LUẬN VĂN: Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay pot - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của
người phụ nữ Việt Nam hiện nay

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ Việt Nam là một lực lượng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách
mạng và trong sản xuất. Với tinh thần yêu nước sâu sắc, phụ nữ Việt Nam đã dũng
cảm tham gia vào các phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng
chính mình. Ngày nay, trong không khí sôi động của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất
nước, phụ nữ Việt Nam phát huy truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ hăng hái
tham gia vào các hoạt động xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Quá
trình đó cùng với đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh

Vượng đã có công trình nghiên cứu "Truyền thống phụ nữ Việt Nam" do Nxb Văn hóa
- dân tộc phát hành năm 2000. Ngoài ra còn có nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu về
truyền thống đạo đức người phụ nữ.
Trước những đổi thay không ngừng của đất nước, nhiều chuẩn mực đạo đức
mới ra đời, nhưng cũng nhiều giá trị đạo đức truyền thống dân tộc bị mai một, suy
thoái. Vì vậy, việc nghiên cứu, xác định các giá trị đạo đức truyền thống cần được kế
thừa, phát huy trong điều kiện mới có nhiều công trình khoa học nghiên cứu như: Hội
nghị khoa học "Giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam" do Viện Mác - Lênin và Tạp chí
Cộng sản tổ chức năm 1982 được in trong hai tập sách có tên "Về giá trị văn hóa tinh
thần Việt Nam" do Nhà xuất bản Thông tin lý luận ấn hành năm 1983. Công trình khoa
học công nghệ cấp Nhà nước "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội" (KX-07) trong đó có kết quả của đề tài "Các giá trị truyền thống

và con người Việt Nam hiện nay" (KX-07-02) khẳng định các giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc cần được phát huy trong giai đoạn cách mạng mới.
Cùng với việc nghiên cứu các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc có nhiều
công trình nghiên cứu về đạo đức như "Đạo đức mới" của GS Vũ Khiêu (Nxb Khoa học
xã hội, 1974); "Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới" của GS Tương Lai (Nxb
Sự thật, 1983), và Hội nghị khoa học "Về việc nghiên cứu những vấn đề đạo đức trong
thời kỳ quá độ" do Ban Đạo đức học - Viện Triết học và ủy ban Khoa học xã hội nhân
văn tổ chức năm 1983, với các chủ đề: Phụ nữ và vấn đề hình thành đạo đức mới, văn hóa
đạo đức và vấn đề giáo dục con người mới, truyền thống và hiện đại trên lĩnh vực đạo
đức
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí Trung ương và
địa phương đề cập đến vấn đề kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc như "Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất
nước, dân tộc" của PGS Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí Triết học, số 4, 1998); "Sự biến
đổi của thang giá trị đạo đức trong xã hội ta hiện nay và việc nâng cao phẩm chất đạo
đức của cán bộ" của PGS Nguyễn Chí Mỳ và Nguyễn Thế Kiệt (Tạp chí Cộng sản, số
15, 1998) ; một số công trình nghiên cứu của cá nhân như "Kế thừa giá trị đạo đức

người phụ nữ hiện nay, được nảy sinh từ khi Đảng ta chủ trương tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước (1986), qua khảo sát thực tế tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phát huy giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc, vấn đề xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ.

Phương pháp chủ yếu để thực hiện luận văn này là tổng hợp các nguyên tắc
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
trong đó chủ yếu là phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, trừu tượng - cụ
thể. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để so sánh đối
chiếu, sử dụng những số liệu của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Vĩnh Phúc đã được công
bố.
6. Cái mới và ý nghĩa của luận văn
Luận văn xác định được những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần phát
huy đối với người phụ nữ Việt Nam; những yêu cầu, nội dung cơ bản về chuẩn mực
đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay.
Luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ
Việt Nam hiện nay.
Luận văn góp phần vào việc nhận thức vai trò lâu dài của việc phát huy các giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước hiện nay.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
học tập về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ, về đạo đức mới
của người phụ nữ trong trường Đảng và các trường học ở Vĩnh Phúc.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được trình bày trong hai chương, bốn tiết.


