LUẬN văn THẠC sĩ kế THỪA và PHÁT HUY GIÁ TRỊ đạo đức TRUYỀN THỐNG của PHỤ nữ TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY (QUA KHẢO sát ở KIÊN GIANG) - Pdf 39

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ chiếm trên 50% dân số và lao động xã hội, là lực lượng to lớn, đóng
góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của nước ta. Họ với tư cách là
người mẹ sinh thành nuôi dưỡng cho đất nước các thế hệ công dân tiếp nối
thực hiện sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Ngoài ra phụ nữ Việt Nam
còn tham gia tích cực vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...
Phụ nữ Việt Nam có truyền thống vẻ vang, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười
đã nêu trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Việt Nam lần thứ
VIII: "Từ xưa đến nay, phụ nữ Việt Nam luôn luôn giữ vị trí quan trọng
trong quá trình hình thành cộng đồng dân tộc, trong sự nghiệp đấu tranh lâu
dài dựng nước và giữ nước cũng như trong cuộc đời thường. Truyền thống
và phẩm giá của phụ nữ nước ta được hình thành qua hàng nghìn năm lịch
sử. Đó là lòng yêu nước, tính nhân ái, đức hy sinh, trí thông minh. Tám chữ
vàng "Anh hùng bất khuất, trung hậu, đảm đang" mà Bác Hồ kính yêu và
nhân dân ta trao tặng phụ nữ nước ta chính là sự đúc kết một cách sâu sắc
truyền thống vẻ vang và phẩm giá cao đẹp đó" [93, 90-91].
Trong quá trình xây dựng CNXH, nhất là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện
đất nước theo định hướng XHCN hiện nay việc xây dựng đạo đức lành
mạnh của xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Điều đó đòi hỏi
phải nhận thức đúng đắn vấn đề kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc nói chung và của người phụ nữ Việt Nam nói riêng, tạo
điều kiện cho việc xây dựng chuẩn mực đạo đức mới phù hợp yêu cầu phát
triển của xã hội. Đồng thời đó cũng là một nội dung quan trọng trong việc
góp phần "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc".
Trong những năm đổi mới vừa qua vai trò của phụ nữ càng được khẳng
định trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Song, do tác động của cơ
chế thị trường, những giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam bị

1


2


Trên cơ sở phân tích thực trạng của việc phát huy các giá trị đạo đức truyền
thống của người phụ nữ (qua thực tế Kiên Giang), đề xuất một số giải pháp
có tính định hướng nhằm phát huy có hiệu quả các giá trị đạo đức truyền
thống ở người phụ nữ Kiên Giang hiện nay.
b) Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện mục đích trên luận văn phải thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản
sau:
- Làm rõ các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam và tầm
quan trọng, nội dung, yêu cầu của việc phát huy chúng trong tình hình hiện
nay.
- Phân tích thực trạng của việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống ở
phụ nữ Kiên Giang; phân tích những nguyên nhân của thực trạng đó; từ đó
rút ra những vấn đề cần giải quyết để thực hiện kế thừa và phát huy những
giá trị đạo đức truyền thống ở phụ nữ.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả các giá trị
đạo đức truyền thống ở phụ nữ Kiên Giang.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
a) Đối tượng
- Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ trong đề tài này muốn đề cập đến
mặt tích cực.
- Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ trong luận văn này được hiểu là
giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc nhưng được biểu hiện đặc thù ở
phụ nữ, do đó nó trở thành truyền thống của phụ nữ.
b) Phạm vi
Đề tài này nghiên cứu chủ yếu là thực tế Kiên Giang, đồng thời có nghiên
cứu tài liệu của những công trình nghiên cứu khác.

Chương 1
NHỮNG

GIÁ

TRỊ

ĐẠO

ĐỨC

TRUYỀN

THỐNG

CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM VÀ YÊU CẦU KẾ THỪA,
PHÁT HUY CHÚNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.1. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC CỦA PHỤ NỮ
VIỆT NAM
1.1.1. Truyền thống đạo đức dân tộc
Trong truyền thống của dân tộc có những truyền thống tốt và những truyền
thống không tốt. Những truyền thống tốt phù hợp với sự phát triển của lịch
sử dân tộc được gọi là những giá trị truyền thống. Trong đó những giá trị
đạo đức truyền thống (GTĐĐTT) đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã
hội. Giá trị có thể được hiểu là: "Những thành tựu của con người góp vào

