MỤC LỤC
Mở đầu
1
CHƯƠNG
1.
KHÁI LƯỢC VỀ TOÀN CẦU HOÁ: TÍNH TẤT YẾU,
KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM
8
1.1.
Toàn cầu hoá: tính tất yếu, khái niệm
8
1.2.
Nội dung, đặc điểm của quá trình toàn cầu hoá trong
bối cảnh hiện nay
23
Chương 2.
Tác động của toàn cầu hóa đối với một số giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc
34
2.1.
Văn hóa và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
34
2.2.
Những ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá đối với
một số giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
50
Chương 3.
Một số nguyên tắc và giải pháp nhằm giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống trước bối cảnh
nước đang phát triển thì phong trào chống toàn cầu hoá (Anti-globalization)
lại diễn ra mạnh mẽ ở các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ Tình hình đó
đặt ra vấn đề buộc các quốc gia dân tộc trên thế giới phải suy ngẫm để tìm ra
phương thức hành động đúng đắn nhất khi tham gia vào quá trình toàn cầu
hoá.
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, toàn cầu hoá đang diễn ra là toàn cầu
hoá chịu sự chi phối của chủ nghĩa tư bản. Kể từ sau khi chiến tranh thế giới
thứ II kết thúc, các nước tư bản chủ nghĩa giữ vai trò chi phối các hoạt động
kinh tế, chính trị trên thế giới. Các nước đó (đứng đầu là Mỹ) mưu toan đóng
vai trò bá chủ thế giới. Toàn cầu hoá hiện đang trở thành một xu thế tất yếu.
Các quốc gia, dân tộc dù muốn hay không muốn đều bị cuốn hút vào quá trình
đó. Việt Nam chúng ta, dĩ nhiên cũng không thể đứng ngoài lề của quá trình
toàn cầu hoá. Song, điều đó hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta tham gia
toàn cầu hoá một cách ồ ạt, thiếu ý thức. Bởi quá trình đó đang đặt ra nguy cơ
chệch hướng xã hội chủ nghĩa, phai nhạt các giá trị truyền thống của dân tộc.
Đứng trước bối cảnh đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã
xác định: “Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng
nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
2
đoàn xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn vừa có mặt tiêu
cực, vừa hợp tác vừa có đấu tranh” [17, tr.64].
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, toàn cầu hoá
vừa tạo ra những cơ hội lẫn thách thức trong quá trình tiến hành hội nhập kinh
tế thế giới và thực hiện công cuộc đổi mới. Đối với cơ hội, phải chuẩn bị tinh
thần và điều kiện để đón lấy, song với thách thức, cần phải có sự chuẩn bị
những giải pháp thích hợp. Vấn đề đặt ra là: làm thế nào để tận dụng tốt nhất
những cơ hội và vượt qua những thách thức do toàn cầu hoá mang lại hay nói
học về toàn cầu hoá, như: Hội thảo khoa học về toàn cầu hóa và chủ động hội
nhập kinh tế của nước ta. Hội thảo khoa học: “Tác động của toàn cầu hoá kinh
tế đối với các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội”. Gần đây nhất, 3/2004, tại
Hà Nội, tạp chí Cộng sản phối hợp với Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế,
Bộ thương mại và Dự án Hợp tác Kinh tế đa biên, tổ chức hội thảo khoa học
với chủ đề: “Hội nhập kinh tế quốc tế - những vấn đề lí luận và thực tiễn”.