thống và giá trị hiện đại. Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình do lịch sử để lại.
Truyền thống dân tộc là những đức tính, những lề thói, phong tục đã trở nên ổn định
được đông đảo thừa nhận và đã ăn sâu vào tâm lý, tập quán xã hội, được nối dài theo
nhiều thế hệ, qua nhiều đời của dân tộc. Từng dân tộc khác nhau có truyền thống khác
nhau, "giá trị truyền thống dân tộc được cô đúc nên trong suốt quá trình hình thành,
tồn tại và phát triển của dân tộc cho nên có thể nói, giá trị truyền thống là cái thể
hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất cốt lõi văn hóa
dân tộc" [39, tr. 9].
Dân tộc Việt Nam với các điều kiện địa lý, môi trường, lịch sử và xã hội đã
hình thành nên những nét giá trị truyền thống riêng.
Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân
tộc Việt Nam, nó là một dòng chảy liên tục nảy sinh, phát triển trong suốt tiến trình
dựng nước, giữ nước của cha ông ta, và được tích lũy, lưu truyền, chắt lọc, chuyển
giao, tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời này qua đời khác. Giá trị đạo đức
truyền thống là cái tồn tại mãi mãi với dân tộc "sau tất cả những gì đã mất đi trong quá
trình vận động" [46, tr. 103].
Từ trước tới nay, việc nghiên cứu để xác định các giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc đã được nhiều người, nhiều nhà khoa học quan tâm.
GS Trần Văn Giàu cho rằng, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt
Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa
[25, tr. 94].
GS Vũ Khiêu đưa ra quan điểm, trong những truyền thống quý báu của dân
tộc, nổi bật nhất là truyền thống đạo đức và khẳng định, truyền thống đạo đức của dân

tộc ta bao gồm: lòng yêu nước; truyền thống đoàn kết; lao động cần cù và sáng tạo;
tinh thần nhân đạo lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó yêu nước là bậc
thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [42, tr. 74-86].
Kết quả nghiên cứu của Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước:
"Con người Việt Nam - và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX-07) cũng
khẳng định: cốt lõi của các giá trị truyền thống là đạo đức, phẩm chất, nhân cách con

một giá trị, một động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy biết bao thế hệ kiên
cường, anh dũng hy sinh để giành lại và giữ gìn nền độc lập Tổ quốc, bảo vệ những
phẩm giá của chính con người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là một giá trị
mà nó còn là cội nguồn, là cơ sở của các giá trị khác, nhất là các giá trị văn hóa.
Yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi con người Việt Nam, nó là thước đo giá
trị nhân phẩm của con người, chi phối mỗi người trong suy nghĩ và hành động. Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại
sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua
mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước
[60, tr. 171].
Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước. Vì vậy, yêu nước đối với
nhân dân ta trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn
hóa để tạo sức mạnh bên trong bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được thể hiện cụ thể ở lòng dũng cảm và ý chí
bất khuất, đó là chủ nghĩa anh hùng. Là những người hết mực yêu hòa bình, yêu tự do,
nên khi bờ cõi bị xâm chiếm, nhân dân bị nô lệ, người Việt Nam "thà hy sinh tất cả

chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" [59, tr. 480]. Chủ
nghĩa yêu nước là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện
đại" [25, tr. 100], nó trở thành đạo lý và lẽ sống của mỗi người được sinh ra và lớn lên
trên đất nước Việt Nam.
Truyền thống yêu nước của người Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với lòng
thương yêu và quý trọng con người, nhất là người lao động.
Lòng thương người của dân tộc ta thấm đượm trong các mối quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình, trong làng xóm và trong cả cộng đồng dân tộc. Người Việt
coi trọng tình nghĩa hơn lễ nghĩa. Tình ở đây là tình cảm sâu sắc "máu chảy ruột
mềm", thương nhau giữa những người trong một nước. Nghĩa ở đây là trách nhiệm của
mỗi người trước sự sống còn của đất nước, tình nghĩa ở đây cũng là thái độ thủy chung

