ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MAI VAI TRÒ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
DÂN TỘC TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
CHO THANH NIÊN HUYỆN BA VÌ HIỆN NAY Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Dƣơng Văn Thịnh
Hà Nội, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Dương Văn Thịnh. Các số liệu và
nguồn tài liệu được dẫn trích trong luận văn là trung thực, chính xác và có
nguồn gốc xuất sứ rõ ràng. Tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước nhà trường và
pháp luật về lời cam đoan này của tôi.
Hà Nội, ngày 24 tháng 07 năm 2014
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn 7
7. Kết cấu của luận văn 7
NỘI DUNG 8
CHƢƠNG 1: GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VÀ
VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CHO THANH
NIÊN HUYỆN BA VÌ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 8
1.1. Giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam 8
1.1.1. Giá trị đạo đức 8
1.1.2. Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc 11
1.2. Sự cần thiết và nội dung xây dựng đạo đức cho thanh niên huyện Ba Vì 13
1.2.1. Sự cần thiết xây dựng đạo đức cho thanh niên huyện Ba Vì 13
1.2.2. Nội dung xây dựng đạo đức cho thanh niên huyện Ba Vì 36
1.3. Nội dung vai trò của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong
xây dựng đạo đức cho thanh niên huyện Ba Vì hiện nay 44
1.3.1. Vai trò nền tảng trong xây dựng đạo đức cho thanh niên Ba Vì của
giá trị đạo đức truyền thống dân tộc 44
1.3.2. Vai trò động lực trong xây dựng đạo đức cho thanh niên Ba Vì
của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc 46
1.3.3. Vai trò là nhân tố định hướng trong xây dựng đạo đức cho thanh
niên Ba vì của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc 47
Tiểu kết chương 1 51
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC
HIỆN TỐT HƠN VAI TRÒ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN
HUYỆN BA VÌ HIỆN NAY 52
2.1. Thực trạng vai trò giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây
dựng đạo đức cho thanh niên huyện Ba Vì hiện nay 52
2.1.1. Thành tựu và nguyên nhân đưa đến thành tựu của vai trò giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng đạo đức cho thanh niên Ba
Vì hiện nay 52
thống tốt đẹp, đặc biệt là các giá trị đạo đức truyền thống mang đậm tính nhân văn
cao cả, đặc trưng cho cốt lõi văn hóa, tinh thần dân tộc. Xã hội càng phát triển, con
người càng cần phải hiểu sâu sắc hơn những giá trị truyền thống của dân tộc mình.
Càng hướng tới sự văn minh và hiện đại, xã hội càng phải chú trọng đảm bảo những
gía trị đạo đức, văn hóa đạo đức trong phát triển. Nếu không biết kế thừa và phát
huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc thì xã hội sẽ không thể phát triển
bền vững, cuộc sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng không thể bình yên, hạnh
phúc. Là lực lượng nắm giữ vận mệnh đất nước trong tương lai, hơn ai hết, thế hệ
thanh niên Việt Nam càng cần phải được kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức
truyền thống, tiếp thu di sản quý báu mà ông cha để lại, tiếp tục giữ vững và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho nó trường tồn cùng lịch sử.
Thực tế cho thấy, ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào, thanh niên cũng luôn giữ vai
trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn vong và phát triển của đất nước. Sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thanh niên. Khi
đánh giá về thanh niên Hồ Chí Minh khẳng định: Thanh niên là người chủ tương
lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các
thanh niên. Nhận thức đúng vị trí, vai trò của thanh niên Đảng ta khẳng định:
“Sự nghiệp của đất nước ta thành công hay không, đất nước ta bước vào
thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không chủ yếu là do
lực lượng thanh niên ngày nay quyết định. Tương lai của dân tộc Việt Nam, sự
phát triển của đất nước tuỳ thuộc vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên”
[71, tr7]. Chính vì vậy việc giáo dục, đào tạo bồi dưỡng thế hệ thanh niên là một
việc làm thường xuyên và cần thiết.