Trong các hội thảo đó, nhiều vấn đề liên quan đến toàn cầu hoá đã được các
nhà khoa học dần dần làm sáng rõ. Trên thực tế, người ta có thể nghiên cứu,
tiếp cận toàn cầu hoá từ nhiều góc độ khác nhau, như nhân loại học, nhân
chủng học, kinh tế học, văn hoá học, quốc tế học…
Trên phương diện kinh tế, chúng ta có thể kể ra đây các công trình tiêu
biểu như “Toàn cầu hoá kinh tế”; “Toàn cầu hoá: cơ hội và thách thức đối với
lao động Việt Nam” của Nguyễn Bá Ngọc và Trần Văn Hoan (chủ biên), Nxb
Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2002 và nhiều bài viết về toàn cầu hoá trên các
tạp chí lí luận và tạp chí khoa học chuyên ngành kinh tế. Nhìn chung, những
công trình và các bài viết đó đã cung cấp cho ta một cái nhìn về toàn cầu hoá
trên phương diện kinh tế và tác động tích cực, tiêu cực của nó đối với nền
kinh tế nước ta…
Trên phương diện chính trị, đây có lẽ là vấn đề khá nhạy cảm và phức
tạp, nên chưa thấy có công trình nào đề cập riêng về tác động của toàn cầu
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
4
hoá đối với chính trị, khía cạnh này chủ yếu được tập trung đề cập trong các
bài tiểu luận khoa học, các chuyên đề. Trong đó, đáng chú ý là một số bài viết
bàn về những thách thức của toàn cầu hoá của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn.
Tác giả nhấn mạnh rằng, thách thức của toàn cầu hoá đối với chính trị là quan
trọng nhất [5, tr.368].
Trên lĩnh vực văn hoá, trong mấy năm gần đây, riêng Hội đồng nghiên
Thời gian gần đây, có hai công trình lớn đó là Việt Nam trong thế kỷ
XX, 4 tập và công trình Góp phần nhận thức thế giới đương đại, là kết quả
nghiên cứu đầu tiên của Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước KX.08.
Những công trình đó đã chỉ ra những đặc điểm của thế giới và đặc điểm của
Việt Nam trong thế kỉ XX đã qua và triển vọng trong thời gian tới. Tuy nhiên,
đây là những vấn đề lớn có ý nghĩa bao quát, nó cung cấp cơ sở lí luận và
phương pháp luận cho nhận thức của chúng ta về thế giới, về đất nước, chứ
cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu tổng quan tác động của toàn cầu hoá đối với
một lĩnh vực cơ bản nào của xã hội.
Có thể nói rằng, mặc dù được nghiên cứu khá nhiều, song “toàn cầu
hóa” là một quá trình đang diễn ra theo chiều hướng hết sức phức tạp và có
biểu hiện khá phong phú, đa dạng, đang có những tác động không nhỏ đến
lĩnh vực văn hoá tư tưởng nói chung và giá trị văn hoá truyền thống dân tộc
nói riêng. Do đó, nghiên cứu tác động của toàn cầu hoá và sự tác động của nó
đối với các giá trị văn hoá truyền thống trong khi chúng ta hội nhập kinh tế
thế giới, thực chất là đi tìm những giải pháp tốt nhất để bảo vệ, giữ gìn và
phát huy các giá trị đó trước sự xâm hại của văn hoá thế giới. Đó là một vấn
đề cần thiết, cấp bách và chắc chắn cần phải được nghiên cứu sâu hơn nữa.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Mục đích của luận văn là: nghiên cứu làm rõ sự tác động của toàn cầu
hoá đến lĩnh vực văn hoá truyền thống ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra các
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
6
giải pháp để giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc trong giai đoạn hiện
nay và lâu dài.
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của Luận văn là:
Thứ nhất, trình bày một cách khái quát nội dung và những đặc điểm
chủ yếu của toàn cầu hoá trong giai đoạn hiện nay.
dạy những vấn đề triết học xã hội, các chuyên đề về toàn cầu hoá, .v.v.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục các tài liệu tham khảo, Luận
văn được phân làm 3 chương với 6 tiết.