sống, chia rẽ thì chết", và "một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi
cao". Cho nên, có thể nói, tinh thần đoàn kết là nguồn sức mạnh lớn lao giúp nhân dân
ta vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên và đánh thắng mọi thế lực
xâm lược.
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và là
biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước, là động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp cách mạng
giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đoàn kết là một truyền
thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta", Người căn dặn mỗi cán bộ đảng viên
" cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt
mình" [63, tr. 510]. Tinh thần đoàn kết cộng đồng là nét quan trọng trong ý thức và
tâm hồn của người Việt Nam. Những lễ hội truyền thống với niềm hân hoan và sự
đồng cảm được tổ chức hàng năm lại thắt chặt thêm mối quan hệ cộng đồng. Cộng
đồng là điểm tựa của người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày, trong hòa bình và
trong chiến tranh.

Cần cù và tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, nó được
hình thành do điều kiện sản xuất và đấu tranh xã hội trong lịch sử dân tộc. Nó thể hiện
ý thức trách nhiệm của mỗi người trong cuộc sống, trong sự nghiệp phát triển đất
nước. Cần cù gắn liền với tiết kiệm, cần mà không kiệm thì cuộc sống trở nên "ăn xổi",
bấp bênh. Kiệm mà không cần thì không có gì để kiệm. Do đó, trong cuộc sống phải
biết khéo léo lo toan, sắp xếp hợp lý, tránh những lãng phí không cần thiết. Chính với
truyền thống cần cù và tiết kiệm ấy, cha ông ta đã phát huy được sức mạnh của mình
trong những cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại và đã đạt được những thành quả to lớn
để lại cho chúng ta ngày nay.
Ngoài những giá trị chủ yếu trên, trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc còn có những đức tính phổ biến như lòng dũng cảm, tính khiêm tốn, trung
thực, giản dị, lạc quan Nhờ có những phẩm chất đó, dân tộc ta mới dám đương đầu
và đã giành thắng lợi với mọi thiên tai, địch họa nhiều khi tưởng không vượt qua nổi.
Người Việt Nam khiêm tốn nhưng không hạ thấp mình; giản dị nên không ưa cầu kỳ,
phô trương hình thức; trung thực nên ghét những sự thay lòng đổi dạ; lạc quan và niềm

Truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
lên vị trí hàng đầu những giá trị đạo đức cao cả của người phụ nữ Việt Nam. Hai Bà
Trưng và các nữ tướng của Hai Bà là những phụ nữ Việt Nam đã dựng nên tấm gương
"anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" ngay từ thế kỷ đầu Công nguyên. Cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã "có tác dụng mở đường, đặt phương hướng cho cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc về sau này. Bất kỳ tình huống nào, nhân dân ta quyết giành
độc lập hoàn toàn. Nó là một biểu hiện của sức sống mãnh liệt của dân tộc, và đã góp
phần chỉ rõ con đường sống và tiến bộ của dân tộc ta" [86, tr. 60]. Tiếp nối gương Hai

Bà, những người phụ nữ như bà Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân, bà Ba Cai Vàng,
Nguyễn Thị Minh Khai mãi mãi ghi tên trong sử xanh dân tộc.
Trong kháng chiến chống Mỹ phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc,
phụ nữ Việt Nam đã kiên cường, anh dũng đấu tranh với kẻ thù trên các mặt trận sản
xuất, chiến đấu. ở miền Bắc, chị em hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu
nước, đóng góp cao nhất sức người, sức của để xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa, hậu phương vững chắc của miền Nam. Hàng chục nghìn phụ nữ trực tiếp
chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các mặt trận theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: "Tất cả vì miền Nam ruột thịt". ở miền Nam, chị em phụ nữ đã đoàn kết cùng
nhau đánh địch dưới mọi hình thức: đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị, binh vận,
biểu tình, "Đội quân tóc dài" - một biểu tượng tinh thần độc đáo đã dũng cảm, mưu
trí, linh hoạt trong đấu tranh cách mạng của phụ nữ Việt Nam. Có thể nói, phụ nữ ở
hậu phương cũng như tiền tuyến đã đóng góp to lớn vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc,
giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thành tích vẻ vang và phẩm chất cao đẹp
của phụ nữ Việt Nam thời kỳ này xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ khen tặng.
Phụ nữ Việt Nam không chỉ đánh giặc giỏi mà họ còn rất cần cù, đảm đang
trong sản xuất, trong công việc gia đình và tham gia hoạt động xã hội.
Từ xưa tới nay, phụ nữ giữ vị trí không thể thiếu trong gia đình. Họ lo toan chi
phí kinh tế, đảm nhận những công việc rất đặc trưng của nữ giới, đó là "nữ công gia
chánh". Trong lịch sử, phụ nữ nước ta luôn khẳng định vai trò quan trọng và có những
đóng góp to lớn, vào quá trình phát triển của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng

