Quan niệm về người phụ nữ trong giáo lý đạo Phật và ảnh hưởng của nó đến cuộc sống của người phụ nữ Việt Nam hiện nay - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những tôn giáo tồn tại trên thế giới, có thể nói rằng Phật giáo là
một tôn giáo có tính thực tiễn. Thực tiễn ngay từ khi Phật giáo ra đời. Chứng
kiến cảnh khổ đau của con người, sinh - lão - bệnh - tử như một quy luật vô
thường của thế gian, đức Phật hiểu rằng cần phải làm gì để con người nhận ra
sự vô thường ấy, giải thoát con người khỏi vòng khổ đau do chính con người
gây ra. Giáo lý của đức Phật xuất phát từ con người, nhằm mục đích vì con
người. Ngài đưa ra Tứ đế, Nhân duyên, Luân hồi nghiệp báo, Thiền định, Niết
bàn...tất cả vì con người. Trong những lời thuyết giáo đó, Ngài đã dành một
phần nhỏ để nói về người phụ nữ - người phụ nữ trong xã hội Ấn Độ cổ đại
bấy giờ. Nhưng những giáo lý, quan niệm đó có phải chỉ dành cho phụ nữ Ấn
Độ cách đây 2600 năm hay không?
Khi nghiên cứu, tìm hiểu giáo lý Phật giáo ta thấy dường như có sự mâu
thuẫn khi một mặt Ngài đề cao, coi trọng người phụ nữ trong cuộc sống đời
thường. Mặt khác Ngài cho rằng nền chánh pháp đáng lẽ trụ thế 1000 năm hoặc
lâu hơn nữa nhưng vì cho hàng nữ xuất gia nên nền chánh pháp bị giảm bớt chỉ
trụ thế 500 năm. Đức Phật đã lý giải ra sao trong giáo lý của mình. Điều đó có
mâu thuẫn không? Vấn đề này đã làm cho nhiều người hiểu sai giáo lý của
Ngài. Tuy nhiên vào thời gian đó, khi xã hội Ấn Độ có sự phân biệt đẳng cấp
khá nặng nề. Người phụ nữ bị coi là đẳng cấp thứ tư trong hệ thống bốn đẳng
cấp. Đức Phật đã làm một điều phi thường đó là nâng cao địa vị người phụ nữ
lên so với các đẳng cấp khác. Ngài được coi là người khởi xướng cho phong
trào giải phóng phụ nữ và phong trào bình đẳng giới hiện nay.
Sự phát triển của kinh tế, xã hội đã nâng cao vai trò của người phụ nữ
trong mọi lĩnh vực của đời sống. Những biến động xã hội và những luồng tư
tưởng mới ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống của người phụ nữ. Trong
khoảng 40 năm trở lại đây, phong trào giải phóng phụ nữ không ngớt làm sôi
động dư luận. Năm 1952, Liên Hợp Quốc long trọng tuyên khai bản Tuyên

1

người phụ nữ.
Chương trình Phật học cơ bản- Giáo hội Phật giáo Việt Nam - NXB
TP Hồ Chí Minh, đã đưa ra những vấn đề bao quát trong giáo lý Phật giáo và
ảnh hưởng của Phật giáo đến xã hội hiện nay.
2


Cuốn sách Giáo lý cơ bản, dịch giả Hòa thượng Thích Hân Hiền - NXB
TP Hồ Chí Minh. Trong tác phẩm này nói về một số vấn đề như Tam bảo, Thập
nhị nhân duyên, Tứ đế, Giới luật... đây là những giáo lý cơ bản và là nền tảng
Phật pháp giúp ích cho mọi người trong quá trình đến với đạo Phật.
Nữ học giả Isaline Blew Horne (1896- 1981) với tác phẩm Vai trò nữ giới
trong Phật giáo nguyên thủy- xuất bản 1930 đã trình bày những kiến thức rộng rãi,
sinh động về vai trò của người phụ nữ trong xã hội Ấn Độ thế kỷ VI. TCN.
Tác giả Diana Mary Paul với công trình Địa vị người đàn bà trong
đạo Phật nguyên thủy (1980) đã nghiên cứu quan niệm của đức Phật về vị trí
người phụ nữ chủ yếu trong gia đình, tuy nhiên tác giả chưa đề cập đến địa vị
người phụ nữ trong xã hội, những quan điểm chủ yếu nói về người phụ nữ
phương Tây.
Tác phẩm Lời Phật dạy trong kinh tạng Nikaya - NXB Tổng hợp TP
Hồ Chí Minh đã khái quát những luận điểm cơ bản của đức Phật về nhiệm vụ,
bổn phận của người vợ, người mẹ trong gia đình và cuộc sống đời thường.
Trong Phật học quần nghi - tác giả Hòa thượng Thích Thánh
Nghiêm, dịch giả Thích Minh Quang, tác giả có bài viết “Phật giáo có quan
niệm thế nào về địa vị người phụ nữ”, chủ yếu nói về địa vị của người phụ nữ
xuất gia ở phương Tây và phương Đông, đề cập quyền bình đẳng của họ.
Tiến sĩ, hòa thượng Sri Dhammananda trong cuốn Những viên ngọc
trí tuệ Phật giáo với bài viết “Địa vị người phụ nữ trong Phật giáo” đã đề cập
một cách cơ bản những vấn đề của người phụ nữ trong cuộc sống đời thường
theo quan niệm Phật giáo như vai trò, địa vị của người vợ, người mẹ, người

