm trí con người, được con
người nắm giữ các tri thức về nó để trình diễn các kỹ năng thực hành biểu hiện giá trị của
nó. DSVH phi vật thể luôn đồng hành cùng con người, gắn với ký ức của con người theo
dòng lịch sử. DSVH vật thể tồn tại trong tri giác, được nhận biết thông qua các giác quan
của con người, trong sự thừa nhận của một cộng đồng xã hội kéo dài theo thời gian lịch sử
xã hội.
1.1.3. Quan điểm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Trước hết là quan điểm bảo tồn DSVH. Từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa: “bảo tồn là
giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và
“giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng (audio),
ảnh.v.v Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu
trữ, các viện bảo tàng.
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”)
Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa. Các di
sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố
gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện
đại. Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn
các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng. Bởi lẽ, cộng đồng không
những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất
để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội theo thời
gian. Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng, nương náu trong
tiếng nói, trong các hình thức diễn xướng, trong các nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian.
Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của con người mà chúng
ta thường mệnh danh họ là những nghệ nhân hay là những Báu vật nhân văn sống. Do đó
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với việc bảo vệ những
Báu vật nhân văn sống. Đó là việc xã hội thừa nhận các tài năng dân gian, tôn vinh họ
trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để trong hoàn cảnh có thể, để họ sống lâu, sống
khỏe mạnh, phát huy được khả năng của họ trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa truyền thống. Cần phải phục hồi các giá trị văn hóa phi vật thể một cách khách
quan, sáng suốt, tin cậy, chứ không thể chủ quan tùy tiện. Tất cả những giá trị văn hóa phi
vật thể phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp nghiên cứu có tính chất chuyên môn
cao, có giá trị thực chứng, thuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm bảo quản,
biên dịch và xuất bản các dấu tích DSVH phi vật thể.
Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng DSVH phi vật thể chính là mong
muốn “lý tưởng” nhất, hoàn hảo nhất. Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì phải bảo tồn
theo hiện dạng đang có. Bởi theo quy luật của thời gian thì các DSVH phi vật thể ngày
càng có xu hướng xa dần nguyên gốc. Do vậy, nếu không thể khôi phục được nguyên gốc
thì bảo tồn hiện dạng là điều cần phải thực hiện và có ý nghĩa khả thi nhất.
trúc lịch sử và chùa chiền liên quan đến Phật giáo và nghệ thuật truyền thống. Hiện tượng
này chấm dứt khi đạo luật về bảo tồn di sản văn hoá ra đời năm 1897. Kể từ đấy, các yếu
tố bản địa được phục hồi với tất cả vẻ đẹp độc đáo của nó trong một định hướng giá trị
mới, biểu tượng cho tinh hoa dân tộc.
Đối với Nhật Bản, quan niệm di sản văn hoá là tài
sản văn hoá không chỉ dừng lại ở nhận thức mà còn được cụ thể hoá trong những đạo luật,
chính sách văn hoá, nổi bật nhất là Bộ luật bảo tồn các tài sản văn hoá được ban hành vào
những năm 80 của thế kỷ trước. Bộ luật ra đời nhằm thực hiện bảo tồn di sản văn hoá trên
cơ sở xác lập quyền sở hữu và bảo trợ của nhà nước. Trong đó, Bộ luật quy định rõ, mọi
tài sản văn hoá đều thuộc quyền sở hữu của các công dân, các cơ quan sự vụ, các tổ chức
chính phủ và phi chính phủ. Quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản văn hoá bao
gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Việc công nhận quyền của
các chủ sở hữu được đảm bảo bằng một “Giấy chứng nhận” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục
cấp. Bộ luật cũng quy định rõ, chính phủ và các cấp chính quyền địa phương phải tôn
trọng quyền của các chủ sở hữu và quyền sở hữu của những người hữu quan. Như vậy,
từ một khái niệm triết học (di sản văn hoá), các vật thể mang các giá trị văn hoá được
gọi là tài sản văn hoá (thuật ngữ luật học) có thể sở hữu. Khi di sản văn hoá được công
nhận là tài sản văn hoá sẽ tạo nên chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động
nhằm bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá. Bởi vì, việc bảo tồn và khai thác tài sản
văn hoá chỉ có thực hiện tốt khi nó thuộc quyền sở hữu của một chủ thể cụ thể nào đó.