4




6


kiệm, giản dị, thực tiễn; tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng
hòa bình, nhân đạo, lạc quan [62].
Kết quả nghiên cứu của chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước:
con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội
(KX. 07) cũng đã khẳng định: cốt lõi của các giá trị truyền thống là đạo
đức, phẩm chất, nhân cách con người Việt Nam bao gồm: tinh thần yêu
nước, vì nghĩa, lòng thương người [58, 32-34].
Những GTĐĐ tinh thần truyền thống dân tộc được nói đến khá nhiều trong
các văn kiện của Đảng. Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về: "Một số định
hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay" ghi rõ: "Những giá trị văn hóa
truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý
thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý "thương người như thể thương thân", đức
tính cần cù, vượt khó sáng tạo trong lao động" [57, 19]. Nghị quyết Hội
nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
đã khẳng định: "Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những
tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử
hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước
nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn
kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng
nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong
ứng xử, tính giản dị trong lối sống" [92, 56].
Qua các tư liệu nêu trên có thể rút ra một số nhận xét:
- Trong hệ thống giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam,
GTĐĐ chiếm vị trí ưu trội so với các giá trị truyền thống dân tộc ta nói
chung.

dựng nước và giữ nước của mình, tất cả những thành quả vật chất và tinh
thần mà cha ông ta để lại cho đến ngày nay đều gắn liền với truyền thống
cần kiệm đó.
Ngoài những giá trị đã nêu trên còn những đức tính phổ biến hợp thành hệ
thống GTĐĐ dân tộc: khiêm tốn, giản dị, trung thực, lạc quan và chung thủy.
Người Việt Nam khiêm tốn nhưng không hạ thấp mình; giản dị nên ghét
thói xa hoa, cầu kỳ; trung thực nên ghét người "đâm bị thóc, thọc bị gạo",
ăn nói hai lời; lạc quan nên không chùn bước trước mọi khó khăn thử thách
của lịch sử; thủy chung nên ghét kẻ "lá mặt, lá trái", "xa mặt cách lòng".
Khiêm tốn, giản dị, trung thực, lạc quan và thủy chung là những phẩm chất
đạo đức cần phải có, là một trong những GTĐĐ của dân tộc và con người
Việt Nam, một trong những định hướng giá trị thuộc về lối sống nếu ai làm
trái sẽ bị xã hội lên án và phê phán.
Thật vậy, Bác Hồ của chúng ta đã dẫn lời của Dơ pu Puốc vin trong "Đây
công lý" của thực dân Pháp ở Đông Dương như sau: "Yêu mến quê hương,

10


quyến luyến gia đình, thờ kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính
nghĩa, ham thích khoa học, thương yêu giống nòi, tôn trọng lẽ phải, ghét xa
hoa, không ham tiền tài, khinh vũ lực, không sợ gian khổ hy sinh... đó là đặc
điểm về bản tính của người Việt Nam được hình thành từ bao thế hệ, những
thế hệ luôn cố gắng thực hiện đạo đức ấy một cách thành kính. Người Việt
Nam bình thường mà ta gặp ở bất kỳ ở đâu cũng đều như vậy cả" [29, 265].
1.1.2. Những nhân tố quy định đặc điểm đạo đức của người phụ
nữ Việt Nam
Đạo đức phụ nữ Việt Nam không tách rời những GTĐĐTT của dân tộc
Việt Nam. Nhưng đạo đức truyền thống của dân tộc được biểu hiện đặc thù
ở người phụ nữ; điều đó được cắt nghĩa bởi toàn bộ điều kiện sinh hoạt xã