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo đã và đang mang lại những kết quả to lớn trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Với những thành tựu đó đã tạo điều kiện cho thanh
niên học tập, giao lưu với các nước, đặc biệt là các nước có nền khoa học - công
2
nghệ tiên tiến. Từ đó giúp cho thanh niên tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu,
Mặc dù các chủ thể giáo dục đã có nhiều cố gắng trong quá trình giáo dục
các giá trị đạo đức cho thanh niên, thế nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau đã
làm cho hiệu quả giáo dục chưa cao, thậm chí ở một số nơi cấp ủy Đảng, chính
quyền và tổ chức Đoàn còn xem nhẹ hoặc chưa thấy rõ tầm quan trọng của việc
giáo dục đạo đức cho thanh niên.
Điều đó đang đặt ra yêu cầu bức thiết phải nhận thức đúng đắn, sự cần thiết
và tìm ra những giải pháp thích hợp để phát huy tốt các giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc trong việc xây dựng đạo đức cho thanh niên cả nước nói chung và thanh
niên huyện Ba Vì hiện nay nói riêng. Vì vậy, Tôi chọn đề tài “Vai trò giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức cho thanh niên huyện Ba
Vì hiện nay”làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng
đạo đức nói chung, cho thanh niên nói riêng đã được Đảng ta và nhiều nhà khoa học
bàn đến. Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) Đảng ta đã đề cập đến vấn đề kế thừa
giá trị văn hoá truyền thống dân tộc để xây dựng nền văn hoá Việt Nam với nội
dung “dân tộc - khoa học - đại chúng”; Nghị quyết Trung ương 5 Ban chấphành
trung ương khoá VIII (1998) với nội dung: “Xây dựng và phát triển nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”; Công trình của Trần Văn Giầu: giá trị
tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.
Trong công trình này, tác giả đề cập đến cơ sở hình thành, nội dung và những biểu
hiện của giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, trong đó chủ yếu là những giá trị
đạo đức.Đề tài KX – 07 – 02 mang tên: Các giá trị truyền thống và con người Việt
Nam, do Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang chủ trì, đã nghiên cứu quá trình hình
thành, phát triển và biến đổi của các giá trị truyền thống Việt Nam, phân tích nội
dung cấu thành của truyền thống Việt Nam, đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu của
di sản truyền thống đồng thời đưa ra những khuyến nghị về phương hướng và giải
pháp giáo dục, phát huy các giá trị truyền thống để giải quyết một cách hài hòa mối
quan hệ giữa truyền thống và hiện đại.
Khi đất nước chuyển nền kinh tế từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, tập trung,
dân tộc và dấu ấn Hồ Chí Minh [25, tr.69].
Đó là luận án tiến sỹ triết học của Võ Văn Thắng với đề tài “kế thừa và phát
5
huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc xây dựng lối sống ở Việt
Nam hiện nay”. Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005, trên cơ
sở phân tích thực trạng và những vấn đề đang đặt ra trong quá trình kế thừa và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống ở nước ta hiện
nay, đã nhận định: “Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc để
xây dựng lối sống mới là một quá trình phấn đấu công phu, bền bỉ và khó khăn, đòi
hỏi phải được tiến hành một cách thường xuyên, kiên trì và thận trọng” [65, tr.134].
Một số chuyên khảo tiêu biểu đi sâu nghiên cứu nhằm xác định các giá trị
đạo đức truyền thống làm cơ sở cho việc xây dựng đời sống văn hoá đặc biệt là đời
sống văn hoá và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đó là: luận án tiến sỹ
triết học của Trần Sỹ Phán với đề tài “Giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Học viện Chính Trị
Quốc Gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999; “Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây
dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam” của Nguyễn Đình Quế (luận
văn thạc sỹ, 2000); “Giá trị đạo đức và biểu hiện của nó trong đời sống xã hội” của
Mai Xuân Lợi, (tạp chí Triết học số 3, 2001); “Vấn đề giáo dục đạo đức truyền
thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay”của Doãn Thị Chín (luận văn thạc sỹ, 2004).