thực hiện chức năng thiêng liêng của người phụ nữ, là điều mà Mác - Ăngghen gọi là
"Sự phân công lao động đầu tiên là sự phân công giữa đàn ông và đàn bà trong việc
sinh con đẻ cái" [58, tr. 104].
Trong gia đình, cùng với người chồng, người phụ nữ là người thường xuyên
trực tiếp nuôi dạy con cái, họ dịu hiền và khéo léo. Hình ảnh người mẹ với những lời

mẹ dạy có ảnh hưởng lâu bền đối với quá trình phát triển của con cái, đặc biệt là trong
lĩnh vực thẩm mỹ, văn hóa gia đình, vai trò của người mẹ chiếm ưu thế tuyệt đối.
Người phụ nữ chính là người thầy, nhà giáo dục đầu tiên của con cái mình.
Chính những lời dạy bảo con cái của người mẹ, những lời ru, câu hát của các
thế hệ bà mẹ Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển tinh
hoa của nền văn hóa dân tộc. Bà mẹ Việt Nam nuôi dạy các con theo tinh thần và ngôn
ngữ Việt. Từ những lời ru, tiếng nói hàng ngày, đến những câu chuyện cổ tích phản
ánh cuộc sống và tâm hồn người Việt đưa con vào giấc ngủ, người mẹ đã truyền cho
con tình yêu quê hương, đất nước, đạo lý làm người nền văn hóa dân tộc đã được
người phụ nữ truyền cho thế hệ mai sau một cách thường xuyên tự giác.
Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc còn thể hiện tài năng của mình trong
văn chương, học thuật nước nhà. Thế kỷ XV, Nguyễn Thị Lộ, vợ nhà anh hùng dân tộc
Nguyễn Trãi là người có tài năng văn học tuyệt vời nên được mời vào triều làm chức
Lễ nghi học sĩ. Bà Ngô Chi Lan giỏi văn chương được Lê Thánh Tông vời vào triều
dạy cung nữ. Đoàn Thị Điểm đã mở trường dạy học cho Nho sinh. Hồ Xuân Hương
người tài dùng thơ văn chiến đấu chống lại lễ giáo và đạo đức phong kiến, đấu tranh
cho quyền sống và hạnh phúc của phụ nữ
Phụ nữ Việt Nam cũng là người khai sinh, xây dựng một số loại hình nghệ
thuật dân tộc như, bà Phạm Thị Trân - bà tổ nghề chèo, một loại hình nghệ thuật lấy
tích truyện rút ra từ cuộc sống, thể hiện sự khéo léo kết hợp giữa việc giáo dục nghệ
thuật và việc cổ vũ tinh thần chiến đấu vì độc lập dân tộc cho quân lính của bà thời vua
Đinh (thế kỷ X)
Những phẩm chất quý báu: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, thủy
chung của phụ nữ Việt Nam truyền thống đã được phụ nữ cả nước kế thừa phát huy

bao cấp nên khi đi vào kinh tế thị trường có người cho rằng, kinh tế thị trường và đạo

