ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………………….
LÊ THỊ NGUYỆT
PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT
NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………………….
Học viên thực hiện Luận văn Lê Thị Nguyệt
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRONG
BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 8
1.1. Một số vấn đề lý luận về đạo đức và phát huy giá trị đạo đức truyền thống 8
1.1.1. Các khái niệm “đạo đức”, “giá trị” và “giá trị đạo đức” 8
1.1.2. Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam 20
1.1.3. Phát huy giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam 33
1.2. Một số vấn đề lý luận chung về toàn cầu hóa 36
1.2.1. Khái niệm toàn cầu hóa 36
1.2.2. Tác động tích cực của toàn cầu hóa 39
1.2.3. Tác động tiêu cực của toàn cầu hoá 42
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐẠO
ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
HIỆN NAY 48
2.1. Thực trạng phát huy giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hóa và những vấn đề đặt ra 48
2.1.1. Phát huy giá trị đạo đức truyền thống yêu nước 48
2.1.2. Phát huy giá trị đạo đức truyền thống đoàn kết và nhân ái 53
2.1.3. Phát huy giá trị đạo đức truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động 57
2.1.4. Phát huy giá trị đạo đức truyền thống hiếu học 60
2.1.5. Một số vấn đề đặt ra trong phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong bối
cảnh toàn cầu hóa hiện nay 65
2.2. Giải pháp phát huy giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hóa 68
Đạo đức là hình thái ý thức xã hội do tồn tại xã hội quy định đồng thời cũng
chịu sự tác động của các hình thái ý thức xã hội khác. Những giá trị đạo đức truyền
thống của Việt Nam tuy mang tính ổn định bền vững nhưng cũng không phải là
nhất thành bất biến, mà thường xuyên vận động và biến đổi theo dòng lịch sử. Vì
vậy, khi lịch sử bước sang trang mới thì những giá trị đạo đức truyền thống cũng
biến đổi và cần phải được nhận thức lại, lựa chọn cho phù hợp điều kiện hiện tại.
Điều đó sẽ làm cho hệ thống giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ngày càng
phát triển phong phú, đa dạng, góp phần tích cực vào sự phát triển đời sống xã hội
của chúng ta.
Việt Nam hiện nay đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, nhân
dân ta đang ra sức xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng, dân chủ và văn minh.
2
Để thực hiện thành công sự nghiệp đó, một mặt, chúng ta cần hướng tới xác lập
đạo đức mới, xã hội chủ nghĩa nhằm đưa đến cho con người những điều tốt đẹp
nhất ngay trong từng bước đi tới tương lai đó. Mặt khác, cũng cần hướng ra bên
ngoài để hội nhập, học hỏi kinh nghiệm nhằm thực hiện tốt hơn công cuộc xây
dựng xã hội mới.
Chúng ta hội nhập thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra như một
cơn lốc cuốn hút tất cả các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Đây là một xu thế tất
yếu, khách quan phù hợp quy luật của thời đại mà không một quốc gia nào có thể
đứng ngoài vì đứng ngoài đồng nghĩa với việc sẽ tụt hậu. Toàn cầu hóa đã đem đến
cho tất cả các nước đặc biệt là các nước đang phát triển những cơ hội to lớn trên
mọi mặt của đời sống xã hội. Nhưng mặt khác nó cũng đặt ra những thử thách
không nhỏ, mà một trong số đó chính là sự xâm nhập, lai căng dẫn đến phá vỡ
những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm cho các dân tộc yếu thế không
còn là chính mình nữa.
Như mọi quốc gia khác, Việt Nam cũng chịu sự quy định của xu thế toàn cầu
hóa đó. Vì vậy, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của kinh tế, xã
hội, văn hóa thì đạo đức xã hội của chúng ta cũng có nhiều biến động theo chiều
truyền thống của dân tộc, trong đó chủ yếu là những giá trị đạo đức.