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
8
Chương 1
KHÁI LƯỢC VỀ TOÀN CẦU HOÁ: TÍNH TẤT YẾU,
KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM
1.1. Toàn cầu hoá: tính tất yếu, khái niệm
Toàn cầu hoá không còn là một hiện tượng quá mới mẻ. Nó đã và đang
diễn ra với những diễn biến hết sức phức tạp. Là một quá trình đang diễn ra
trên tầm độ rộng lớn nên người ta chưa thể định hình nó lại một cách đầy đủ
và có thể nắm bắt bản chất của nó một cách chính xác. Vì thế, cho đến nay,
xung quanh vấn đề này, trên thế giới cũng như ở Việt Nam ta, còn tồn tại
nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Thuật ngữ toàn cầu hoá được đưa vào từ điển tiếng Anh của Webster
năm 1961, nhưng mãi đến năm 1980 thuật ngữ này mới được sử dụng rộng
rãi. Ở Việt Nam, khái niệm toàn cầu hoá và những nội dung đặc điểm của nó
cũng mới được bàn nhiều từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX lại nay. Mặc dù còn
tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, song về cơ bản, có hai loại quan niệm: quan
niệm theo nghĩa rộng và quan niệm theo nghĩa hẹp. Trên cơ sở đó, chúng ta
có thể hệ thống hoá được vô vàn các định nghĩa cụ thể khác nhau về toàn cầu
hoá.
Theo nghĩa rộng, toàn cầu hoá được xác định như là một hiện tượng
hay một quá trình làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ quốc tế trên
nhiều mặt của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh, môi
trong đó sự liên kết chiến lược và mạng lưới quốc tế, các doanh nghiệp (dẫu
có hay không có quan hệ kinh tế đặc biệt) càng phụ thuộc với nhau, càng liên
kết với nhau hơn [65, tr.66]. Một số tác giả khác nhận định, toàn cầu hoá là sự
phân công lao động ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới, thể hiện
trước hết qua sự phân chia các quá trình sản xuất thành nhiều bậc khác nhau
tại các địa điểm khác nhau (trên đây là quan điểm của H.R.Hemmer et at) [65,
tr.66]. Walter Good cho rằng, toàn cầu hoá chỉ khuynh hướng gia tăng các sản
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
10
phẩm có các bộ phận cấu thành được chế tạo ở một loạt nước [3, tr.43]. Các
tác giả thuộc Trung tâm Phương Nam thì cho rằng: "Toàn cầu hoá là sự liên
kết các thị trường hàng hoá và tài chính được thuận lợi bởi quá trình tự do
hoá" [3, tr.44]. Còn Charles P.Oman định nghĩa: toàn cầu hoá là "sự tăng lên
hoặc một cách chính xác hơn là sự tăng ngày càng nhanh của các hoạt động
kinh tế vượt khỏi biên giới quốc gia và các khu vực" [3, tr.44]. Các nhà kinh
tế thuộc UNCTAD đưa ra một định nghĩa đầy đủ và cụ thể hơn rằng: "Toàn
cầu hoá liên hệ với các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hoá và
nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành và cấu
trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và các giao
dịch quốc tế không ngừng gia tăng đó” [3, tr.44].
Tóm lại, các quan niệm này tập trung vào lĩnh vực kinh tế, vào xem xét
toàn cầu hoá dưới góc độ sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông. Theo đó,
toàn cầu hoá chủ yếu diễn ra trên các lĩnh vực tài chính, thương mại, phân
công lao động quốc tế, các nguồn lực và các tổ chức kinh tế trên phạm vi toàn
cầu. Tiếp nối các quan điểm thuộc cách hiểu đó, Ủy ban Châu Âu quan niệm
một cách rõ ràng hơn, chủ yếu dưới góc độ của sự phát triển thị trường toàn
cầu. Theo Ủy ban này, toàn cầu hoá có thể định nghĩa như một quá trình mà
thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng
cầu hoá và khu vực hoá tuy là hai hiện tượng có những khác biệt nhất định
nhưng về cơ bản là thống nhất với nhau. Có thể xem khu vực hoá là một bộ
phận của quá trình toàn cầu hoá, là những bước để đi tới toàn cầu hoá. Nói
cách khác, khu vực hoá là quá trình toàn cầu hoá từng bộ phận và theo khu
vực địa lý, đời sống kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo một nghiên cứu khác của các nhà khoa học Việt Nam, mặc dù có
sự khác nhau về cách trình bày và diễn, song về đại thể, có thể quy các quan
niệm về toàn cầu hoá trong và ngoài nước thành mấy quan niệm sau: toàn cầu
hoá là chủ nghĩa tư bản hoá toàn cầu; toàn cầu hoá là phương Tây hoá; toàn
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
12
cầu hoá là một quá trình lịch sử khách quan; toàn cầu hoá là sự nhất thể hoá
kinh tế chính trị toàn cầu; toàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế.