cần cù, tỉ mỉ đặc biệt. Thể chất và thiên tính của người phụ nữ có thể đáp
ứng với những khâu lao động nông nghiệp trồng lúa đó. Những hoạt động
sản xuất và trồng trọt, từ việc vỡ đất đến việc đặt cây, gieo, tỉa, chăm sóc và
thu hoạch cũng có thể thích hợp với những bản năng về mặt lao động của
phụ nữ. Thêm vào đó, đất nước luôn luôn bị giặc ngoại xâm, phần lớn đàn
ông đi đánh giặc bỏ ruộng đất, cày bừa lại cho phụ nữ. Sức lao động tập
trung vào các công trình quốc phòng và dân dụng, hoặc vào các công trình
xa xỉ của bọn thống trị liên tục trong bốn nghìn năm cũ, đều khiến cho xã
hội nông thôn mất đi một nguồn nhân công nông nghiệp lớn của nam giới.
Ngoài ra, cũng phải kể đến hiện tượng, từ thế kỷ XI trở đi, xuất hiện ngày
càng đông đảo những học trò, nho sĩ, quan lại nói chung có tư tưởng coi
khinh việc chân lấm tay bùn. Trong hoàn cảnh rất đông những người thân
thuộc trở nên xa rời sản xuất như thế, tất nhiên, người phụ nữ phải đảm
đang gánh vác công việc sản xuất.
Như thế là trong điều kiện của lịch sử hàng nghìn năm cũ, ngoài nhu cầu
lớn về nhân công mà bản thân việc trồng lúa nước yêu cầu, còn có những
nguyên nhân xã hội đòi hỏi người phụ nữ phải tích cực tham gia vào những
khâu quan trọng, chủ yếu của nền sản xuất nông nghiệp. Sẵn có truyền
thống cần cù, đảm đang sáng tạo trong sản xuất thời nguyên thủy - một
truyền thống không đứt đoạn, do đặc điểm kéo dài thời gian quá độ từ chế
độ mẫu quyền sang xã hội phụ quyền ở buổi đầu lịch sử có giai cấp - người
phụ nữ Việt Nam trong thời đại các xã hội có giai cấp cũ đã kế thừa và phát
huy truyền thống của mình, để liên tục đảm đang việc sản xuất nông nghiệp
trong những điều kiện và hoàn cảnh mới, trên những nhu cầu và đòi hỏi
mới của lịch sử.
Sự tham gia tích cực của người phụ nữ vào nền kinh tế nông nghiệp cũng
đồng thời biểu lộ và chứng minh những phẩm chất tinh thần của họ. Sẵn
sàng gánh vác công việc chung, sẵn sàng vì mọi người mà làm việc, đây là
điểm nhận thấy đầu tiên trong đức tính truyền thống của người phụ nữ Việt
Nam, vì họ tham gia tích cực vào lao động sản xuất trong các xã hội cũ.

nguyên thủy. Họ vẫn phải thường xuyên lao động sản xuất, đảm nhiệm
chức năng kinh tế ở những lĩnh vực quan trọng nhất, đồng thời gánh vác cả
chức năng sinh đẻ và nuôi dạy con cái. Người phụ nữ nguyên thủy đã làm
nhiệm vụ sinh đẻ và nuôi dạy con cái, trong điều kiện của xã hội nguyên
thủy, với một tinh thần tận tụy khôn cùng và lòng yêu thương vô hạn, chăm
sóc trẻ nhỏ là nhiệm vụ của tập thể phụ nữ trong xã hội nguyên thủy.
Cùng với việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái, phụ nữ nguyên thủy cũng cáng
đáng luôn cả những công việc trong nhà. Trước hết là sửa sang nơi ăn chốn
ở, chế biến, phân chia và dự trữ thức ăn. Công việc trong nhà mà người phụ

13


nữ nguyên thủy phải chăm lo, còn gồm nhiều hình thức lao động sản xuất,
gộp lại thành một ngành kinh tế riêng, gọi là kinh tế gia đình. Đó là các
nghề đan lát tre mây, chế biến vỏ cây và đồ da, khâu vá may mặc, chế tạo
đồ gốm và về sau này kéo sợi, dệt vải... Những nghề sản xuất trong nhà này
có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nguyên thủy. Nó cung cấp những nhu
cầu vật dụng quan trọng cho xã hội nguyên thủy, và làm cho đời sống con
người nguyên thủy thêm phong phú, nền văn minh đầu tiên của loài người
dần dần tiến bộ.
Chức năng sinh đẻ và nuôi dạy con cái cùng những công việc trong nhà của
người phụ nữ nguyên thủy rõ ràng là mang tính chất xã hội. Nó là một
trong những cơ sở quan trọng để nâng cao vai trò và địa vị của người phụ
nữ trong xã hội mẫu quyền.
Trong xã hội phong kiến, các gia đình Việt Nam xưa, thời gian từ tấm bé
đến khi trưởng thành người phụ nữ phải thực hiện những nghĩa vụ và trách
nhiệm của con người. Ở đây có những nghĩa vụ và trách nhiệm đối với cha
mẹ - và họ hàng thân thuộc.
Ngay từ thời gian rất sớm, đứa con gái đã được giao phó những công việc

