1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa, đó một hiện tượng xã hội có tính kế thừa, tính bền vững và luôn
tồn tại trong dòng chảy của sự vận động, phát triển của lịch sử. Tuy nhiên, trong sự
vận động đó, văn hóa lại không để mất đi cái cốt lõi của văn hóa mà trong đó,
những giá trị văn hóa truyền thống - bản sắc dân tộc, đóng một vai trò chi phối.
Điều này khẳng định văn hóa mỗi dân tộc thể hiện hệ giá trị văn hóa của dân tộc
đó, định hướng cho sự lựa chọn trong những hành động của con người, cá nhân và
cộng đồng. Vì vậy mà trong giai đoạn ngày nay, từ những nguyên thủ quốc gia cho
đến các nhà nghiên cứu lí luận trên thế giới đều thừa nhận văn hóa, những giá trị
của văn hóa truyền thống làm nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc thực sự là một
động lực tinh thần quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ xã hội; là yếu tố nối liền quá khứ
với hiện tại, đem lại cơ sở để chúng ta có thể nhận thức về bản thân mình và thời
đại mình.
Với Việt Nam, một đất nước được hình thành và có bề dài lịch sử hàng ngàn
năm, đã trải qua bao biến thiên, thăng trầm của lịch sử, xã hội. Trong điều kiện
sinh sống với tự nhiên khắc nghiệt và luôn phải chống chọi với những kẻ thù hung
mạnh, muốn tồn tại và phát triển, dân tộc ta không còn cách nào khác là phải phát
huy nội lực của mình, đoàn kết gắn bó nhau, dũng cảm cùng nhau đương đầu với
khó khăn, gian khổ. Trong những thử thách gay go của lịch sử, những giá trị
truyền thống, những nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc đã dần được hình thành và
phát triển theo thời gian, được gìn giữ và phát huy giá trị, được truyền từ thế hệ
này qua thế hệ khác, nó là chuẩn giá trị chung của cộng đồng, xã hội; là bản sắc
văn hóa truyền thống của dân tộc.
Tuy nhiên, những giá trị truyền thống cũng không phải là nhất thành bất
biến, mà nó cũng vận động, biến đổi theo sự vận động và biến đổi cùa dòng chảy
của lịch sử, xã hội. Khi lịch sử, xã hội bước sang trang mới thì những giá trị truyền
thống ấy lại cũng được gạn lọc, thẩm định lại và điều chỉnh cho phù hợp điều kiện
thực tế của đời sống xã hội. Qua đó, những cái gì đã được qua một lần nữa chắc
Việt Nam, đất nước chúng ta có đến 54 dân tộc anh em, được phân bố rộng
khắp chiều dài đất nước, suốt từ Bắc, Trung, Nam; đồng bằng, trung du, miền núi.
Với điều kiện địa lí của từng vùng, miền khác nhau dẫn đến hình thành văn hóa
vùng, miền với một số đặc trưng khác nhau, mà chính điều này cũng đã góp phần
3
tạo nên sự phong phú, đa dạng về nét văn hóa truyền thống, có tính bền vững nhưng
không kém giá trị về mặt giáo dục, định hướng con người, so thời đại.
Kiên Giang, là một tỉnh miền Tây Nam bộ thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu
Long, là mảnh đất gần cuối trời tây của Tổ quốc. Cũng như địa phương khác, Kiên
Giang cũng có góp phần tương xứng vào sự phong phú, làm tăng thêm sự đa dạng
bản sắc văn hóa Việt với những nét đặc trưng và những cái riêng của mình. Tuy
nhiên, với lịch sử - xã hội và điều kiện thực tế của mình, Kiên Giang cũng còn
những hạn chế trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của văn hóa truyền
thống trong xu thế hội nhập. Chưa tận dụng và phát huy tốt mặt giá trị cũng như gạn
bỏ những mặt hạn chế của văn hóa, lịch sử truyền thống, để văn hóa thật sự là nền
tảng cho quá trình phát triển xã hội của địa phương.