Ở đây, chúng tôi muốn tập trung tìm hiểu một số quan niệm tiêu biểu.
Xung quanh quan điểm xem toàn cầu hoá là một quá trình lịch sử khách quan,
vẫn còn có các cách lý giải khác nhau. Nhiều ý kiến nhấn mạnh yếu tố phát
triển của lực lượng sản xuất, có ý kiến nhấn mạnh đến khía cạnh quan hệ sản
xuất. Nói tóm lại, các quan niệm này chú ý tới trình độ phát triển của phương
thức sản xuất, tập trung là do yếu tố kinh tế. Đúng là, toàn cầu hoá phản ánh
sự phát triển của lực lượng sản xuất trên quy mô toàn cầu, song vấn đề đặt ra
là, bản chất của các hoạt động kinh tế này ra sao. Quan niệm này nếu không
cẩn thận sẽ đưa lại cách hiểu đơn giản về toàn cầu hoá, trong khi đó, trên thực
tế, toàn cầu hoá là hiện tượng phức tạp, đầy mâu thuẫn. Theo họ, toàn cầu hoá
ra đời và phát triển trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Những tiềm năng to
lớn về khoa học, công nghệ và kinh tế của loài người đã được chủ nghĩa tư
bản phát động lên, những lực lượng sản xuất tiềm tàng của xã hội được chủ
nghĩa tư bản tổ chức và phát triển. Tất cả các yếu tố đó đã tạo ra những thành
tựu làm cơ sở cho sự ra đời kinh tế thị trường với toàn cầu hoá. Cùng với đó,
khoản và thông qua tập quán quốc tế. Trên một số phương diện, quốc tế hoá
là một bước để đi đến toàn cầu hoá. Còn toàn cầu hoá là tập hợp những hiện
tượng vốn chưa có tính toàn cầu nhưng đang vận động vươn lên thành hiện
tượng toàn cầu nhờ sử dụng những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ. Chính thông tin hiện đại với số hoá, tin học hoá và mạng hoá
đã thúc đẩy nhiều quá trình, hiện tượng trong xã hội loài người trở thành hiện
tượng và quá trình bao trùm lên toàn thế giới mà không phải thông qua một
điều ước quốc tế nào. Việc sử dụng tri thức trên phạm vi toàn cầu, sự chi phối
của thể chế thị trường và các công ty siêu quốc gia là bà đỡ chủ yếu cho toàn
cầu hoá kinh tế, văn hoá Nếu như quốc tế hoá còn mang nặng yếu tố chủ
quan thì toàn cầu hoá lại mang tính khách quan hơn.
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
14
Ngoài ra, cũng cần phân biệt thuật ngữ toàn cầu hoá với thuật ngữ thế
giới hoá (Mundialization). Theo các nhà nghiên cứu, thế giới hoá có hai đặc
trưng. Thứ nhất, nó động chạm phần lớn đến các hoạt động của con người.
Thứ hai, nó không đối xứng theo nghĩa là tất cả các hoạt động của con người
đều không được thế giới hoá theo cùng nhịp điệu. Nhiều tác giả thừa nhận, thế
giới hoá đã tồn tại trong nhiều khu vực, nhưng vẫn chưa mang tính toàn cầu.
Đặc trưng quan trọng nhất của nó là không mang tính đối xứng và không
đồng nhất bởi vì tất cả các hoạt động của con người không được thế giới hoá
theo cùng một nhịp điệu. Trong khi các lĩnh vực tài chính doanh nghiệp được
thế giới hoá, thì các lĩnh vực khác như công bằng xã hội, đấu tranh chống
khủng bố, sự cộng tác về thiết chế và hành động của chính phủ… ngược lại
còn bị bó hẹp trong những giới hạn địa lý được xác định rõ [56, tr.42].