Gần 30 năm qua đất nước ta đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là mảnh đất màu mỡ để các nhà nghiên cứu
khai thác các đề tài về giá trị truyền thống nói chung và giá trị đạo đức truyền
thống nói riêng. Tiêu biểu cần kể đến công trình do tác giả Phạm Minh Hạc chủ
biên (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
[16]. Công trình đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về truyền thống, cơ sở hình
thành cùng những nội dung cơ bản của truyền thống Việt Nam và phát huy vai trò
của truyền thống trong nhân tố con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
4
đại hóa. Công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn
Đức, Hồ Sỹ Quý đồng chủ biên (2001), Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [4], đã phản ánh rõ những nét cơ
bản về giá trị và giá trị truyền thống được thể hiện trong mối quan hệ giữa văn hóa
truyền thống với sự phát triển trong đó nhấn mạnh vị thế chủ thể của văn hóa nội
sinh trong hội nhập, khai thác những yếu tố tích cực của Nho giáo Việt Nam phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tiếp đến, công trình nghiên cứu Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế
thị trường ở nước ta hiện nay [5] do các tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn
Văn Phúc đồng chủ biên (2003), đã đề cập đến những tác động của kinh tế thị
trường đối với những giá trị đạo đức truyền thống, vai trò của đạo đức trong điều
kiện kinh tế thị trường và đề xuất một số giải pháp xây dựng đạo đức trong điều
kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Trong cuốn sách Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay: Vấn đề và giải pháp
[50] của Viện khoa học Xã hội Việt Nam do các tác giả Nguyễn Duy Quý và
Hoàng Chí Bảo chủ biên (2006), đã gióng lên những hồi chuông cảnh báo thực
trạng xuống cấp nghiêm trọng của đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay. Với những
tác động của kinh tế thị trường và sự mở rộng giao lưu quốc tế, đạo đức xã hội Việt
hệ với Việt Nam trong quá trình đổi mới. Ngoài ra còn có công trình nghiên cứu
của tác giả như Nguyễn Văn Thanh (2003) chủ biên, Những mảng tối của toàn cầu
hóa [54]. Như vậy, các công trình nghiên cứu về toàn cầu hóa ở trên đây chủ yếu
tập trung nghiên cứu sự tác động của toàn cầu hóa đối với vấn đề kinh tế trong khi
đó các vấn đề xã hội khác, nhất là vấn đề giá trị đạo đức truyền thống ít được đề
cập đến.
Đứng trước tác động của toàn cầu hóa đối với các vấn đề của quốc gia
những năm gần đây đã diễn ra nhiều cuộc hội thảo quốc tế lớn bàn về vấn đề giữ
gìn và phát huy những giá trị truyền thống của các dân tộc trong bối cảnh toàn cầu
hóa hiện nay. Tiêu biểu là công trình (2002) Giá trị truyền thống trước những
thách thức của toàn cầu hóa [3] do Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên
6
đồng chủ biên. Công trình đã tập hợp những bài viết chọn lọc của một số tác giả
được trình bày trong Hội thảo khoa học quốc tế “Giá trị truyền thống trước những
thách thức của toàn cầu hóa” được tổ chức tại Hà Nội vào 5/2001. Tiếp đến là cuộc
Hội thảo Quốc tế “Toàn cầu hóa - Những vấn đề triết học châu Á - Thái Bình
Dương” được tổ chức tại Hà Nội tháng 11 năm 2005. Các bài tham luận đều tập
trung làm rõ thực chất của toàn cầu hóa và những thách thức cũng như cơ hội của
toàn cầu hóa đối với việc giữ gìn và phát huy những những giá trị truyền thống của
dân tộc Việt Nam đồng thời bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và
phát huy những giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Tuy
nhiên, các công trình trên đây phần lớn tập trung nghiên cứu giá trị truyền thống
của dân tộc nói chung ít đề cập đến vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống
trong bối cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt chưa thật rõ những giá trị đạo đức truyền
thống nào cần phát huy để góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước. Vì
vậy, tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu mong muốn góp một phần nhỏ bổ
sung làm rõ hơn những vấn đề đã được trình bày ở trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Trên cơ sở lý luận về giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và
phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Từ
thực trạng đó đề xuất một số giải pháp cụ thể để giải quyết những vấn đề tồn tại,
góp phần phát huy hơn nữa giá trị đạo đức truyền thống trong giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ giá trị đạo đức truyền thống và
vấn đề phát huy các giá trị đó trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được vận dụng vào việc xây
dựng đạo đức mới của con người Việt Nam hiện nay và có thể dùng làm tài liệu
tham khảo giảng dạy và học tập môn đạo đức học.
8. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương 4 tiết.
8
CHƢƠNG 1. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
1.1. Một số vấn đề lý luận về đạo đức và phát huy giá trị đạo đức truyền
thống
1.1.1. Các khái niệm “đạo đức”, “giá trị” và “giá trị đạo đức”
* Khái niệm đạo đức
Đạo đức học cổ đại xuất hiện như là một phương thức lĩnh hội thế giới về
mặt tinh thần, khởi nguồn từ Xôcrat vốn là nhân vật độc đáo rất nổi tiếng, như một
chiến binh, nhà thông thái, nhà thuyết khách vĩ đại, nhà hùng biện bậc thầy. Với
phương châm chỉ đạo tư tưởng đạo đức là, hãy tự nhận thức bản thân mình, Ông đã
chứng minh rằng đạo đức là tri thức. Người ta có được đạo đức là nhờ sự hiểu và
do vậy, chỉ sau khi hiểu biết, nghĩa là đã có khái niệm chính xác về đạo đức mới
trở thành người đạo đức được.