đức là hai mặt luôn đối lập, nó không thể dung hòa. Nếu như kinh tế thị trường phát
triển thì đạo đức truyền thống sẽ bị suy thoái. Có người đưa ra ý kiến rằng, kinh tế thị
trường làm cho con người hoạt động năng động, sáng tạo hơn, sẽ thúc đẩy sự tiến bộ
trong đời sống đạo đức.
Cả hai ý kiến trên đều tuyệt đối hóa mặt tích cực hoặc tiêu cực của kinh tế thị
trường tác động đến đạo đức mà không thấy được mối quan hệ qua lại, tác động lẫn
nhau giữa chúng. Kinh tế thị trường là phương tiện hữu hiệu để phát triển kinh tế, là
một nhân tố tác động tích cực đến sự phát triển đạo đức. Nhưng bản thân kinh tế thị
trường tự nó không thể giải quyết được các vấn đề xã hội, thậm chí còn làm nảy sinh
những tiêu cực, suy thoái đạo đức xã hội. Vì vậy, khi nói đến tác động của kinh tế thị
trường đối với đạo đức phải thấy được tính tích cực và tiêu cực của nó đối với đời
sống xã hội nói chung, đời sống đạo đức nói riêng.
Sự tác động của kinh tế thị trường trong lĩnh vực đạo đức nói chung, đạo đức
phụ nữ nói riêng làm biến đổi các giá trị đạo đức. Bên cạnh những biến đổi mang ý
nghĩa tích cực, tiến bộ, cũng xuất hiện không ít những hiện tượng xuống cấp về đạo
đức đáng báo động. Sự tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức của người phụ nữ
được thể hiện:
Kinh tế thị trường làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển kinh tế
nhưng nó cũng đẩy nhanh sự phân hóa giàu nghèo, làm sâu sắc thêm những bất bình
đẳng xã hội, phá vỡ sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Trong nền
kinh tế đó sự phân công lao động theo ngành nghề, lĩnh vực, theo giới và theo trình độ
phân cực rõ nét. Phụ nữ thường lao động trong những ngành nghề, lĩnh vực có thu
nhập thấp. Trong điều kiện như vậy, việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc, truyền thống đạo đức phụ nữ trong quá trình hình thành đạo đức mới của người
phụ nữ không tránh khỏi những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với đạo
đức của người phụ nữ hiện nay.

Kinh tế thị trường bằng lợi ích vật chất, kích thích mọi sự suy nghĩ, tìm tòi và

tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới để bổ sung, làm phong phú và nâng cao
nền văn hóa nước nhà. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập cũng xuất hiện những sách,
báo, phim ảnh không lành mạnh, những ấn phẩm có nội dung bạo lực, tự do tình dục
bằng nhiều con đường ngõ ngách thông qua mở cửa đã xâm nhập vào nước ta, tuyên
truyền cho lối sống thực dụng, hiện sinh, ảnh hưởng tiêu cực tới lối sống, đạo đức của
phụ nữ, làm băng hoại nhân phẩm của chị em. Đồng thời làm cho nhiều giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc, truyền thống đạo đức phụ nữ bị xâm phạm, bị bào mòn trong
thời gian vừa qua. Những ấn phẩm phản văn hóa đó dẫn đến các hoạt động lạm dụng
tình dục phụ nữ và trẻ em, đáng chú ý là tệ nạn xã hội trước đây chỉ diễn ra tự phát,
quy mô nhỏ thì nay có nguy cơ lan rộng và có tính tổ chức cao như hình thành các
nhóm chủ chứa, môi giới, tổ chức các đường đây buôn bán gái mại dâm, ma túy v.v
với quy mô quốc gia và quốc tế. Hoạt động mại dâm khá phổ biến trong các khách sạn,
nhà hàng, điểm karaokê, masseger, các quán "cà phê vườn", mại dâm cùng với ma túy
là những tác nhân làm lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm tới tính mạng con
người, chúng làm tổn thương nặng nề đến tâm hồn, phẩm giá của người phụ nữ, tác
động tiêu cực đến tâm lý, đạo đức của họ trong cuộc sống.
Từ những nhân tố tác động đến đạo đức của phụ nữ, cho thấy, bản thân các giá
trị đạo đức của người phụ nữ luôn luôn bị thử thách trước tác động của nền kinh tế thị
trường, của các hiện tượng phản văn hóa từ việc nhỏ đến việc lớn, từ gia đình đến xã
hội. Điều đó làm cho đạo đức của người phụ nữ đứng trước nguy cơ bị suy thoái
nghiêm trọng. Dĩ nhiên, điều này cũng có nguyên nhân từ chính chị em phụ nữ, đó là,
phụ nữ còn hạn chế về trình độ kiến thức mọi mặt, sự hiểu biết về giới và pháp luật,
khả năng tiếp nhận và chọn lọc thông tin còn chưa nhanh nhạy nên rất dễ thay đổi khi
hoàn cảnh và điều kiện đổi thay, nhiều trường hợp người phụ nữ trở thành nạn nhân
của các tệ nạn xã hội một cách không tự giác. Nói cách khác, họ bị cuốn hút vào cơn