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, những luận án,
luận văn còn có nhiều bài báo tập trung tìm hiểu vai trò của giá trị đạo đức truyền
thống trong điều kiện hiện nay, chẳng hạn, Lê Thị Tuyết Ba, “vai trò của đạo đức
đối với sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường” (Tạp chí triết
học, số 5, 2002); Trần Sỹ Phán, “Vai trò của giáo dục đạo đức đối với việc hình
thành và phát triển nhân cách trong giai đoạn hiện nay” (Tạp chí giáo dục lý luận,
số 1, 1999).
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập và luận giải đến nhiều
bình diện khác nhau của đời sống đạo đức xã hội. Trong đó, những vấn đề về vai trò
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và vai trò của nó trong việc xây dựng
đạo đức cho thanh niên huyện Ba Vì hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đạo đức, giá trị đạo đức truyền thống là vấn đề phong phú, phứ ctạp, đòi hỏi
phải được nghiên cứu từ nhiều góc độ, nhiều nhân tố tác động và nhiều khía cạnh
7
khác nhau. Trong phạm vi luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến một số giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc như: truyền thống yêu nước, truyền thống cần cù lao động,
truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái và vai trò của nó trong việc xây dựng
đạo đứcchothanh niên huyện Ba Vì hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt
Nam về đạo đức và đạo đức thanh niên. Ngoài ra luận văn còn tham khảo, kế thừa
có chọn lọc những thành tựu của các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan
đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp giữa phương pháp lịch sử và logic, phân
tích và tổng hợp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, thống
kê để thực hiện mục đích nghiên cứu của đề tài.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Phân tích và làm rõ thực trạng thực hiện vai trò giá trị đạo đức truyền thống
trong việc xây dựng đạo đức cho thanh niên huyện Ba Vì hiện nay.
- Đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn vai trò giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức cho thanh niên huyện Ba Vì hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
đặc biệt là lao động trí óc; ở trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, giá trị đạo đức cao quí
nhất của con người là mang hết sức mình phục vụ mọi người, mình vì mọi người và
mọi người vì mình. Đó là xã hội mà tất cả mọi người dân đều được hưởng ấm no,
hạnh phúc.
9
Bởi vậy, khi phán xét, thẩm định một hệ thống giá trị đạo đức nào đó, chúng
ta không thể dừng lại ở chỗ lý giải nội dung khái niệm của nó mà phải đi sâu tìm
hiểu nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, nền tảng kinh tế xã hội, nghĩa là phải hiểu
tồn tại xã hội đã nảy sinh ra nó. Chuẩn mực đạo đức luôn thay đổi theo tồn tại xã
hội và do vậy, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác “không thể có thứ đạo đức tồn
tại vĩnh viễn”.
Những giá trị đạo đức tiêu biểu bao giờ cũng phản ánh những yêu cầu cơ bản
của xã hội, nó có nhiệm vụ định hướng hành vi con người phù hợp với hoàn cảnh xã
hội. Khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, sẽ dẫn đến những thay đổi trong hệ giá
trị tinh thần xã hội, trong đó có giá trị đạo đức. Đó là sự phản ánh quá trình vận
động và phát triển thường xuyên của các giá trị đạo đức và đó cũng là biểu hiện hợp
qui luật của quá trình vận động, phát triển của đời sống tinh thần xã hội dưới tác
động của những biến đổi diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội.