- Mỗi tác giả có cái nhìn, hướng phân tích riêng về quan niệm của Phật
giáo với người phụ nữ.
- Các công trình nghiên cứu đều đề cập đến địa vị và quyền bình đẳng
của người phụ nữ.
Như vậy có thể nói, trong các công trình nghiên cứu chưa có được sự
khái quát sâu sắc và hệ thống vấn đề quan niệm về người phụ nữ trong giáo lý
đạo Phật và ảnh hưởng của nó đến cuộc sống của người phụ nữ Việt Nam
hiện nay. Vì vậy, tác giả luận văn muốn thông qua đề tài của mình góp phần
làm sáng tỏ thêm vấn đề trên và những công trình nghiên cứu của các tác giả
đi trước là cơ sở cho tác giả tiếp thu và nghiên cứu đề tài của mình.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu những quan niệm của đức Phật về
người phụ nữ trong cuộc sống đời thường và người phụ nữ xuất gia.
4


- Phân tích ảnh hưởng của những quan niệm trên đối với cuộc sống
của người phụ nữ ở Việt Nam.
- Ý nghĩa của những quan niệm về người phụ nữ trong đạo Phật với
việc xây dựng hình tượng người phụ nữ trong xã hội hiện đại.
3.2.Đối tượng nghiên cứu
- Quan niệm về người phụ nữ trong giáo lý đạo Phật và ảnh hưởng của
nó đến phụ nữ Việt Nam hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu quan niệm về người phụ nữ trong những giáo lý,
những lời thuyết giảng của đức Phật được tập trung trong một số kinh sách và
ảnh hưởng của những quan niệm đó đến phụ nữ Việt Nam hiện nay về một số
mặt trong gia đình và ngoài xã hội.
4. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

thiện chí, phục vụ, từ bỏ thế tục, sống cuộc đời mô phạm, phương pháp truyền
bá giáo pháp hiệu quả đã đưa đến sự thành công cuối cùng của Ngài, những
yếu tố đó đã góp phần tôn vinh đức Phật - bậc Đại Sư vĩ đại!
Trong giáo lý đạo Phật, chúng ta thấy Ngài quan tâm tới tất cả chúng
sinh và vạn vật trong vũ trụ. Trong đó có những quan niệm về người phụ nữ
khá sâu sắc, có ý nghĩa không nhỏ với chúng ta ngày nay.

6


1.1. Cơ sở thực tiễn và lý luận của quan niệm về người phụ nữ
trong giáo lý đạo Phật
1.1.1. Cơ sở thực tiễn
Ấn Độ vừa là một đại lục, vừa là một bán đảo, tiếp giáp với nhiều nơi
của nhiều quốc gia như Tây Tạng, Tây Khang, Vân Nam Trung Quốc,
Afghanistan, vịnh Bengan, Srilanka...chính điều đó đã tạo cho Ấn Độ trở
thành cái nôi văn hoá lớn thời bấy giờ. Ấn Độ có đến hàng trăm tộc người
nhưng có 5 tộc người chính là người Vecldas là loại người nguyên thuỷ nhất
phân bố ở vùng cực Nam xa xôi, người Dravidian là tộc người từ 5000 năm
trước ở miền Bắc và Trung Ấn Độ, người Aryan đến Ấn Độ từ những năm
3000- 1500.TCN đánh đuổi người Dravidian, người Hồi giáo đến từ Thổ Nhĩ
Kỳ xâm nhập vào chừng năm 700.TCN, người Mông Cổ ở vùng Tây Bắc. Ấn
Độ có khoảng 200 thứ ngôn ngữ trong đó chủ yếu là tiếng Phệ Đà, tiếng Phạn
phát triển thành chữ Sankit, ngoài ra còn có tiếng Pali đức Phật hay dùng.
Lịch sử Ấn Độ bắt đầu với thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn từ năm
3300- 1700.TCN. Nền văn minh thời đại đồ đá này được tiếp nối bởi thời kỳ
đồ sắt thuộc thời kỳ Vê-đa, thời kỳ đã chứng kiến sự nở rộ của những vương
quốc lớn với cái tên Mahajanapadas. Ấn Độ cổ đại hình thành hai thời kỳ đó
là thời kỳ văn hoá Ha - ra - pa và thời kỳ văn hoá Vê-đa.
Các di chỉ khảo cổ và cổ vật tìm thấy có thể thấy rằng thời kỳ Ha - ra pa có trình độ phát triển không hề thấp, qua khai quật thì đây là một thành