Theo chúng tôi, trình tự lôgic đi đến toàn cầu hoá diễn ra theo các cấp
độ từ quốc gia, khu vực tới toàn cầu, trong đó đan xen với nhau các quá trình
như thế giới hoá, khu vực hoá, quốc tế hoá, toàn cầu hoá mà cấp độ tổng hợp
quốc tế hoá về thanh toán không có sự can thiệp, điều chỉnh của nhà nước
cũng như sự tự do hoá của từng nước và sự an toàn đảm bảo của chuyển đổi
tiền tệ đã bổ sung nền kinh tế, trao đổi quốc tế thành cộng đồng thanh toán
quốc tế. Bãi bỏ việc kiểm tra lưu thông vốn, bãi bỏ định mức lãi suất cao nhất
theo quy định của nhà nước cũng như việc thả nổi giao dịch ngân hàng cho
kinh tế tư nhân trong và ngoài nước tại nhiều nước đã góp phần quan trọng
cho con đường tiếp cận không thể ngăn cản và ngày càng tăng trên toàn thế
giới vào các thị trường tài chính và qua đó lưu thông quốc tế tự do trở thành
hiện thực.
Hai là, sự gia tăng năng lực sản xuất trên toàn thế giới. Một nguyên
nhân khác của toàn cầu hoá, theo các tác giả này là sự công nghiệp hoá
(Industrialization) trên phần lớn toàn thế giới mà sự ra đời của các nước công
nghiệp mới (NICs) là biểu hiện cụ thể. Trong hai thập niên vừa qua của thế kỷ
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
16
XX, tại nhiều nước đang phát triển, năng lực sản xuất tăng lên, tham gia vào
nền kinh tế toàn cầu và tạo ra một cuộc cạnh tranh sâu sắc trên nhiều thị
trường… qua đó, những cản trở do thị trường quá nhỏ bé ngăn cản chiến lược
toàn cầu hoá đối với những công ty trong thời gian trước sẽ không còn tồn tại
nữa.
Ba là, sự tiến bộ kĩ thuật đã góp phần giảm chi phí vận chuyển và thông
tin liên lạc. Sự phát triển của kĩ thuật nhằm vượt qua những giới hạn khoảng
cách không gian và thời gian trong sự chuyển động của con người. Công nghệ
vận chuyển và thông tin liên lạc mới, trước hết tạo điều kiện cho toàn cầu hoá
trong điều kiện và tình hình hiện nay. Ví dụ, trước chiến tranh thế giới thứ II
(từ thế kỷ XVI - XVIII) phương tiện vận chuyển chủ yếu là tàu hoả, tàu thuỷ,
những động cơ chạy bằng máy hơi nước. Sau chiến tranh Thế giới thứ II, vận
chuyển chủ yếu được thực hiện bằng máy bay, tàu vận tải quy mô lớn,
Nhìn chung, các quan điểm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam có
nhiều điểm tiếp cận trùng với các tiếp cận về nguyên nhân tất yếu của toàn
cầu hoá của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Song, các tác giả Việt Nam
không chỉ thấy được tính tất yếu về mặt kinh tế mà còn thấy được các nguyên
nhân chính trị - xã hội khác như các vấn đề toàn cầu, nguyên nhân chính trị,
sự chủ động chuyển đổi chính sách của các quốc gia, thấy được mối liên hệ
giữa khu vực hoá và toàn cầu hoá trong việc thúc đẩy toàn cầu hoá.
Chúng tôi cho rằng, các quan niệm trên vừa nêu lên các nguyên nhân
chính và các nhân tố có tính điều kiện thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá. Chúng
tôi đồng ý với các tác giả trên ở ba khía cạnh sau và cho đó là những nguyên
nhân chủ yếu, quan trọng nhất của toàn cầu hoá hiện nay.
Một là, sự phát triển cao của lực lượng sản xuất mà tập trung là ở sự
phát triển cao của trình độ khoa học, kỹ thuật. Quả thật, sự phát triển như vũ
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
18
bão của khoa học, kỹ thuật đã làm phá vỡ hàng rào ngăn cách địa lý trong
giao dịch của con người trên các mặt của quốc gia. Điều này đã thúc đẩy quốc
tế hoá kinh tế lên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới.