Nếu chưa được pháp luật công nhận, các di sản đó luôn phải đứng trứớc nguy cơ bị thất
thoát, mai một làm tổn hại đến vốn tài sản văn hoá dân tộc, một hiện tượng đã xảy ra
phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Không những được coi là tài sản văn
hoá, DSVH còn được xác định là một thứ văn hoá đặc biệt, thuộc về những chủ sở hữu
cụ thể nhưng giá trị của nó luôn là tài sản quốc gia. Khoản 2 điều 4 của Bộ luật quy
định: “Các chủ sở hữu tài sản văn hoá cùng những người hữu quan sẽ chịu trách nhiệm
quan đến tôn giáo với sự cộng tác của các cơ quan chính phủ hữu quan. Người đứng đầu
Cục Văn hóa Nhật bản có quyền tiến hành hoặc đình chỉ mọi hoạt động bảo tồn và khai
thác DSVH trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật. Nếu chính quyền các
địa phương các cấp muốn tiến hành hoạt động bảo tồn và khai thác DSVH, phải được uỷ
quyền của Cục Văn hoá. Ngân sách cho những hoạt động của Cục Văn hoá cũng không
ngừng tăng theo các năm.
Như vậy, cách thức tổ chức của Cục Văn hoá Nhật Bản và ngân sách dồi dào của
chính phủ nước này đã giúp cho bộ máy điều hành triển khai các hoạt động bảo tồn và khai
thác DSVH một cách hiệu quả.
Ở Việt Nam, mặc dù đã có Luật Di sản Văn hoá nhưng trên thực tế, nhiều vấn đề
"nóng" như lấn chiếm di tích, trộm cắp cổ vật hay thiếu một quy hoạch tổng thể để bảo tồn
vẫn là những "bài toán khó" mà bao năm nay vẫn chưa tìm được lời giải. Những bài học
của Nhật Bản trên đây có thể là kinh nghiệm quý, góp phần giải quyết những vấn đề còn
tồn tại trong công tác bảo tồn DSVH nước ta.
* Khai thác các giá trị của văn hoá truyền thống trên cơ sở gắn với đời sống hiện
đại
Bảo tồn DSVH không chỉ là cất giữ cho khỏi mất tài sản, để giữ gìn bản sắc dân tộc
hoặc tự ca ngợi mình. Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc là chủ trương bảo
tồn để phát triển, khai thác các giá trị văn hoá truyền thống là làm cho sống lại, làm cho
các giá trị đó tồn tại trong đời sống, năng động hoá các hình thức tồn tại của di sản văn hoá
trên cơ sở thu hút sự quan tâm của các tầng lớp xã hội, nhờ đó mà các giá trị được vận
hành, thâm nhập vào cuộc sống hiện tại.
Nhật Bản và Trung Quốc đã phát huy được tác dụng giáo dục của văn hoá truyền
thống vì mục tiêu phát triển, làm cho văn hóa truyền thống thêm vững bền, giàu có, phong
phú và cao quý hơn. Những giá trị của DSVH lan tỏa, thấm sâu vào từng con người và
toàn thể cộng đồng, trở thành động lực mạnh mẽ cho các quốc gia này phát triển toàn diện.
Để thực hiện mục tiêu xây dựng văn hóa và phát triển kinh tế xã hội, Nhật Bản đã
vệ văn vật.