nữa với goá phụ cũng được thực hiện trong thời kỳ này. Phụ nữ khá bình đẳng
với nam giới, họ có quyền được giáo dục, được nghiên cứu kinh Vê - đa, chế
độ một vợ một chồng được thành lập mặc dù chế độ đa phu, đa thê cũng được
biết đến. Có những phụ nữ chiếm những vị trí đáng nể trong xã hội, họ có
quyền tự do chọn chồng... Tuy nhiên đến thời kỳ hậu Vê - đa vị trí của họ bị
thay đổi một cách nhanh chóng.
Thời kỳ hậu Vê - đa đã xuất hiện đẳng cấp góp phần quyết định cơ cấu xã
hội và ảnh hưởng đến hình thái tư tưởng Ấn Độ cổ đại. Đó là chế độ xã hội dựa
trên sự phân biệt chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ
giao tiếp, tục cấm kị trong hôn nhân...được hình thành trong thời kỳ người A - ri
8


- an chinh phục và thống trị người Đra - vi - đa cũng như cả quá trình phân hoá
xã hội ngày càng sâu sắc giữa quý tộc và thường dân A - ri - an. Bên cạnh quá
trình phân hoá giai cấp và hình thành nhà nước, ở Ấn Độ xuất hiện đạo Bà - la
-môn, hình thành chế độ phân chia đẳng cấp còn gọi là chế độ Vác-na.
Đạo Bà - la - môn ra đời vào thời kỳ hậu Vê - đa. Kinh sách của đạo Bà
- la - môn là bốn tập sách Vê - đa (Rich Vê - đa, A - tác - ta Vê - đa, Ya - jua
Vê - đa, Xa - ma Vê - đa). Đạo Bà - la - môn thờ Phạm thiên Thượng đế. Họ
quan niệm thế giới do Phạm thiên sáng tạo nên. Con người có thể xác và linh
hồn, con người sau khi chết linh hồn vẫn tồn tại để được đầu thai vào kiếp
khác, chịu sự chi phối của quy luật luân hồi- nghiệp báo. Việc cúng lễ của đạo
Bà-la-môn rất nhiều và rườm rà, mang yếu tố ma thuật. Đạo Bà-la-môn phát
triển khá mạnh vào giữa thế kỷ I.TCN.
Chế độ phân chia đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ hình thành bốn giai tầng
với thành phần xuất thân khác nhau. Đứng đầu là tầng lớp Bà - la - môn gồm
giới tăng lữ của đạo Bà - la - môn là những người hoạt động tôn giáo chuyên
nghiệp. Đây được coi là đẳng cấp có địa vị cao nhất. Đẳng cấp này thực hiện
chức năng thần quyền và một phần chức năng thế quyền. Mặc dù đạo Bà - la

là Bà - la - môn đẳng cấp được coi là cao quý, trong sạch nhất sánh ngang với
thần thánh, được hưởng mọi đặc quyền, đặc lợi. Đẳng cấp Thủ - đà - la chiếm
đại đa số và ở vị trí tận cùng của xã hội, làm nô lệ cho ba đẳng cấp trên.
Chế độ phân chia đẳng cấp nghiệt ngã như vậy được luật pháp nhà
nước - luật Manu và tôn giáo - đạo Bà - la - môn bảo vệ. Sau khi ra đời, đạo
Bà -la - môn nhanh chóng trở thành tôn giáo chính thống của xã hội Ấn Độ.
Với vị trí độc tôn, đạo Bà - la - môn dùng giáo lý thần quyền để bảo vệ và
bênh vực đẳng cấp cao nhất là đẳng cấp Bà - la - môn. Hầu hết những người
phụ nữ trong xã hội Ấn Độ thời đó được coi là đẳng cấp thứ tư Thủ - đà - la.
Còn trong mỗi giai cấp lại phân biệt người đàn ông là chúa, người đàn bà là
tôi. Một văn hào Ấn - Hemacondra khinh rẻ và xem nữ giới như những “ngọn
đuốc soi sáng con đường dẫn xuống địa ngục”. Người phụ nữ bị khinh rẻ và
chỉ là những món đồ tiêu khiển của đàn ông thuộc giới quý quyền. Sự bắt cóc,
cưỡng ép, buôn bán phụ nữ thường xuyên xảy ra. Trong đời sống thường
nhật, người phụ nữ phải chịu khá nhiều thiệt thòi họ không được ra khỏi nhà
mà không che mặt, không có quyền tham gia các hoạt động xã hội, không có
10