của người chồng đối với gia đình và xã hội.
"Lấy gì đóng góp cho chồng
Lấy gì giỗ chạp thổ công, ông bà
Lấy gì nuôi mẹ nuôi cha
Lấy gì thu xếp việc nhà chàng ơi
Lấy gì cho ngựa cho voi
Lấy gì đóng góp như đôi láng giềng".
Đây là nỗi lo toan quán xuyến trong suốt đời làm vợ của người phụ nữ xưa.
Nghĩa vụ và trách nhiệm làm con, làm vợ, làm mẹ qua suốt một đời người
phụ nữ trong gia đình xưa, thật nặng nề, người phụ nữ giữ một vai trò rõ ràng
là trung tâm, là linh hồn chủ đạo của các gia đình. Nguyên nhân đưa đến thực
tế đó là do những mầm mống tốt đẹp gây dựng được từ thuở nguyên sơ, khi
những người phụ nữ đảm đang quán xuyến những "việc trong nhà" ở xã hội
thị tộc, vẫn tiếp nối sang thời đại các xã hội có giai cấp. Mặt khác, ở các xã
hội này, như đã thấy, sự vắng nhà của người đàn ông đi chiến đấu, đi làm
công việc xã hội v.v... là hiện tượng thường xuyên. Trong hoàn cảnh đặc biệt
nhưng lại phổ biến của lịch sử ấy, nếu không muốn quỵ xuống vì yếu đuối,
bất lực, thì phải mạnh mẽ vươn lên. Chính vì đã chọn lấy con đường thứ
hai mà các thế hệ phụ nữ xưa, sẵn cái nền móng thuận lợi từ thuở ban đầu,
đã đứng ra gánh vác lấy gia đình của mình. Trong khi làm nhiệm vụ đó, họ
đã kế thừa và làm nảy sinh, phát triển những đức tính truyền thống tốt đẹp.

15


Đức tính quí báu đầu tiên, quán xuyến trong suốt các thế kỷ gánh vác gia
đình của người phụ nữ xưa là tinh thần đảm đang tuyệt với của họ. Đảm
đang trước hết bởi khối lượng công việc rất lớn và vô cùng phức tạp mà
người phụ nữ xưa phải tự lo toan, định liệu. Đảm đang còn bởi cái khối
lượng "công việc trong nhà" bề bộn phức tạp đó lại đã được người phụ nữ


17


Trong thời gian đô hộ nước ta, giặc Minh cũng đã mổ bụng đàn bà có thai,
giết chết cả mẹ lẫn con, cắt tai đem nộp chủ tướng (năm 1409). Tướng giặc
Trương Phụ đã bắt phụ nữ Việt Nam đưa về nước (năm 1414). Đấy là
những tội ác "trời không dung đất không tha, thần và người đều căm giận"
như lời dạy của Nguyễn Trãi đã viết ngày xưa. Trước tai họa trực tiếp đó,
nếu không muốn cho giặc tiếp tục hoành hành, người phụ nữ xưa chỉ có
con đường quyết liệt đấu tranh.
Truyền thống đánh giặc của phụ nữ Việt Nam được khơi dậy từ rất sớm bởi
những phụ nữ kiệt xuất hai Bà Trưng, Bà Triệu và sau này vẫn được phụ
nữ trong hàng ngũ quý tộc cùng những phụ nữ bình thường từ thế hệ này
qua thế hệ khác tiếp tục góp phần kế thừa làm cho truyền thống đánh giặc
giữ nước quý báu đó được phát triển mạnh mẽ và liên tục.
Trong truyền thống đánh giặc của người phụ nữ xưa, khí phách anh hùng
cũng được biểu lộ ở tinh thần dũng cảm và ý chí bất khuất rất kiên cường
trong chiến đấu. Những người vẫn bị coi là "chân yếu tay mềm" trang bị
bằng những vũ khí tinh thần không gì sánh nổi là lòng yêu nước, chí anh
hùng, đã trở nên mạnh mẽ để lập nên những kỳ tích làm rạng rỡ non sông.
Qua hàng nghìn năm lịch sử, vai trò của phụ nữ trong sản xuất, trong gia
đình và xã hội đã hun đúc nên những đức tính truyền thống cao đẹp: tinh
thần yêu nước, ý thức dân tộc, trung hậu đảm đang, anh hùng bất khuất
kiên cường, tần tảo cần cù thông minh sáng tạo, nhẫn nại, khiêm tốn giản
dị, giàu lòng vị tha, đức hy sinh... Những truyền thống quý báu đó là sức
mạnh, là điểm tựa tinh thần để phụ nữ hiện đại vươn lên đáp ứng yêu cầu
của lịch sử dân tộc.
1.1.3. Những giá trị đạo đức cơ bản của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử
dân tộc

- Yêu nước
- Anh hùng, bất khuất
- Trung hậu, đảm đang.
Trong đó yêu nước là giá trị cao nhất, phổ biến nhất trong các GTĐĐTT
của dân tộc Việt Nam nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng. Truyền thống
yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến
đương đại.