Với những lý do đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá
trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế qua thực tế ở tỉnh Kiên
Giang hiện nay” - là vấn đề cần thiết cả về mặc lí luận và thực tiễn, có ý nghĩa hiện
tại và lâu dài, nhất là riêng đối với Kiên Giang cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đây, khi đất nước còn chưa độc lập, vai trò của văn hóa đối với xã
hội đã được Bác Hồ đề cập đến trong Đề cương văn hóa 1943. Đến khi kinh tế đất
nước bắt đầu đổi mới và có sự tăng trưởng và hội nhập, thì đã có nhiều đề tài
nghiên cứu về vấn đề văn hóa và sự phát triển, như Trần Ngọc Hiên (1994), “Văn
hóa và phát triển-từ góc nhìn Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Hoàng
Trinh (1996), “Vấn đề văn hóa và sự phát triển”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
Phạm Văn Đồng (1998), “Văn hóa và đổi mới”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
truyền thống với sự phát triển, và cũng nhấn mạnh yếu tố nội sinh của văn hóa
trong hội nhập.
Và trong những năm gần đây, có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý
như đề tài khoa học cấp Nhà nước do GS.TS Ngô Đức Thịnh làm chủ biên (2010),
“Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập”,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; GS, TS. Dương Phú Hiệp (2010), “Tác động của
toàn cầu hóa đối với sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam”, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, đã nêu khái quát những lí thuyết bàn về phát triển văn hóa và
con người trong bối cảnh toàn cầu hóa; PGS, TS. Nguyễn Chí Bền chủ biên
(2010), “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, phát họa nên bức tranh toàn cảnh về văn hóa Việt Nam và dòng
chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện đại, và đề cập đến hiện trạng và những tác động
5
của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với các thành tố của nền văn hóa dân tộc;
GS, TS Dương Phú Hiệp chủ biên (2010), “Nghiên cứu văn hóa và con người Việt
Nam hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội nêu lên những vấn đề về văn hóa
và con người Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, về quan hệ
giữa phát triển văn hóa và phát triển con người, những mô hình văn hóa trong việc
kế thừa và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay và cách tiếp cận triết học về văn
hóa.
Ngoài các công trình nêu trên, còn có nhiều công trình, bày viết khác nghiên
cứu về vấn đề này. Với các công trình nghiên cứu trên, chủ yếu là xét về mặt văn
hóa nói chung, bao gồm nhiều mặc của vấn đề về văn hóa; hoặc tập trung phân
tích làm rõ những yếu tố tích cực, tiêu cực của toàn cầu hóa và xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế đối với nước ta trong định hướng phát triển kinh tế-xã hội; hoặc
nêu lên sự biến đổi của giá trị truyền thống trước tác động của toàn cầu hóa. Như
vậy, do khuôn khổ hoặc mục đích riêng mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên
cứu một cách có hệ thống về vai trò và ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trị
tưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Nhà nước về vấn đề giữ gìn và phát huy giá
trị, bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh nước ta đang hội nhập quốc tế, dưới tác
động của toàn cầu hóa và điều kiện phát triển kinh tế thị trường. Đồng thời, trên cơ sở
kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, nhà lí luận trong thời gian gần đây về những
vấn đề tương đồng với vấn đề luận văn đề cập.
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mác-Lênin) để phân tích, lí giải làm rõ các vấn đề, trong
đó thông qua kết hợp dùng các phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp,
so sánh… nhằm đạt tốt nhất mục đích của đề tài đặc ra.
5. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu giá trị của văn hóa và việc bảo tồn văn hóa truyền
thống dưới góc độ triết học, tức là nghiên cứu một cách chỉnh thể và khái quát giá
trị của văn hóa, từ đó xem xét sự tác động có tính hai mặt của văn hóa truyền
thống trong tiến trình hội nhập quốc tế, chứ không đi sâu giải quyết những vấn đề
cụ thể khác có liên quan của toàn cầu hóa.
Tuy nhiên, vấn đề văn hóa là sự bao quát rộng lớn, bao trùm tất cà các lĩnh
vực của đời sống xã hội, nên trong luận văn này chỉ nghiên cứu trong phạm vi của
một số giá trị văn hóa truyền thống cơ bản là: giá trị văn hóa yêu nước; giá trị
truyền thống nhân văn; giá trị truyền thống đoàn kết trong điều kiện phát triển kinh
7
tế, xây dựng và nâng cao các mặc đời sống xã hội qua thực tế của địa phương Kiên
Giang từ đổi mới đến nay.