Các giá trị đạo đức với những biểu hiện khác biệt nhau luôn từ một nền văn
hóa này, một xã hội này di chuyển, thẩm thấu, ảnh hưởng tới một nền văn hóa khác,
một xã hội khác. Trong một chừng mực nhất định, các nhân tố của môi trường
hướng các cá nhân vào các giá trị nào đó và gây ảnh hưởng đến việc lựa chọn các
giá trị, đánh giá các mẫu hành vì tiêu biểu bằng năng lực bản thân. Nếu như năng
lực này kém phát triển sẽ làm giảm khả năng đánh giá các giá trị đạo đức, giảm
thiểu mối quan tâm đến người khác và do đó hạn chế khả năng, phạm vi hoạt động
của con người. Như vậy, bên cạnh những yếu tố môi trường, năng lực bản thân
đóng vai trò rất lớn trong việc tiếp nhận giá trị nào đó để hình thành nên một nhân
cách mới phù hợp với yêu cầu xã hội.
Giá trị đạo đức vừa có tính chuẩn mực, lại vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt và
Với tư cách là sản phẩm của tiến trình phát triển lịch sử, của sự phát triển
kinh tế - xã hội và mang tính thực tiễn - lịch sử cụ thể, các giá trị đạo đức được xác
định là tất cả những gì đem lại sự phát triển, sự tiến bộ cho xã hội và cho cá nhân
mỗi con người. Bởi thế, mọi giá trị đạo đức đều phải hướng tới tính nhân văn đó.
[39, tr.29]
Không có một dân tộc, một xã hội nào lại không có gía trị đạo đức của riêng
mình. Vấn đề đặt ra là con người phải biết lựa chọn những giá trị đạo đức nào là
11
phù hợp, là mang lại ý nghĩa thiết yếu với yêu cầu phát triển của bản thân, của thời
đại, để góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.
1.1.2. Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc có nguồn gốc sâu xa và bắt
nguồn từ đời sống hiện thực của con người, những hoàn cảnh địa lý, môi trường tự
nhiên và lịch sử xã hội. Nhận thức sâu sắc và định hướng đúng đắn việc kế thừa các
gía trị đạo đức truyền thống dân tộc là tiền đề cơ bản để tạo nên đạo đức lành mạnh
của xã hội, góp phần giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy mặt tích
cực và hạn chế đến mức thấp nhất mặt trái của cơ chế thị trường.
Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc là bộ phận cốt lõi trong các giá
trị tinh thần truyền thống của dân tộc. Nói đến các giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc là nói đến những phẩm chất đạo đức tốt đẹp đã được hình thành, phát triển dần
qua suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Đó là những giá trị nhân văn mang tính cộng
đồng, tính ổn định tương đối, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể
hiện trong các chuẩn mực phổ biến, cơ bản nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi
của các cá nhân.
Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc vừa là kết quả, vừa là cơ sở,
động lực của quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và giao lưu văn hóa lâu dài
của dân tộc, góp phần tạo dựng bản lĩnh dân tộc, nhân cách con người Việt Nam.
Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa được
cô đúc nên trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc. Cho
Giá trị đạo đức truyền thống có một vị trí vô cùng quan trọng trong sự tồn tại
và phát triển của dân tộc. Việc kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong giai đoạn phát triển mới của mỗi quốc
gia. Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia. Khi lịch
sử có những biến động lớn thì mỗi dân tộc không vì thế mà phủ định sạch trơn
những giá trị truyền thống đã có từ ngàn xưa mà cần phải biết chắt lọc, kế thừa
những giá trị đó, bổ sung, phát triển làm cho nó trở thành động lực thúc đẩy tiến
trình đi lên của đất nước. Một dân tộc có những giá trị truyền thống bền vững, mạnh
mẽ, có bản sắc văn hóa đậm đà sẽ không bao giờ bị hòa tan hay xóa nhòa cho dù đất
nước có bị xâm lược, có nguy cơ bị thôn tính hay ở trong vòng xoáy của hội nhập.
13
Cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc, cùng với thời gian, các giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển. Những giá trị đạo đức
truyền thống đã trở nên ổn định và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
và trở thành động lực, sức mạnh, bản sắc của nhân cách con người Việt Nam.