19


Truyền thống yêu nước được hình thành rất sớm từ buổi đầu dựng nước và
giữ nước. Truyền thống đó của phụ nữ Việt Nam càng được phát huy mạnh
mẽ trong quá trình cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Yêu
nước thiết tha và sẵn sàng hy sinh vì nước, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã
đem tinh thần truyền thống ấy phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc. "Phụ nữ Việt Nam đã có mặt ngay từ đầu dưới ngọn cờ đấu tranh
của Đảng đã sát cánh cùng nam giới chống đế quốc phong kiến, cung cấp
cho phong trào nhiều chiến sĩ cách mạng ưu tú, ghi vào lịch sử đấu tranh
của nhân dân ta tấm gương chói lọi của biết bao anh hùng liệt sĩ và trải qua
bao chặng đường gian khổ, đã góp phần vẻ vang vào thành công của Cách
mạng tháng Tám, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" [9].
Truyền thống nói chung, truyền thống đạo đức nói riêng của phụ nữ Việt
Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết bằng tám chữ vàng: "Anh hùng,
bất khuất, trung hậu, đảm đang".
* "Anh hùng, bất khuất" là những giá trị đạo đức cao cả của phụ nữ Việt
Nam. Vì yêu nước nên ngay buổi đầu giữ nước, phụ nữ Việt Nam đã đứng
lên chống giặc ngoại xâm, biểu lộ một tinh thần dũng cảm và ý chí bất khuất
rất kiên cường trong chiến đấu, như Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân...
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ cả hai miền Nam, Bắc siết

Nam bằng tinh thần kiên quyết và triệt để cách mạng. Tinh thần ấy xuất
phát từ niềm tin vững vàng ở chính nghĩa và sức mạnh của mình, lòng tin ở
sự tất thắng. "Nụ cười Võ Thị Thắng", "Đấy chính là Việt Nam đang cười",
"là cái nhìn của nữ thần chiến thắng" [23].
Xuất phát từ tinh thần yêu nước, phụ nữ Việt Nam đã chiến đấu anh hùng,
bất khuất để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Đấy là những GTĐĐ cao
đẹp mà các thế hệ phụ nữ tiếp theo phải kế thừa trong công cuộc xây dựng
và bảo đảm đất nước hiện nay.
* "Trung hậu, đảm đang" là những phẩm hạnh tuyệt vời trong đạo đức
truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Người phụ nữ xưa đảm đang trong sản xuất nông nghiệp, nuôi sống xã hội;
đảm đang gánh vác công việc gia đình cho chồng, con đi chiến đấu... Bên
cạnh đó các thế hệ phụ nữ Việt Nam xưa còn biểu lộ rất rõ đức tính trung
hậu cao quý.
Yêu nước, trung kiên với nước: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh"; yêu
chồng, chung thủy sắt son với chồng: "Chồng em áo rách em thương.
Chồng người áo gấm xông hương mặc người".

21


Tinh thần đó của phụ nữ Việt Nam xưa được nâng cao trong phong trào
cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong công cuộc xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất đất nước, phụ
nữ hai miền Nam, Bắc thể hiện rất rõ truyền thống nói trên.
Phụ nữ miền Bắc đã vượt qua khó khăn gian khổ đảm đang trên mặt trận
sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực khác, nhằm phục hồi nền kinh tế và
phát triển văn hóa, góp phần hoàn thành thắng lợi việc hàn gắn vết thương
chiến tranh, tạo cơ sở để đưa miền Bắc tiến lên CNXH. Ngoài việc đảm
đang trong sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, chị em phụ nữ