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ và có hệ thống, toàn diện về vai trò, giá trị của
văn hóa truyền thống trong hệ giá trị văn hóa của Việt Nam qua phân tích tính tích
cực cũng như hạn chế của bối cảnh hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa; từ
đó có giải pháp định hướng cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền
thống quan thực tế ở tỉnh Kiên Giang hiện nay.
“thánh nhân cai trị thiên hạ, trước hết dùng văn đức, sau mới dùng vũ lực. Phàm khi
dùng vũ lực thì không khuất phục nổi, văn hóa không sửa đổi được, cuối cùng sẽ bị
suy kiệt” [28, tr 09]. Vậy, từ văn hóa ở đây được hiểu là một cách thức, một thiết chế
để điều hành xã hội, dùng “văn trị” tức là dùng cái hay, cái đẹp, cái tốt để giáo dục,
cảm hóa con người. Cho đến thế kỷ XX thì ở Việt Nam, trong một nghị quyết chuyên
đề của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội.
Ở phương Tây, từ ngữ “văn hóa” xuất hiện từ thời Cổ đại, bắt nguồn từ chữ
latinh Cultara, nghĩa là gieo cấy, vun trồng, về sau được vận dụng và chuyển thành
“vun trồng trí tuệ”. Như thế, cũng có thể hiểu theo nghĩa bóng từ “Cultara” là chăm
nom, giáo dục con người về cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, đến thế kỷ
XIX thuật ngữ “văn hóa” mới được các nhà nhân học phương Tây sử dụng như một
danh từ chính chức. Đến thế kỷ XX thì khái niệm văn hóa đã thay đổi theo sự thay
đổi của lịch sử và sự vận động của xã hội. Tại hội nghị quốc tế ở Mêhicô năm 1982
do UNESCO chủ trì, người ta đã đưa ra hơn 200 định nghĩa về văn hóa, và cho đến
nay thì có tài liệu cho là có tới cả 1000 khía cạnh nói đến bản chất của văn hóa. Điều
này đủ cho văn hóa là một khái niệm có nội dung vô cùng sâu rộng, phong phú và
9
phức tạp, được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng hầu hết đều thống nhất
rằng, văn hóa ra đời trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại với tư cách một sản
phẩm của hoạt động sống, hoạt động lao động sản xuất của con người. Nghĩa là, văn
hóa không phải là cái mà con người tự nhiên có được, mà là cái con người chỉ có thể
tiếp nhận được khi phải trải qua một quá trình giáo dục (cả tự phát lẫn tự giác) lâu dài;
là toàn bộ những giá trị do con người tạo ra trong quá trình lao động của mình trên cả
hai lĩnh vực là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Và đấy là theo quan điểm của các
nhà nghiên cứu dưới góc độ chính trị học.
Theo A.B. Taylor xem văn hóa như một “phức hợp bao gồm tri thức, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục cũng như mọi khả năng và thói quen
sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau. Do đó, văn hóa chỉ có thể gắn liền với
con người và xã hội loài người. Bản thân văn hóa chẳng có ý nghĩa gì cả nếu nó nằm
ngoài con người và xã hội loài người. Và C.Mác còn cho rằng con người là “một thực
thể song trùng” thống nhất giữa “cái tự nhiên” và “cái xã hội”, trong đó, “tự nhiên là
thân thể vô cơ của con người”. Thế giới các đồ vật do con người tạo nên từ công cụ sản
xuất, đường xá, nhà cửa, máy móc, phương tiên giao thông, đến các thiết chế và tổ
chức xã hội, nhà nước, luật pháp, ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật,….chính là thân thể vô
cơ của con người, bởi vì tất cả những đồ vật được tạo ra đó đều là sản phấm lấy từ chất
liệu của tự nhiên. Chỉ nhờ những thân thể vô cơ ấy mới hình thành nên ý thức và cảm
xúc, hình thành nên nhân cách, làm cho con người trở thành NGƯỜI thật sự. Những
cái quy định bản chất của con người-cái tạo nên sự khác biệt về chất có “tính tộc loài”
để phân biệt con người với động vật chính là ở chổ con người với tính cách là một
‘thực thể xã hội”. Vì lẽ đó, C.Mác khẳng định: “trong tính hiện thực của nó, bản chất
con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [31, tr.11].