Theo Giáo sư Vũ Khiêu, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam
bao gồm: “lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù, tinh thần nhân
đạo, lòng yêu thương và quí trọng con người” [33, tr.74- 86]. Giáo sư Trần Văn
Giầu cho rằng các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu
nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa. Trong các văn
kiện của Đảng ta, đặc biệt là nghị quyết của Bộ chính trị về một số định hướng lớn
trong công tác tư tưởng đã xác định: “những giá trị văn hóa truyền thống bền vững
của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý
thương người như thể thương thân, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao
động” [13, tr.19]
Như vậy từ quan điểm của Đảng và các nhà khoa học ta có thể khẳng định:
dân tộc Việt Nam có một di sản giá trị đạo đức vô cùng phong phú, trong đó các giá
trị điển hình là: tinh thần yêu nước, lòng thương người sâu sắc, tinh thần đoàn kết,
tuổi của thanh niên từ 16 đến 35. Tuy nhiên, vấn đề này còn nhiều ý kiến khác
nhau. Tuỳ thuộc vào nội dung và góc độ nghiên cứu mà có nhiều cách quan niệm
khác nhau về thanh niên. Trong thực tế Việt Nam có rất nhiều cách định nghĩa
khác nhau về thanh niên.
Hồ Chí Minh, khi nói đến thanh niên Người đã đưa ra một khái niệm đầy
hình ảnh: “Một năm bắt đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ
là mùa xuân của xã hội” [54, tr.69]. Hồ Chí Minh cho rằng thanh niên là lứa tuổi
sống động nhất, mạnh mẽ và đẹp đẽ nhất của cuộc đời.
Trong cuốn: “Tìm hiểu một số thuật ngữ về công tác thanh niên” – “Thanh
niên là một tầng lớp người - xã hội đặc thù, với độ tuổi nằm trong giới hạn từ 14,
15 đến trên dưới 30 tuổi”. Trong đề tài nghiên cứu “Tình hình tư tưởng thanh niên
và công tác giáo dục của đoàn thanh niên giai đoạn hiện nay”, quan niệm “Thanh
niên là nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù có độ tuổi nhất định được phân bố rộng
khắp trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, trong các ngành kinh tế xã hội của
đất nước”
15
Từ những quan niệm khác nhau về thanh niên, ta có thể khái quát một số
nét về thanh niên:
Thứ nhất, thanh niên là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ
14, 15 đến trên dưới 30 tuổi. Thanh niên dù xét dưới bất cứ góc độ nào, phương
diện nào cũng thuộc phạm trù con người, phạm trù xã hội. Họ là một lớp người,
một thế hệ sống trong cộng đồng xã hội với những đặc điểm chung, riêng trong
quan hệ với chính họ.
Thứ hai, thanh niên là giai đoạn đang trưởng thành có khả năng phát triển
về trí tuệ và nhân cách mạnh mẽ cùng với sự phát triển nhanh về thể chất. Đây là
giai đoạn có những biến đổi mạnh về tâm sinh lý.
Về sinh lý, lứa tuổi thanh niên được coi là một cấp độ phát triển hoàn
thiện về mặt thể chất như: chiều cao, cân nặng, sự phát triển hoàn thiện của các
cơ quan chức năng Sự phát triển này là điều kiện để thanh niên tự khẳng định
lực lượng kế thừa và tiếp bước các thế hệ cha anh trong tất cả các lĩnh vực.
Có thể thấy, thanh niên là lứa tuổi bắt đầu nở rộ tiềm năng, là lực lượng kế
thừa, tiếp bước thế hệ cha anh để bảo vệ, xây dựng đất nước và thúc đẩy xã hội phát
triển. Vai trò, vị trí của các thế hệ thanh niên ngày càng được nâng cao hơn, nhất là
trong thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày
nay. Bởi vậy thế hệ thanh niên đóng vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp cách
mạng của đất nước. Xã hội kỳ vọng vào thế hệ thanh niên nghị lực tiềm tàng và tính
năng động trong cuộc sống, ở sự tha thiết hướng vào công cuộc đổi mới vào tinh
thần tiên phong dám nghĩ, dám làm, tinh thần trách nhiệm của họ. Xác định được
vai trò và vị trí của thanh niên có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác thanh
niên nói chung và công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho thanh niên nói riêng.