chính trị chống quân thù của phụ nữ miền Nam. Song song với hoạt động
đấu tranh chính trị, phụ nữ miền Nam còn đảm nhiệm xuất sắc vai trò quan
trọng của mình trong đấu tranh vũ trang giết giặc cứu nước, cứu nhà. Đấy
là những biểu hiện tuyệt vời của tinh thần đảm đang đáng quý của người
phụ nữ miền Nam trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước.
Tinh thần đảm đang của họ trong thời kỳ mới cũng vượt lên với khí
thế tấn công liên tục. Khó khăn nhiều khi tưởng như quá sức người, nhưng
phụ nữ vẫn là người góp sức san bằng những khó khăn đó. Và nội dung
đảm đang của người phụ nữ đã không chỉ đóng khung trong việc quán
xuyến việc nhà, việc làng, mà còn mở rộng ra tới những công việc bao quát
hơn, phức tạp hơn, đòi hỏi người phụ nữ phải có lòng thương yêu giai cấp,
chí căm thù giặc, lòng dũng cảm, tài khéo léo, trí thông minh... Người phụ
nữ miền Nam đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu đó. Khi giáp mặt với kẻ thù, trước
làn bom mũi đạn, họ đảm nhiệm việc tiếp lương, tải đạn; chuyển tải thương
binh về nơi an toàn. Giữa vòng vây của địch, họ lại nhận nuôi chứa, chăm
sóc thương binh và mở đường cho thương binh thoát vây về đơn vị an toàn...
Ở hậu phương lớn, phụ nữ miền Bắc "đảm đang sản xuất và công
tác", "đảm đang gia đình", đảm đang phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến
đấu". Chiến tranh nổ ra, lập tức sức người, sức của phải dồn một phần lớn
vào cuộc chiến đấu. Những công việc hậu phương do đó phải đảm bảo thực
hiện trong điều kiện hết sức căng thẳng về nhân công, nhân lực. Phụ nữ ở
khắp nơi là lực lượng chủ yếu giải quyết tình trạng nhân công, nhân lực

23


căng thẳng đó. Hàng triệu phụ nữ đã đứng ra gánh vác việc sản xuất và
công tác, và đã lập nên những kỳ tích với tinh thần đảm đang thay thế nam
giới đi chiến đấu. Đây cũng là cách đánh Mỹ, cách biểu hiện tinh thần đánh

mạng của dân tộc.
Ở đây những người vợ Việt Nam là những người thủy chung trọn
vẹn với chồng. Những người mẹ Việt Nam hy sinh trọn vẹn cho con cái.
Những người con gái, con dâu Việt Nam thảo hiền đối với bậc trên và rèn
luyện đức tính của người mẹ đối với lớp tuổi dưới, cũng như chờ dịp thể
hiện những đức tính của người vợ đối với người yêu, người chồng tương lai
của mình... Đấy là những người phụ nữ Việt Nam trung hậu.
Ở hậu phương lớn phụ nữ miền Bắc không những đảm đang công
việc sản xuất, đảm đang gia đình đưa chồng con đi chiến đấu mà họ còn
đảm đang phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.
Tham gia vào cuộc chiến đấu bằng vũ khí với quân thù, kế thừa
truyền thống sẵn có của giới mình, phụ nữ ở hậu phương lớn có mặt trên
mọi mặt trận chiến đấu. Mỗi chiến công của bộ đội, bất cứ về mặt nào cũng
đều có công lao đóng góp tích cực của phụ nữ. Họ đã trở thành một đạo
quân đông đảo hàng triệu người làm công tác phục vụ chiến đấu. Những
người phụ nữ ấy trước hết đã làm nhiệm vụ của những chiến sĩ hậu cần
nhân dân, và họ còn là những chiến sĩ phòng không, là những chiến sĩ
thông tin liên lạc, là những chiến sĩ giao thông vận tải, là những người
động viên cổ động chiến trường và chiến đấu.
Phục vụ đắc lực cho công tác phục vụ chiến đấu, chính những người
phụ nữ ấy, khi tình huống xảy ra đã trở thành những chiến binh thật sự,
những người bằng khẩu súng và lá cờ chỉ huy của mình, tiêu diệt kẻ địch
bằng những trận chiến đấu oanh liệt. Đấy cũng còn là những người, bằng
đủ tất cả những gì có thể sử dụng làm vũ khí, đã đuổi giặc lái hàng cây số,
bắt gọn những đứa "con cưng của không lực và hải lực Huê Kỳ".
Đấy chính là tinh thần kiên quyết chiến đấu của những nữ chiến sĩ ở
hậu phương lớn. Đã biểu hiện khí phách hiên ngang, sức tiến công dũng

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status