mặt trong các lĩnh vực tôn giáo, những ngày vô tận của họ chỉ là chờ đợi
trong thầm lặng sự viếng thăm của người đàn ông cho đến khi người này chết
thì phải chịu sự thiêu sống để đi theo người đã chết (tục lệ Sati). Sự đau khổ,
bất công tràn ngập khắp xã hội Ấn Độ, các nhà triết lý, lịch sử chỉ bàn luận
những vấn đề siêu hình, bản thể vũ trụ, sự hiện hữu hay không hiện hữu của
linh hồn mà quên đi sự bất bình đẳng con người đang gánh chịu đặc biệt là
người phụ nữ.
Ở Ấn Độ cổ đại, vị trí của người phụ nữ không mang lại cho họ một đời
sống hạnh phúc. Phụ nữ bị coi là thấp kém hơn nam giới. Đôi khi họ được xếp
vào hạng tương tự như người làm thủ công, đầy tớ và thợ thuyền, tự do bị hạn
chế cực độ. Cuộc đời người phụ nữ có thể thấy rằng khi nhỏ họ sống dưới sự

Cũng trong thời kỳ này, các tín ngưỡng đang tồn tại ở Ấn Độ từ học
thuyết vạn vật hữu linh, phong tục thờ ngẫu tượng, thuyết nhất thần luận...
đều sùng bái các nhân vật siêu nhiên, thần thánh. Nhưng con người cũng đã
dồn mọi nỗ lực tìm kiếm về sự sinh tử, bệnh tật, sự già nua, những phương
pháp loại trừ sự ham muốn, hận thù, vô minh. Điều đó đã đưa đến sự ra đời
của Phật giáo - hướng đến con người, vì con người.
Phật giáo khởi thuỷ trong bối cảnh văn hoá, xã hội Ấn Độ còn tồn tại
sự bất bình đẳng nên Phật giáo chia sẻ với Bà - la - môn một số khái niệm nền
tảng tuy rằng đức Phật đưa ra những lối giải thích khác nhau. Điểm quan
trọng chính là ở chỗ đức Phật không chấp nhận những nghi lễ của Bà-la-môn
trên nền tảng của hệ thống giai cấp. Điều này đã đóng góp cho quan điểm của
đức Phật về vị trí của người phụ nữ.
Vị giáo chủ sáng lập ra đạo Phật - Đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni (624544.TCN). Ngài sinh ra thuộc tầng lớp Sát - đế - lị, con vua Tịnh Phan, với
bản tính thông minh, sự nỗ lực rèn luyện nên Ngài tinh thông mọi học thuật.
Sau bốn lần ra ngoài thành thấy cảnh sinh - già - bệnh - tử và hình ảnh người
Sa - môn, Ngài nhận ra cuộc sống không có gì là thường định, không màng
tới cuộc sống xa hoa, Ngài nảy sinh tư tưởng xuất gia và đã dấn thân từ bỏ tất
cả để đi vào con đường tu khổ hạnh tìm cầu chân lý giải thoát. Khi đắc đạo,
Ngài đã thuyết giảng cho toàn chúng sinh thoát khỏi bể khổ của tham - sân si trong cuộc sống hàng ngày hướng đến sự giải thoát hoàn toàn trong tâm.
12