Ngoài những đặc điểm của thanh niên nói chung, do ảnh hưởng của điều
kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa, phong tục,
tập quán của địa phương, thanh niên Ba Vì lại có những đặc điểm riêng.
Huyện Ba Vì được thành lập trên địa bàn các huyện cũ Bất Bạt, Tùng
Thiện và Quảng Oai của Tỉnh Sơn Tây. Thời kỳ 1975 - 1978, Huyện thuộc Tỉnh
Hà Sơn Bình. Từ năm 1978 đến năm 1991 thuộc Thành Phố Hà Nội. Sau đó lại
trở về Tỉnh Hà Tây và từ tháng 8 năm 2008 lại thuộc về Thành Phố Hà Nội.
17
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội
với tổng diện tích 424km
2
, dân số hơn 265 nghìn người (bao gồm 3 dân tộc Kinh,
Mường, Dao), toàn huyện có 31 xã, một thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi, một xã
giữa sông Hồng. Phía đông giáp thị xã Sơn Tây, phía nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía
tây giáp tỉnh Phú Thọ và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia
thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng.
Đất đai huyện Ba Vì được chia làm 2 nhóm, nhóm vùng đồng bằng và nhóm
Núi, rừng, thác, suối, Sông, hồ cùng với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Ao
Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, Hồ Tiên Sa, Thiên Sơn - Suối Ngà, Khu du lịch
Tản Đà, Thác Đa, Hồ Suối Hai, Hồ Cẩm Quỳ, Rừng nguyên sinh Bằng Tạ - Đầm
Long, Đồi cò Ngọc Nhị Nơi có nhiều trang trại đồng quê, nhiều sản phẩm nông
nghiệp phong phú; Có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên tại Thuần Mỹ rất thuận
lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng.
Bên cạnh những Điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của
huyện. Chúng ta có thể thấy những khó khăn thử thách đặt ra với nhân dân Ba Vì
nói chung và thế hệ thanh niên ở Ba Vì nói riêng trong quá trình xây dựng cuộc
sống mới, con người mới.
Là huyện có địa hình khá phức tạp chia cắt nhiều, với diện tích đồng bằng ít
hơn chỉ có 41,1% trong khi nhóm đất vùng đồi núi chiếm 58,9%. Lại là Huyện bán
sơn địa, có rừng núi, trung du và đồng bằng ven sông. Đặc biệt là có xã Minh Châu
nằm ở giữa sông Hồng. Là nơi hợp lưu của ba con sông: sông Đà, sông Thao và
sông Lô cùng đổ vào sông Hồng. Dòng chảy của sông có tốc độ cao, khi có mưa lớn
đập Hòa Bình xả lũ gây ra tình trạng ngập úng, nước tràn, làm vỡ các công trình đê
kè gây ra lũ lụt trên địa bàn các xã ven sông gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống
của nhân dân, đồng thời làm ảnh hưởng tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dẫn đến
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn thấp.
Tóm lại, thiên nhiên ở Ba Vì đa dạng, phong phú, muôn hình, muôn vẻ tạo
cho con người nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn trong quá
trình sử dụng cải tạo và chinh phục tự nhiên để tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội.
Cuộc đấu tranh giữa con người và thiên nhiên ở đây luôn diễn ra. Con người
Ba Vì luôn phải vật lộn với thiên tai, đã hao tổn biết bao sức lực và trí tuệ để chế
19
ngự được phần nào những khó khăn do thiên nhiên gây ra, đồng thời khai thác và sử
dụng các nguồn lực do thiên nhiên ưu đãi. Chính cuộc đấu tranh gian khổ giữa con
người với tự nhiên đã góp phần hun đúc nên tinh thần lao động cần cù, sáng tạo,
chịu thương, chịu khó, ý chí tự lực, tự cường, tình yêu con người với con người, con