lốc của nền kinh tế thị trường, vào các hiện tượng phản văn hóa và nhiều người đã
không tự ý thức và không tự chống đỡ nổi.
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa, mở rộng quan hệ quốc tế đã tạo ra những cơ
hội về vốn, khoa học công nghệ để chúng ta phát triển đất nước. Nhưng đây cũng là

thì giờ đây các giá trị ấy vẫn không ngừng được phát huy những ảnh hưởng tích cực
của mình trong quá trình xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện đại.
1.2.2. Nội dung, yêu cầu của việc xây dựng đạo đức mới và những giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc cần phát huy
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội và là một bộ phận của kiến trúc thượng
tầng. Đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các hình thái ý thức xã hội khác như hình
thái ý thức chính trị, hình thái ý thức pháp luật, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật mỗi
hình thái ý thức xã hội là sự phản ánh một mặt của tồn tại xã hội. Đạo đức cũng phản
ánh tồn tại xã hội và thay đổi theo sự thay đổi của tồn tại xã hội. Mỗi hiện tượng đạo
đức đều có nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, cơ sở giai cấp ra đời đạo đức đó.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mỗi giai cấp có quan niệm đạo đức phù hợp với lợi
ích của mình. Luận chứng cho bản chất xã hội của đạo đức, Mác - Ăngghen đặc biệt
chú ý đến tính giai cấp của đạo đức, trong tác phẩm "Chống Đuy rinh" Ph.Ăngghen
khẳng định:
Xét cho đến cùng, mọi thuyết về đạo đức đã có từ trước tới nay đều
là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Và vì cho tới nay
xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng
luôn luôn là đạo đức của giai cấp: hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi
ích của giai cấp thống trị, hoặc là, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì
nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho
lợi ích tương lai của những người bị áp bức [57, tr 137].

V.I. Lênin phê phán những quan điểm mơ hồ về những kiểu đạo đức phi giai
cấp, và nêu lên một kiểu đạo đức hoàn toàn mới, đạo đức của giai cấp công nhân. Đạo
đức này hoàn toàn đối lập với mọi kiểu đạo đức của các giai cấp bóc lột. Lênin viết:
"Chúng ta nói rằng: đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc
lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản
đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản" [49, tr. 369].
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng ta và Hồ Chủ tịch đã không
ngừng giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân. Đạo đức mới

sâu sắc đã từng tạo nên ý nghĩa tích cực trong sự phát triển đạo đức của người phụ nữ
Việt Nam khi xưa, thì giờ đây những giá trị ấy vẫn không ngừng phát huy những ảnh
hưởng tích cực trong quá trình xây dựng đạo đức mới cho người phụ nữ hiện đại. Đảng
và Nhà nước ta đã ghi nhận vai trò của giá trị đạo đức truyền thống đối với tư duy và
hành động của phụ nữ nước ta trong sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Tuy nhiên, trong khi kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần kiên
quyết loại bỏ những truyền thống cũ lỗi thời, không còn phù hợp, đồng thời qua thực
tiễn khẳng định những giá trị mới nảy sinh phù hợp với giai đoạn phát triển mới của
đất nước. Sự biến động mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế xã hội, tất yếu dẫn đến sự
chuyển đổi thang giá trị đạo đức một cách nhanh chóng, phức tạp, có cả tích cực và
tiêu cực. Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa cái thiện và cái ác, giữa
hai lối sống có lý tưởng lành mạnh, trung thực, thủy chung với lối sống thực dụng, dối
trá ích kỷ, chạy theo đồng tiền hết sức quyết liệt. Đạo đức mới của người phụ nữ vừa
phải đấu tranh với các hệ thống đạo đức khác vừa phải tự đổi mới, tự khẳng định mình
trong điều kiện mới.

Trích đoạn Coi trọng giáo dục, tự giáo dục nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status