Trước sự phân chia đẳng cấp và sự bất công với người phụ nữ như vậy đã
khiến Ngài lên tiếng bảo vệ người phụ nữ.
Khi còn tại thế, được sống trong sự nuôi dưỡng của người dì, đức Phật
đã nhận ra vai trò to lớn của người phụ nữ trong cuộc sống gia đình. Bà Go
-ta - mi với tinh thần tận tụy, đức hi sinh, ý chí và nghị lực phi thường đã
khiến cho đức Phật nể phục. Khi hoàng hậu Maya băng hà, bà Go - ta - mi đã
chấp nhận hi sinh tình mẫu tử, giao con đẻ của mình cho người khác nuôi
dưỡng để gánh trọng trách chăm sóc, dưỡng dục hoàng tử Siddhattha vừa

mong muốn giải thoát cho hết thảy chúng sinh, mang lại sự bình đẳng cho tất
cả mọi người đặc biệt là người phụ nữ bởi họ phải chịu quá nhiều thiệt thòi,
Ngài hiểu được những khó khăn mà người nữ phải trải qua.
1.1.2. Cơ sở lý luận
Trong xã hội Ấn Độ, sự phân chia đẳng cấp, bất công và coi thường
người phụ nữ không được một tôn giáo nào lên tiếng bảo vệ. Đạo Phật ra đời
và đức Phật đã đưa ra quan niệm để bênh vực người phụ nữ. Những quan
niệm này dựa vào những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong
giáo lý của đạo Bà - la - môn và bộ luật Manu.
Với vị trí độc tôn, Bà - la - môn dùng giáo lý thần quyền để bảo vệ và
bênh vực cho chế độ đẳng cấp nhất là đẳng cấp Bà-la-môn. Khi người Ari - an
vào đất Ấn, phần kinh Vê - đa được họ mang theo chỉ là những câu thơ theo
truyền thống thi ca ở Ba Tư. Tới khoảng năm 1200.TCN, một số nhóm tư tế
Ari - an mới phối hợp với các nghi thức và kinh lễ bản địa, sau định để ghi
nhớ và sử dụng trong các cuộc cúng tế. Tới năm 800.TCN những tụng thi ấy
được gom thành bốn cuốn đó là: Rich Vê - đa đây là cuốn quan trọng nhất
cung cấp hầu hết những giảng huấn cốt tuỷ, là bộ xưa nhất trong bốn bộ kết
tập năm 1200.TCN, Sama Vê - đa bao gồm các giai điệu và các thánh ca, gồm
585 khổ thơ tương ứng với các giai điệu được dùng trong những tụng ca, hiến
tế, Yaju Vê - đa cung cấp những chi tiết cần thiết khi thực hiện các tế lễ và
một chuỗi các công thức hàm chứa các nghi lễ khác nhau, Arthava Vê - đa
bao gồm các thần chú và bùa chú. Đây có thể là những sản phẩm gốc bản địa
có từ trước khi người Ari - an xâm lăng. Mỗi Vê - đa có ba phần ca tụng, nghi
14


thức và giáo điều. Triển khai ý nghĩa ba phần này gồm các bài thuyết giáo có
nội dung triết học thiết thực. Các bài thuyết giáo chứa đựng nội dung tâm linh
căn bản của Hin - đu giáo. Arthava Vê - đa được lấy tên từ các vị tư tế xưa
chuyên lo việc cúng thần lửa gọi là các Arthava. Những gì phù hợp với kinh

suy nghĩ tôi sinh ra trong thân phận thấp hèn, không có nhân quyền, làm thế
nào để có thể đến gần đấng tối cao. Những nhà cơ hội tuyên bố rằng phụ nữ
không được cứu rỗi nếu muốn điều đó họ phải tái sinh là một người nam. Đây
là một điều phi thực tế và vi phạm vào tính nhân quyền của con người. Hơn
5000 phụ nữ bị giết mỗi năm vì không đưa thêm tiền hồi môn. Phụ nữ Ari - an
có thể thiêu sống bởi người chồng bất cứ lúc nào bởi bất cứ lý do gì. Nếu cô
ấy bị nghi ngờ không chung thuỷ thì các chức trách trong làng buộc họ phải đi
qua ngọn lửa. Họ bị trừng phạt bằng cách cho chó cắn trước chứng kiến của
công chúng. Thân phận người phụ nữ bị hạ thấp phẩm giá một cách tệ hại qua
hàng ngàn năm. Đến khi Phật giáo ra đời, người phụ nữ mới được thừa nhận
có vai trò, địa vị như người nam. Mặc dù chưa thể giải thoát phụ nữ ngay khỏi
những định kiến, bất công nhưng đức Phật đã có quan niệm giúp cho xã hội
nhìn nhận lại người phụ nữ ở những khía cạnh khác nhau trong cuộc sống.
Nếu cho rằng các kinh thư của Ấn giáo nói chung chỉ đưa ra những
quan điểm tiêu cực có tính kỳ thị phụ nữ thì cũng không công bằng. Bởi vì
suốt lịch sử Ấn Độ lúc nào cũng có sự hiện diện của các nữ thần và các thầy
dạy đạo phái nữ được các tín đồ hết sức tôn sùng. Nói cách khác, các kinh thư
hàm chứa những quan điểm đa dạng về phụ nữ, có nhiều đoạn nhấn mạnh về
tầm quan trọng của nghi lễ không thể thi hành hoàn hảo nếu không có sự trợ
giúp của người nữ. Tuy nhiên, địa vị của người nữ vẫn hoàn toàn dưới nam
giới, họ luôn cần được cha, chồng hay con trưởng bảo vệ, không bao giờ nên
để cho người phụ nữ được độc lập.
Bên cạnh các cuốn kinh Vê - đa phục vụ cho giai cấp thống trị thì tầng
lớp này còn được bảo hộ bởi bộ luật Manu. Bộ luật Manu vừa là sách kinh
điển tôn giáo đồng thời một bộ sách luật. Đây là bộ luật hoàn chỉnh nhất trong
tất cả các luật lệ cổ ở Ấn Độ được xây dựng vào thời kỳ hậu Vê - đa bởi các
giáo sĩ Bà - la - môn. Thực chất đó là những luật lệ, những tập quán pháp của
16