Chúng ta đều thừa nhận rằng, nếu như hoạt động của loài vật là hoạt động bản
năng, hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên thì hoạt động của con người là hoạt động tự
giác nhằm nắm bắt sự hiểu biết, khám phá và sáng tạo ra bản thân mình với tư cách là
người, đó đồng thời cũng là sáng tạo ra “thiên nhiên thứ hai” của chính mình. “Thiên
nhiên thứ hai” ấy không gì khác hơn, đó chính là văn hóa. Cho nên nói bản chất của
con người là “nhào nặng vật chất theo quy luật cái đẹp”, và đó chính là năng lực bản
chất đặc thù đặc biệt chỉ có ở con người, gắn với hoạt động của con người. Do vậy, có
thể nói, sự thể hiện, phát huy những năng lực bản chất người, đó là văn hóa. Như vậy,
xét đến cùng, văn hóa có nguồn gốc từ lao động. Mọi hoạt động sáng tạo của con người
nhằm biến đổi xã hội bao giờ cũng bắt đầu từ lao động, mà văn hóa thường gắn liền với
11
sự sáng tạo và năng lực của con người trong đời sống xã hội. Cho nên những sản phẩm
làm ra trong quá trình lao động đó không chỉ thuần túy là và phục vụ cho nhu cầu vật
chất hàng ngày của con người, mà còn có ý nghĩa rất lớn và giá trị về mặt tinh thần.
tới những giá trị, những phẩm chất tốt đẹp cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của
mình.
Với nội dung bao hàm sâu rộng của văn hóa, và có nhiều định nghĩa khác
nhau tùy vào góc độ tiếp cận như vậy. Theo quan điểm của chúng tôi, cho rằng:
Văn hóa là toàn bộ những giá trị phản ánh năng lực và bản chất người do con
người sáng tạo ra trong lao động qua suốt tiến trình phát triển lịch sử-xã hội
trên cả hai lĩnh vực sản xuất vận chất và sản xuất tinh thần.
Với cách hiểu khái niệm văn hóa như trên, chúng ta có thể xác định cấu trúc
của văn hóa ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, văn hóa gắn với sự hiểu biết của phương thức tồn tại người, là sự
thể hiện đầy đủ nhất bản chất của con người trong tất cả mọi hoạt động của con
người bao gồm hoạt động thực tiễn, hoạt động nhận thức, hoạt động giao tiếp,…
Văn hóa cũng có mặt trong tất cả các mặt đời sống xã hội như kinh tế, chính trị,
đạo đức, lối sống, pháp luật,…và trong mọi khía cạnh, mọi sự tồn tại của đời sống
tinh thần vô cùng phng phú, đa dạng của lĩnh vực tư duy của con người. Nghĩa là
tất cả những gì có liên quan đến con người với tư cách là con người cá nhân và xã
hội, và liên quan đến mọi cách thức tồn tại của con người đều liên quan đến văn
hóa.
Thứ hai, văn hóa bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần đã được sáng
tạo ra trong quá trình lao động-hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội của con người.
Đó là cái “thiên nhiên thứ hai” với tư cách là sản phẩm của hoạt động “mang tính
tộc loài” của chính bản thân con người. Như vậy, có thể nói văn hóa là sự phát
triển lực lượng vật chất và tinh thần của con người, là sự thể hiện những lực lượng
đó trong trong lĩnh vực sản xuất vật chất (mà sản phẩm tạo ra được gọi là văn hóa
vật chất) và lĩnh vực sản xuất tinh thần (sản phẩm tạo ra được gọi là văn hóa tinh
thần).