Trong quá trình đẩy mạnh hội nhập thế giới, Trung Quốc đặc biệt chú trọng thúc
đẩy việc bảo vệ DSVH thông qua giáo dục cộng đồng. Đề cương về chương trình: “Mỗi
người đều có trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa của đất nước” do Bộ Văn hóa và Cục Di
sản đã công bố từ năm 1989, được quán triệt và thực hiện trong cả nước. Các viện bảo
tàng, nhà tưởng niệm và các cơ quan bảo vệ DSVH đã mở cửa đón công chúng và cung
cấp nhiều chương trình về bảo vệ DSVH. Các phương tiện thông tin đại chúng thường
xuyên đề cập nhiều tới tầm quan trọng và giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học của DSVH
Trung Quốc. Nhiều tờ báo lớn đã có chuyên mục về luật bảo vệ DSVH. Chính phủ Trung
Quốc đã xác định: những tài sản văn hoá là do nhân dân tạo nên, chỉ khi nào bản thân tài
sản ấy được nhân dân nhận thức đúng đắn, khi ấy nó mới có những giá trị đích thực. Đặc
biệt từ sau khi gia nhập WTO, công tác bảo tồn, phát huy và quảng bá DSVH dân tộc của
Trung Quốc càng được coi trọng. Trong Báo cáo Chính trị của Đại hội 17, Tổng bí thư Hồ
Cẩm Đào đã chỉ rõ, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh bảo tồn văn hoá trong quá trình xây dựng
một xã hội thịnh vượng hài hoà trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nói, đây là lần đầu tiên, vấn
đề bảo tồn văn hoá được đưa vào một văn kiện chính trị quan trọng của Đảng Cộng sản
Trung Quốc. Chính phủ sẽ thúc đẩy bảo tồn văn hoá bằng cách tạo ra cấu trúc các ngành
công nghiệp, cách thức tăng trưởng và phương thức tiêu dùng đặt cơ sở trên hiệu quả về
năng lượng và tài nguyên, thân thiện với môi trường.
* Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc đi liền với mở rộng văn hoá ra thế giới
Hiện đại hoá là tiền đề cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống ở
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Thông qua việc mở cửa với thế giới, các nước này đã
khai mở những tiềm năng giá trị truyền thống mà trước đó vẫn còn bị khép kín trong biên
giới hạn hẹp của quốc gia và khu vực, trong sự độc tôn và đơn dạng về văn hoá. Tất nhiên,
mở cửa đem theo cả những tác động không thuận chiều đối với bảo tồn văn hoá truyền
thống, nhưng không vì thế mà né tránh mà chấp nhận nó như một tiền đề thực tiễn khách
quan. Từ chỗ mở cửa tiếp nhận các giá trị văn hoá từ các nền văn hoá khác, ngày nay các
DSVH
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời. Ngay sau khi giành đ-ợc chính quyền, Đảng và Nhà n-ớc ta đã rất quan tâm đến
giữ gìn DSVH dân tộc. Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập tức ký và công
bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam.
Ngày 29/10/1957, Nghị định số 519-TTg về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam
thắng cảnh do Thủ t-ớng Chính phủ công bố đã tạo điều kiện cho ngành VHTT tiến
hành kiểm kê phổ thông các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ở các tỉnh
và thành phố toàn miền Bắc; giúp bảo vệ những di tích quan trọng nhất của đất n-ớc
nh- Đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu, Đình Tây Đằng, Bãi Cọc Bạch Đằng; xây dựng đ-ợc
hệ thống bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Hải Phòng, Bảo
tàng Việt Bắc và nhiều bảo tàng khác ở cơ sở. Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích
lịch sử và danh lam thắng cảnh do Hội đồng Nhà n-ớc công bố ngày 31/3/1984, đã
chứng tỏ sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đối với công tác giữ gìn DSVH của dân
tộc. Những Nghị định, Pháp lệnh này thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà n-ớc ta
đối với việc bảo tồn các DSVH ở những thời điểm, hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với điều
kiện kinh tế - chính trị - xã hội vào thời điểm đó.
Công cuộc đổi mới là một b-ớc ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất
n-ớc. Những thay đổi sâu sắc nhất bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, ở đó, thay vì nền
kinh tế quan liêu, bao cấp, Đảng và Nhà n-ớc ta đã chủ tr-ơng thực hiện phát triển nền
kinh tế thị tr-ờng - nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị tr-ờng, có nhiều thành phần
tham gia theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa. Để có những thay đổi mang tính chất cách
mạng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và văn hóa, Đảng và Nhà n-ớc ta đã ban
hành hàng loạt các chủ tr-ơng, định h-ớng, luật, chính sách; những văn bản có tác động
sâu sắc đến quá trình giữ gìn bảo vệ và phát triển của DSVH.
Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới, Đảng và Nhà n-ớc ta đã quan tâm đến
việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc. Trong điều 30, Hiến pháp N-ớc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định rõ rằng: Nhà n-ớc và xã hội
lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng n-ớc và giữ n-ớc"
3
; Bảo vệ bản sắc dân tộc phải
gắn kết với mở rộng giao l-u quốc tế, tiếp thu chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong
1
Hiến pháp Nớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1992, tr.24.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ơng
khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 54.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ơng
khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 56.