Không chỉ ở Ấn Độ đưa ra những luật lệ như vậy mà hầu hết các quốc
gia cổ đại đều có những chế định, những bộ luật để bảo vệ vị trí thống trị của
giai cấp mình. Trong đó hầu hết đều có những kỳ thị với người phụ nữ, có
những quy định khá rõ dành riêng cho phái nữ. Ở vùng Lưỡng Hà của
Babilon có bộ luật Hamurabi nổi tiếng, công khai khẳng định hôn nhân mua
bán, trước khi kết hôn bên nam giao nộp cho bên nữ tiền sính lễ và bán thân.
Babilon thực hiện chế độ một vợ một chồng cũng chỉ đối với nữ. Vợ không có
con, chồng có thể lấy vợ lẽ nhưng địa vị người vợ lẽ không thể bằng với
người vợ chính. Nếu vợ lẽ sinh con, không được bán vợ chính những có thể
đưa vào đội ngũ nô lệ. Nếu vợ lẽ không sinh con thì vợ chính có thể bán. Ly
hôn không có sự bình đẳng giữa vợ và chồng. Người vợ nếu có tình ý khác
hay lãng phí làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản gia đình chồng, người
chồng có thể bỏ mà không cấp cho khoản tiền nào. Người chồng cũng có thể
lấy vợ khác, giáng vợ cũ xuống làm nô lệ trong nhà. Người vợ chỉ được phép
bỏ chồng khi thực sự bị chồng ruồng rẫy, nhưng khi con cái còn nhỏ, dù
chồng có chết nếu chưa được phép thì không được tái hôn.
Pháp luật cổ La Mã tuy có điểm khác với các quốc gia cổ đại phương
Đông nhưng cũng biểu hiện chuyên chế gia trưởng phụ quyền trên hết. Quyền
người cha do tập tục đương thời thừa nhận bao gồm quyền lực chi phối cả
nhà, quyền bán con cái, quyền phán xét tư pháp nội bộ, quyền quản lý thờ
cúng trong nhà. Trong hôn nhân cũng có chi tiết phu quyền như phụ quyền
vậy. Nhưng cũng có một số điểm bảo vệ người phụ nữ trong hôn nhân và
cuộc sống gia đình.
Có thể thấy đạo Phật ra đời trong xã hội Ấn Độ cổ đại bắt nguồn từ
những nguyên nhân chính trị xã hội sâu xa, là trào lưu xã hội chống lại đẳng
cấp và đạo Bà - la - môn. Đạo Phật ra đời xét về mặt tư tưởng là sự kế thừa
tiếp nối các học thuyết tư tưởng đương thời. Ấn Độ cổ đại có nền triết học rất
phát triển, không kể giáo thuyết Bà - la - môn còn có sáu trường phái triết học


đến chủ yếu trong Tăng Bộ kinh, Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh và trong
Luật tạng.
19