Tuy nhiên cần nhận thức rằng, sự phân chia này cũng chỉ mang tính tương
đối, bởi lẽ cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là cái sự “vật chất
hóa” các giá trị tinh thần, và bản thân các giá trị tinh thần cũng không phải bao giờ
tồn tại một cách thuần túy tinh thần mà thường được “vật thể hóa” trong các dạng
hội, để phục vụ mục đích phát triển vì con người. Và đó cũng là lúc mọi thành tựu
của sự sáng tạo, về nguyên tác, đều có thể được truyền bá, phổ biến từ cộng đồng
này sang cộng đồng khác, mặc dù sự khác nhau giữa các cộng đồng có lớn đến
mấy đi nữa. Nghĩa là với văn minh, một cách nhân văn, giữa các cộng đồng, dân
tộc, người ta càng tiếp nhận đầy đủ, nhanh chóng nhiêu thì kết quả mục đích vì sự
14
phát triển con người ở cộng đồng, dân tộc ấy nhanh chóng bấy nhiêu, nguyên do
bởi văn minh thể hiện trình độ phát triển nhất định trong một giai đoạn nhất định
nào đó. Và tất nhiên, văn minh chỉ có giá trị nhất trong trong một thời gian tùy
mục đích yêu cầu của nội dung phát triển kinh tế, xã hội của cộng đồng người.
Song, với văn hóa thì khác.
Bởi khi nói đến văn hóa, người ta thường chú ý đến đặc trưng, bản sắc của
từng cộng đồng, cái được bảo tồn, được giữ gìn trong và thông qua các nất thang,
sự thăng trầm của lịch sử mỗi công đồng; văn hóa mang tính lịch sử lâu đời nhưng
vẫn đảm bảo tính ổn định và bền vững về giá trị. Điều này có nghĩa là, khác với
văn minh, văn hóa có xu hướng tiếp thu nhưng có chon lọc những cái là phù hợp
với lịch sử xã hội của cộng đồng, dân tộc và giữ lại được nét độc đáo, cái bản sắc
riêng phù hợp của cộng đồng, dân tộc mình sẽ có giá trị trường tồn. Cũng thế mà
ngày nay, các quốc gia phát triển đều có xu hướng truyền bá văn hóa mình ra thế
giới nhưng rất kỷ càng, chọn lọc khắc khe trong tiếp nhận văn hóa của quốc gia,
dân tộc khác. Bở lẽ văn hóa được nảy sinh trên cơ sở kinh tế, do cơ sở kinh tế
quyết định nhưng văn háo cũng là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa tiến bộ
vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội.
Đối với khái niệm truyền thống, khi nói tới truyền thống của một dân tộc, ta
có thể hiểu rằng đó là một hệ thống chuẩn mực giá trị riêng có của mỗi dân tộc và
không hoàn toàn giống nhau. Nhưng một giá trị nào đó khi đã được xã hội chấp
nhận thì sẽ trở thành cơ sở để hình thành nên truyền thống của chính dân tộc đó.
Nói đến truyền thống, người ta nghĩ ngay đến những thói quen được lặp đi lặp lại
của mình. Từ đó, những kinh nghiệm quý được giữ lại đã dần dần ăn sâu vào tư
tưởng, tâm lí của con người và vì thế được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,
trở thành truyền thống. Tuy nhiên, những thuộc tính này chỉ mang tính tương đối,
nghĩa là không phải bất biến. Bởi, truyền thống là một bộ phận của ý thức xã hội
nên truyền thống của một dân tộc không phải tự nhiên mà có, cũng không phải con
người tự muốn lựa chọn cho mình thế nào cũng được, mà nó được hình thành,
được quy định bởi điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội mà dân tộc đó trải qua. C.Mác
đã khẳng định rằng
cả một kiến trúc thượng tầng những cảm giác, những ảo tưởng, những lối
suy nghĩ và quan niệm sống khác nhau và độc đáo đã mọc lên trên những
hình thức khác nhau, trên các điều kiện sinh hoạt xã hội. Toàn thể giai cấp
tạo ra và hình thành nên tất cả những cái đó trên cơ sở những điều kiện
16
vật chất của mình và trên những quan hệ xã hội tương ứng. Một cá nhân,
qua truyền thống hoặc qua giáo dục mà tiếp thu được những tình cảm và
quan điểm ấy… [29, tr.179-180]
Do tồn tại xã hội luôn vận động, biến đổi nên những truyền thống được hình
thành trên nền cơ sở hạ tầng xã hội cũng không thể nhất thành bất biến. Vì nếu
truyền thống luôn biến đổi thì nó không còn được gọi là truyền thống nữa, nhưng
chính trong sự vận động biến đổi ấy, truyền thống giữ lại những yếu tố cốt lõi bên
trong nó. Nên nói truyền thống là một trong những yếu tố bền vững, khó thay đổi
nhất trong ý thức xã hội, dù tồn tại xã hội đã thay đổi.