Hai là, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường. Quá trình quốc tế
hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát triển của kinh tế thị
trường từ trong các nước tới thị trường toàn cầu. Chúng ta biết rằng, quốc tế
hoá nảy sinh gắn liền với sự hình thành của thị trường liên quốc gia. Kinh tế
thị trường càng phát triển thì nhu cầu về thị trường và nhiên liệu càng trở nên
quan trọng. Kinh tế thị trường càng gắn bó phụ thuộc chặt chẽ vào nhau. Kinh
tế thị trường phát triển đã mở ra cho sự gia tăng xu thế quốc tế hoá thể hiện
trên hai khía cạnh chính. Thứ nhất, kinh tế thị trường mở ra cơ sở, điều kiện
cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho quy mô sản xuất không bó
hẹp trong phạm vi của từng quốc gia mà mang tầm quốc tế. Như vậy, điều đó
phạm vi và cấp độ toàn cầu chủ yếu thông qua quan hệ quốc tế. Cùng với sự
mở rộng các quan hệ đó, các giá trị chung dần dần được hình thành, quan hệ
quốc tế càng mở rộng, các giá chung càng dễ đạt tới quy mô toàn cầu. Toàn
cầu hoá xẩy ra khi quan hệ quốc tế đã phát triển tới mức độ nhất định và đạt
tới quy mô toàn cầu.
Về mặt chủ quan, đó là ý thức của con người về tính thống nhất chung
cho nhân loại và thế giới. Ngay từ xa xưa, con người đã có ý thức về tính
thống nhất của nhân loại, thông qua hình ảnh những vị thần trị vì loài người
mà những vị thần này do các cộng đồng khác nhau tạo nên. Ý thức đó được
củng cố, khẳng định khi những phát kiến địa lý chứng minh trái đất là hình
cầu, rằng không gian sinh tồn của nhân loại là có giới hạn. Nhận thức về tính
chung nhất của con người và thế giới là bền vững và phổ biến, đó chính là cơ
sở và động lực đưa các giá trị chung. Nhận thức này chính là cơ sở chủ quan
của toàn cầu hoá. Tác giả này cũng đã thấy rõ giữa hai cơ sở này có mối quan
hệ biện chứng với nhau. Sự phát triển của quan hệ quốc tế mở rộng thế giới
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
20
quan của con người, qua đó, các giá trị chung càng được nhận thức. Ngược
lại, thông qua quan hệ quốc tế, ý thức về tính chung nhất của nhân loại và thế
giới đã đưa con người xích gần lại với nhau. Cả hai quá trình này cùng hướng
tới một điểm chung: toàn cầu hoá. Trên đây là một quan điểm khá thuyết
phục, đáng để chúng ta suy ngẫm về tính tất yếu của toàn cầu hoá.
Quay trở lại Mác, chúng ta xem Mác đã bàn gì về vấn đề này. Như
chúng ta đã biết, thời đại Mác sống, bối cảnh kinh tế - xã hội khác xa với thời
đại ngày nay. Nhịp độ và cường độ phát triển sản xuất chưa diễn ra nhanh và
mạnh như ngày nay, các mối quan hệ cũng chỉ dừng lại ở cấp độ quốc gia,
song phương và khu vực, song với phép biện chứng duy vật - một công cụ
đúng đắn và quan trọng trong nhận thức và dự cảm thiên tài của mình, C.Mác
đồng thành những dân tộc và tổ chức thành các quốc gia, các quốc gia tập hợp
lại thành từng nhóm quốc gia và cộng đồng thế giới. Đó là quá trình phát triển
xã hội một cách tự nhiên và hợp lôgíc, hay nói cách khác đó là một quá trình
"lịch sử tự nhiên". Bản thân lao động sản xuất và đấu tranh sinh tồn là một
hoạt động xã hội và tính xã hội của hoạt động này ngày càng cao hơn, thể
hiện ở chỗ, ngày càng có nhiều công việc và sản phẩm được thực hiện không
chỉ bởi một cá nhân mà còn do sự đóng góp của nhiều thành viên ở các quốc
gia khác nhau. Xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động xã hội và
chuyên môn hoá sản xuất trên phạm vi quốc gia cũng như phạm vi quốc tế
ngày càng sâu rộng hơn và tinh vi hơn. Mức độ quốc tế hoá các quá trình lao
động sản xuất, của lực lượng sản xuất đã dẫn tới sự thay đổi chỉnh thể đời
sống xã hội hình thành nên "lịch sử thế giới". Việc trao đổi sản phẩm và các
yếu tố của quá trình sản xuất giữa người với người, giữa cộng đồng và các
quốc gia với nhau có đóng góp hết sức quan trọng vào quá trình quốc tế hoá
lực lượng sản xuất. Đây là yếu tố trực tiếp thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá.