1.2. Nội dung của quan niệm về người phụ nữ trong giáo lý Phật giáo
1.2.1. Quan niệm về người phụ nữ trong một số tôn giáo
Để hiểu rõ quan niệm của Phật giáo về người phụ nữ chúng ta cần tìm
hiểu hình ảnh người phụ nữ trong những nền văn hoá khác nhau, trong các tôn
giáo khác nhau. Khi các tôn giáo ra đời, đã có một sức ảnh hưởng không nhỏ
không chỉ đến những người dân ở khu vực nó ra đời mà sức ảnh hưởng đó
còn lan toả khắp các khu vực khác nhau trên thế giới. Mỗi đất nước thường có
rất nhiều các tôn giáo khác nhau. Các học giả đều công nhận rằng tất cả các
tôn giáo đều phát sinh từ sự sợ hãi. Vào những thời kỳ xa xưa, con người
khiếp sợ sấm sét, bóng tối và các hiện tượng mà họ không thể khắc phục
được. Nhằm mục đích mong cầu tránh được nguy hiểm, họ luôn tìm cách để
biểu lộ thân phận nhỏ bé, sự ngoan ngoãn đồng thời tôn vinh những thứ ấy.
Sau khi kiến thức và sự hiểu biết của con người phát triển hơn, sự sợ hãi trước
đây với các hiện tượng thiên nhiên, thần linh và các nhân vật trên trời càng trở
nên khôi hài vì sự sợ hãi đã trở nên tinh tế hơn đó là sợ hãi trước những khổ
đau. Với sự sợ hãi này không có một phương tiện vật chất nào làm cho nó
giảm bớt đi được. Con người bắt đầu cảm thấy sợ hãi trước sinh, lão, bệnh, tử
kể cả những nỗi lo buồn khác bắt nguồn từ sự thèm muốn, giận dữ và vô
minh. Đó là điều mà không có một quyền lực hay sự giàu có nào làm nguôi
ngoai được, các tôn giáo cũng phát sinh từ đó.
1.2.1.1. Người phụ nữ trong Do thái giáo và Ki Tô giáo
Đạo Ki Tô phát sinh từ đạo Do thái do đó mọi quan niệm chính yếu
liên quan đến niềm tin tôn giáo của đạo Ki Tô đều được dập khuôn theo đạo
Do thái. Câu chuyện thần thoại Vườn địa đàng của người Sumerians ở
Babilon đã có từ 3000 năm.TCN, trở thành nòng cốt cho niềm tin của Do thái

một thứ quái thai nửa người nửa thiên chúa.
Tội ác dã man mà người phụ nữ phải chịu của Công giáo La Mã và đạo
Tin lành dưới chiêu bài dệt nạn phù thuỷ. Trong tác phẩm Búa phù thuỷ của
hai linh mục quan án đạo Heinrich Kramer và James Sprenger xuất bản vào
năm 1468 được làm tài liệu chính thức cho các quan toà án đạo sử dụng.
Trong sách có in sắc lệnh 1482 của giáo hoàng Innocent VIII, sắc lệnh là văn
21


kiện luật pháp tối cao chỉ đạo công cuộc diệt phù thuỷ. Đây là chứng tích
không thể chỗi cãi về một thời kỳ kinh hoàng cho phụ nữ kéo dài hàng trăm
năm. Bất cứ một phụ nữ nào cũng có thể bị ghép vào tội phù thuỷ. Người phụ
nữ có thể bị hàng xóm thù ghét vu cáo cho tội đã dùng bùa phép làm chết con
bò hay con ngựa của hắn. Ngay lập tức, người phụ nữ bị truy tố ra toà án đạo
và bị kết tội phù thuỷ. Một phụ nữ bỗng nhiên bị nổi ở trên mặt vài cái nốt
ruồi hay mụn cơm có hình thù đặc biệt khiến cho kẻ mê tín tin đó là dấu hiệu
của ma quỷ. Trong sắc lệnh này đã đưa ra nhiều kiến thức lạ lùng về phù thuỷ,
thầy cúng, bói toán như các phù thuỷ có thể thông đồng với quỷ đực và quỷ
cái để gây ra bão táp phá hoại mùa màng, giết hại súc vật, phù thuỷ có khả
năng vận dụng sự di chuyển các ngôi sao để gây ra bệnh hoạn. Họ kết ước với
ma quỷ để có thể biết trước tương lai bằng cách đoán mộng... Đó là những
kiến thức tiêu biểu của giáo hoàng về phù thuỷ. Chủ trương diệt nạn phù thuỷ
đã bắt nguồn từ Cựu Ước ít nhất 3000 năm.TCN. Người phụ nữ bị coi là phù
thuỷ, họ phải mang oan ức này suốt nhiều thế kỷ.
Trên bình diện tôn giáo, hình ảnh người phụ nữ được thể hiện theo mẫu
mực của đạo Do thái. Đạo Do thái được hình thành vào thế kỷ XI.TCN gắn
liền với bộ lạc người Do thái. Những người Do thái tôn thờ thần Ja - hơ - vê
và cho rằng kinh Cựu Ước là nguồn gốc của mọi tín ngưỡng, chứa đựng điều
bí mật vĩ đại. Nó là cảm hứng của thánh Ja - hơ - vê được truyền tới cho giáo
dân qua các nhà tiên tri. Kinh Cựu Ước là bộ kinh người Do thái kính trọng