Từ đó, có thể nhận thấy rằng, chính tính ổn định và bảo thủ của truyền thống
mà trong mỗi thời kỳ, thời điểm nhất định, thì truyền thống bao giờ cũng mang
tính hai mặt, mặt giá trị và mặt phản giá trị.
Thực tế nhận thấy rằng, có những truyền thông tích cực sẽ tạo ra sức mạnh
cho dân tộc, lại có những truyến thống tiêu cực cản trở sự phát triển của dân tộc.
Đồng thời, có những truyền thống trước đây có giá trị tích cực nhưng khi điều kiện
trị với những truyền thống lạc hậu, lỗi thời cần loại bỏ, từ đó mới có định hướng
chính xác và bảo tồn, phát huy những truyền thống giá trị, là bản sắc riêng của văn
hóa dân tộc. Vần đề này cần phải có sự nhìn nhận một cách nghiêm túc, bởi sự
sống còn của một truyền thống (tốt đẹp hay không tốt đẹp) là dựa vào yếu tố con
người-những người lựa chọn truyền thống đó, ở từng thời kỳ. Cho nên việc chấp
nhận (bảo tồn) hay phủ nhận một truyền thống không phải là một hành vi mù
quáng hoặc vô tâm, mà là sự lựa chọn có chủ đích của con người. Thực tế, có thể
khắng định rằng, không phải tự truyền thống buộc con người phải lựa chọn nó, mà
chính là giá trị của truyền thống tạo nên sự chọn lấy và bảo tồn của con người. Nên
truyền thống phải được lựa chọn bằng đạo đức của con người giữa sự được và mất.
Như vậy, theo chúng tôi, văn hóa truyền thống là những gì thuộc đời sống
xã hội được hình thành trong điều kiện lịch sử cụ thể, được lưu giữ và truyền
lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, bao gồm vật chất lẫn tinh thần được thẩm
định qua thời gian và được mọi người mặc nhiên thừa nhận ở tính quy chuẩn,
có giá trị mang tính định hướng, giáo dục thẩm mỹ phù hợp sự phát triển của
xã hội
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, giữa truyền thống và truyền thống văn
hóa có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất. Truyền thống mang trong
nó tính hai mặt. Một mặt, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gì quý giá,
là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng dân tộc, ở góc độ này
18
truyền thống mang những giá trị tích cực, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc
trên con đường đi đến tương lai. Mặt khác, truyền thống còn là nơi dung dưỡng
duy trì, làm sống lại mặt bảo thủ lạc hậu khi điều kiện và hoàn cảnh đã thay đổi.
Mặt này góp phần kìm hãm, níu kéo làm chậm trễ sự phát triển của một quốc gia
dân tộc. Như vậy, văn hóa truyền thống là một bộ phận của truyền thống, là mặt
tích cực, mặt giá trị của truyền thống.
Vì vậy, khi nói đến văn hóa truyền thống là nói đến những truyền thống đã
vật chất, nó chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hóa.
Nhìn từ góc độ nhận thức, tức là chỉ xét trong lĩnh vực nhận thức của con
người, thì giá trị chính là những kết quả thu được thông qua quá trình nhận thức,
phản ánh một cách khách quan, chân thực thế giới tự nhiên và xã hội, được biểu
hiện qua khái niệm, phạm trù, quy luật,…có ý nghĩa tích cực trong việc chỉ đạo
hoạt động thực tiễn của con người, làm cho hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn,
tốt hơn. Nghĩa là nó hướng con người đến cái “Chân”.
Dưới góc độ đạo đức học, giá trị được nhìn nhận trong phạm vi đời sống
đạo đức của con người. Giá trị đọa đức chính là hành vi, thái độ ứng xử được con
người lựa chọn, được đánh giá là có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được
dư luận đồng tình và vì phù hợp với chuẩn đạo đức chung của xã hội trong từng
thời kỳ nhất định, chủ ý là hướng con người vào cái “Thiện”.