Trong các xã hội xa xưa, các quốc gia, các dân tộc tồn tại tương đối
biệt lập, ít có quan hệ với nhau. Nhưng cùng với sự phát triển của lực lượng
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
22
sản xuất và trao đổi hàng hoá, sự mở rộng thị trường thì các mối quan hệ cũng
dần vượt ra khỏi ranh giới quốc gia, hình thành các mối quan hệ quốc tế và
quá trình quốc tế hoá bắt đầu. Quá trình này đặc biệt được đẩy mạnh với sự ra
đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Cùng với nó, những phát kiến về địa lí,
những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa, cuộc cách mạng công nghiệp và
những thành tựu khoa học, công nghệ, sự mở rộng thị trường quốc tế và các
mối giao lưu quốc tế đã làm cho lực lượng sản xuất của thế giới, đặc biệt là
châu Âu và Bắc Mỹ, tăng lên mạnh mẽ, làm cho chủ nghĩa tư bản thắng thế ở
đây.
diện và thuyết phục hơn các học thuyết khác về nguyên nhân dẫn đến toàn cầu
hoá.
Trên cơ sở quan niệm của chủ nghĩa Mác và nghiên cứu thực tiễn quá
trình toàn cầu hoá, chúng tôi cho rằng, toàn cầu hoá hiện nay là kết quả tất
yếu của quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất, của tốc độ phát triển nhanh
của lực lượng sản xuất, bắt nguồn từ sự thúc đẩy của khoa học kỹ thuật và
công nghệ hiện đại, nó là kết quả tất yếu của sự phát triển sâu rộng, mạnh mẽ
nền kinh tế thị trường trên toàn thế giới, của sự phân công lao động quốc tế,
sự mở rộng ngày càng lớn hơn trong không gian và thời gian các mối quan hệ
giao lưu phổ biến của loài người và sự xuất hiện của những vẫn đề toàn cầu
cấp bách. Nói cách khác, toàn cầu hoá là kết quả của sự tích lũy về lượng, đạt
tới một chất lượng mới, xu thế khu vực hoá, quốc tế hoá đã chuyển thành xu
thế toàn cầu hoá trong thời đại ngày nay. Nó là một trong những xu thế lịch sử
khách quan do quy luật phát triển của lực lượng sản xuất chi phối, vì thế, đó
cũng là quá trình không thể đảo nghịch và không thể chối bỏ.
1.2. Nội dung, đặc điểm của quá trình toàn cầu hoá trong bối cảnh hiện
nay
Toàn cầu hoá là một quá trình đang diễn ra với những biến đổi phức
tạp, khó lường, chắc chắn sẽ còn nhiều nội dung, đặc điểm mà đến bây giờ
Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân
Hoàng
24
chúng ta cũng chưa thể nhận thức hết được. Tuy nhiên, không phải vì thế mà
các nhà nghiên cứu không thể không xác định được những nội dung và đặc
điểm hiện thời của nó. Thông qua những phương pháp nghiên cứu, cách tiếp
cận của mình, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của toàn
cầu hoá trong bối cảnh hiện nay.
Phần lớn các nhà nghiên cứu xem xét đặc điểm đặc trưng của toàn cầu
hoá gắn liền với bản chất, tính chất của nó, vì trong thực tế, đây là một quá