biệt cái thanh tịnh với cái không thanh tịnh, cái phàm tục với cái thiêng liêng,
người đàn ông không được mặc quần áo của người đàn bà, chết được xem là
không thanh tịnh. Khi gia đình đi lễ ở lễ đường thì người đàn ông ngồi ở hội
trường lớn, còn phụ nữ ngồi ở một khoảng nhà thờ dành riêng cho họ. Giáo sĩ
Do thái bắt buộc đàn ông Do thái phải có con để tăng dân số. Cùng lúc đó, họ
không dấu diếm việc ưa thích bé trai hơn “thật tốt cho những ai có con trai
nhưng thật tồi nếu có con gái, khi đứa bé trai được sinh ra tất cả đều vui
mừng, khi đứa bé gái được sinh ra tất cả đều đau buồn và khi bé trai chào đời
hoà bình đến với thế giới, khi bé gái chào đời chẳng có gì đến cả...” Con gái bị
coi là gánh nặng vất vả, sẽ gây hổ thẹn cho người cha “con gái của ngươi ương
23


ngạnh? Hãy giám sát cô ta cẩn thận để cô ta không làm cho ngươi trở thành
trò cười của kẻ thù, câu chuyện của thành phố, chủ đề của chuyện tầm phào
tầm thường và đặt ngươi vào cảnh xấu hổ công khai, giữ người con gái ương
ngạnh dưới sự kiểm soát chắc chắn, nếu không cô ta sẽ lạm dụng bất kỳ sự xá
tội nào mà cô ta nhận được. Hãy theo dõi nghiêm ngặt đôi mắt trơ tráo của cô
ta, đừng ngạc nhiên nếu cô ta làm ngươi hổ thẹn”. Việc đối xử với con gái như
nguồn gốc gây hổ thẹn dẫn tới việc người ngoại giáo Ả Rập thời tiền Hồi giáo
có hủ tục giết trẻ sơ sinh gái. Những quan điểm của đạo Do thái đã trở thành vũ
khí tư tưởng gây ra các cuộc chiến tranh của một số nước Hồi giáo.
Tuy nhiên, có những đức tính của người phụ nữ mà Ki Tô giáo đưa ra
được kế thừa từ Do thái giáo được mọi người chấp nhận để làm tròn vai trò,
trách nhiệm của mình trong gia đình. Trước tiên, người vợ Ki Tô giáo phải là
người con gái của Chúa, sức mạnh của nàng chủ yếu là để giúp đỡ cho chồng
nàng. Kinh thánh có mô tả nhiều đức tính phải có của một phụ nữ Ki Tô giáo,
bốn đức tính sau đây luôn được nhắc đến thường xuyên. Một là đức tin,
những phụ nữ được Kinh thánh đề cập đến có một niềm tin vững chắc, sâu xa
vào Chúa, vào lời Ngài hứa với chính họ và gia đình họ. Mỗi khi gặp âu lo, họ

nàng biết rằng quyền năng của Thiên Chúa đang hoạt động trong nàng để
giúp nàng thực hiện tất cả. Nàng phục tùng chồng không phải vì nàng có tính
thụ động hay sợ hãi mà vì nàng ý thức được vai trò, trách nhiệm, quyền hành
mà Chúa ban cho nàng. Trong nền văn hoá của chúng ta hôm nay, người phụ
nữ cảm thấy cần phải tỏ ra cứng rắn để có được điều mình muốn nhưng Chúa
lại thích những người phụ nữ nào biết đợi đến giờ Ngài đã ấn định để xem
mọi việc xảy ra. Đó là một thái độ quan trọng mà người phụ nữ nên áp dụng
trong gia đình mình, không lấn át quyền của chồng và Chúa sẽ hoạt động qua
quyền lực của chồng mình. Đức tính thứ tư là thánh thiện. Người phụ nữ Ki
Tô giáo cần phải sống thánh thiện. Kinh thánh nói về những người phụ nữ
biết kính sợ Chúa, luôn sống trong tâm tình cầu nguyện cả ngày lẫn đêm.
Kinh thánh nói đến những đức hạnh đáng nể phục của người phụ nữ. Tương
giao thân thiện giữa người phụ nữ Ki Tô giáo với Chúa tạo nên một phần rất
quan trọng trong tính cách và cuộc đời nàng.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status