Nhìn từ góc độ mỹ học, giá trị ở đây được xem xét trong phạm vi đời sống
thẩm mỹ cùng các quan hệ thẩm mỹ của con người. Giá trị thẩm mỹ đó là những
chuẩn mực thẩm mỹ được nhận thức thông qua các khách thể thẩm mỹ, như cái
đẹp, cái cao cả, cái có ích, cái hài, cái bi,…trong cuộc sống và nghệ thuật, phù hợp
với nhu cầu lành mạnh, thị hiếu thẩm mỹ tích cực, giúp con người đạt được cảm
giác vui sướng, thăng hoa trong sáng tạo, thưởng thức, đánh giá, cảm nhận thẩm
mỹ. Trong đó, cái đẹp chân chính, phù hợp thuần phong mỹ tục xã hội được xem
là giá trị cơ bản, nghĩa là giá trị thầm mỹ là hướng con người đến cái “Mỹ”.
Còn tiếp cận từ góc độ triết học – là cách tiếp cận khái quát nhất nhưng cũng
tối ưu nhất cho xác định nội dung của định nghĩa giá trị. Tuy nhiên cũng có nhiều
quan niệm khác nhau.
Chủ nghĩa quy tâm tiên nghiệm cho rằng giá trị là sự tồn tại của bản chất
tiên nghiệm, những chuẩn mực, lý tưởng tồn tại bên ngoài sự vật, không phục
thuộc vào nhu cầu, ham muốn của con người. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan lại phủ
nhận yếu tố khách quan của giá trị, coi giá trị là hiện tượng của ý thức, là biểu hiện
20
21
Với không ít cách tiếp cận như trên, khái niệm giá trị cũng có nhiều định
nghĩa. Ở đây, chúng ta xem qua một vài định nghĩa để rút ra định nghĩa riêng cho
khái niệm này.
Theo Từ điển Bách khoa triết học của Liên Xô, giá trị được hiểu là: “khái
niệm triết học và xã hội học dùng để chỉ, thứ nhất, tầm quan trọng có tính khẳng
định hay phủ định một khách thể nào đó, khác với đặc tính tồn tại và chất lượng
của khách thể này (…), thứ hai, khía cạnh chuẩn mực, mệnh lệnh-đánh giá của các
hiện tượng ý thức xã hội” [25, tr.7]
Theo tác giả Hồ Sỹ Quý,
giá trị là thuật ngữ…dùng để chỉ ý nghĩa văn hóa và xã hội của các hiện
tượng. Về thực chất, toàn bộ sự đa dạng của hoạt động người, của các
quan hệ xã hội, bao gồm cả những hiện tượng tự nhiên có liên quan, có
thể được thể hiện là các “giá trị khách quan” với tính cách là khách thể
của quan hệ giá trị, nghĩa là, được đánh giá trong khuôn thước của thiện
và ác, chân lý và sai lầm, đẹp và xấu, được phép và cấm kỵ, chính nghĩa
và phi nghĩa,…[22, tr.42]
Từ điển Bách khoa toàn thư Xôviết,
giá trị là sự khẳng định hay phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế
giới chung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội
nói chung. Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính
tự nhiên, mà là bởi tính cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào
phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu,
các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa
nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong
lý tưởng, tâm thế và mục đích [dẫn theo 27, tr.51-52]
Như vậy, có thể nhận rằng, một hiện tượng nào đó chỉ có giá trị đối với chủ
thể khi nó có tác dụng tích cực đối với chủ thể; nó thỏa mãng được nhu cầu nhất
Hình thức biểu hiện giá trị cũng vô cùng phong phú, đa dạng phụ thuộc vào
tính đa dạng trong nhu cầu của con người. Cóa giá trị vật chất, có giá trị tinh thần;
có giá trị chung cho toàn nhân loại, có giá trị riêng của mỗi dân tộc, công đồng hay
cá nhân; có những giá trị lâu bền được giữ gìn, kế thừa qua nhiều thế hệ và ngày
càng được phát huy, có những giá trị tồn tại trong thời điểm rồi mờ dần và mất đi
do hoàn cảnh lịch sử biến đổi, thay thế vào đó là một giá trị mới phù hợp hơn. Cho
nên nói “cái này có giá trị” không có nghĩa là nó bất biến, luôn tồn tại vĩnh viễn
theo thời gian mà nó cũng là theo quy luật vận động phát triển của lịch sử-xã hội.
23
Như vậy, quá trnh nghiên cứu, tiếp cận vấn đề qua nhiều góc độ khác nhau
về khái niệm giá trị. Theo quan điểm của chúng tôi, cho rằng giá trị là khái niệm
dùng để chỉ cái làm cơ sở, tiêu chí để con người (cá nhân, cộng đồng, dân tộc)
dựa vào đó xem xét bản thể vật chất (hay tinh thần) mang tính tích cực có khả
năng thỏa mãn những nhu cầu nào đó của con người một cách lành mạnh,
thúc đẩy con người vươn tới cái hữu ích.
Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóa
truyền thống đặc trưng riêng của mình. Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất
cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản
sắc riêng của một dân tộc. Giá trị văn hóa truyền thống đó được truyền lại cho thế
hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước. Nhà triết học cổ
điển Đức, E. Kant nói: “vật nào có thể đem trao đổi được đều có một giá, duy có
một số vật không lấy gì làm thay thế được thì có một giá trị” [28, tr.115]. Ví dụ,
chiếc nhẫn kim cương có một giá, chiếc xe ôtô có một giá, còn tình bạn, lòng yêu
nước, tín ngưỡng,…là những cái vô giá, tức có nghĩa là những giá trị xã hội, giá trị
văn hóa. Vậy thế nào là giá trị văn hóa truyền thống? Để dễ tiếp cận hơn, chúng ta
hãy xem qua thế nào là giá trị truyền thống, (bởi như trên chúng tôi đã trình bày,
văn hóa và văn hóa truyền thống là hai khái niệm tương đồng nhưng không đồng
nhất).
Tuy vậy, vẫn phải thừa nhận các dân tộc cũng không thể lựa chọn cho mình
những giá trị truyền thống theo ý muốn chủ quan của con người, mà những gái trị
truyền thống được hình thành dực trên cơ sở những điều kiện kinh tế, lịch sử, xã
hội của chính mỗi dân tộc trong suốt quá trình phát triển đó. C.Mác: “con người
làm ra lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của
mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những điều kiện trực
tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại” [29, tr.145]. Nghĩa là con
người cũng có quyền lựa chọn cho mình những giá trị truyền thống, nhưng đó là
những cái có giá trị, phù hợp ở hiện tại, có tính ổn định và bền vững, trên cái nền
của quá khứ-lịch sử để lại. Cho nên nói, giá trị truyền thống “có giá trị” chính là ở
tính khách quan trong quá trình hình thành, tồn tại; được lưu giữ, truyền lại mãi do
đã trải qua sự thẩm định gắt gao của thời gian cũng như điều kiện thay đổi của
thời đại.
Mặc khác, giá trị truyền thống còn có một giá trị ở khía cạnh là “tập hợp sức
mạnh” của dân tộc trong mỗi thời đại cho từng thời đại. Trong giá trị truyền thống
dân tộc thì người xưa và người nay đều cơ bản đồng tình, người sau nối chí người
25
trước, phát huy lên, làm giàu mãi. Ở đây, theo Giáo sư Trần Văn Giàu: “giá trị
truyền thống là một sức mạnh vĩ đại không thể xem thường. Huy động các giá trị
truyền thống để làm cách mạng và kháng chiến hiện đại, là huy động sức mạnh của
mấy mươi thế kỷ tổ tiên ông cha cổ vũ và trợ chiến cho con cháu hoàn thành sự
nghiệp dân tộc” [10, tr.52]. Sở dĩ được như thế-và đấy cũng là cái tạo nên một chất
keo kết dính, huy động được sức mạnh dân tộc-chính là ở chỗ giá trị truyền thống
được hình thành trên cơ sở có cái lõi bất biến đồng thời có phần biến động để có
thể bổ sung, đổi mới cho ngày càng phong phú và phù hợp với đặc trưng, tính chất
thời đại.
Như vậy, từ cách tiếp cận hai mặt như thế, chúng tôi nhận thấy rằng có thể
định nghĩa giá trị văn hóa truyền thống, là tất cả những gì thuộc đời sống vật