Platôn là nhân vật lớn của triết học Hy Lạp cổ đại - người đã sáng lập đường
cộng đồng, sống phù hợp với tự nhiên, tôn trọng mình và người khác. Điều đó
cũng có nghĩa rằng, mệnh lệnh tuyệt đối đòi hỏi con người hành động theo một
pháp chế phổ biến. Nhưng, trong xã hội có giai cấp đối kháng thì các giai cấp khác
nhau có quan niệm khác nhau về lý tưởng của một pháp chế phổ biến. Vì vậy, trên
thực tế, mệnh lệnh tuyệt đối không thể trở thành một pháp chế phổ biến được.
Đối với G.Hêghen, cội nguồn và cơ sở của tất cả những hiện tượng tự nhiên
và xã hội là một bản nguyên tinh thần, lý tính và được gọi là ý niệm tuyệt đối. Ý
niệm này tự vận động, phát triển và thể hiện ra thành toàn bộ những hiện tượng tự
nhiên và xã hội. Tuân thủ lôgic đó, Hêghen cho rằng, đạo đức bắt nguồn từ ý niệm
pháp lý, còn ý niệm pháp lý là một hình thái biểu hiện của ý niệm tuyệt đối. Cũng
như ý niệm tuyệt đối, ý niệm pháp lý vận động, phát triển hay là tự nhận thức bản
thân mình theo xu hướng đi từ trừu tượng đến cụ thể. Bởi thế, điểm xuất phát hay
là bậc thứ nhất của ý niệm pháp lý là pháp luật chủ quan được Hêghen gọi là luân
10
lý. Sự thống nhất giữa pháp luật khách quan và pháp luật chủ quan, sự thể hiện cụ
thể của sự thống nhất này trong gia đình, xã hội và quốc gia chính là bậc phát triển
thứ ba của ý niệm pháp lý được Hêghen gọi là đạo đức. Như vậy, ở Hêghen, luân
lý với tư cách là phương diện chủ quan của hành vi và đạo đức với tư cách là
phương diện khách quan của hành vi đều là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối. Đạo
đức tuy là một hiện tượng xã hội, biểu hiện trong các quan hệ gia đình, xã hội,
quốc gia, nhưng về bản chất lại là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối, có nguồn gốc từ
ý niệm tuyệt đối.
L.Phoiơbắc cho rằng, đạo đức chỉ tồn tại ở đâu có mối quan hệ giữa người
với người, hay nói như cách nói của ông, ở đâu có mối quan hệ giữa “tôi và anh”.
Nhưng Phoiơbắc quy mọi quan hệ người vào quan hệ đạo đức và cho rằng, nguyên
tắc cơ bản của đạo đức là sự thương yêu lẫn nhau giữa mọi người. Từ đó, ông
tuyên truyền cho một tình yêu phổ biến và kêu gọi mọi người phải biết “hạn chế
mình một cách phổ biến”. Đối với ông vươn tới một thứ đạo đức tình yêu như vậy,
con người có thể khắc phục được mọi bất công, mọi đau khổ với tính cách là
nảy sinh khát vọng tương trợ tự nguyện. Khát vọng đó chính là tình cảm đạo đức
đầu tiên của con người. Hành vi được điều chỉnh bởi ý thức khát vọng tương trợ tự
nguyện chính là hành vi đạo đức đầu tiên của con người. Từ lao động và cùng với
lao động, sự tương trợ lẫn nhau được mở rộng ra các lĩnh vực sống của con người
và xã hội. Đó chính là cơ chế của sự hình thành đạo đức.
Như vậy, đạo đức có nguồn gốc từ lao động và các hoạt động sống của con
người. Nó hiện diện như một phương thức điều chỉnh hành vi người đặc thù. Sự
điều chỉnh ấy dựa trên cơ sở tự giác, tự nguyện và ưu tiên lợi ích của cộng đồng xã
hội. Trong Lời tựa của tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác
viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã
hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định
tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [30, 15].
Luận điểm này đã giải thích bản chất tất cả các hiện tượng xã hội và trong đó có cả
12
đạo đức.Như vậy, khác với tất cả các nhà thần học và triết học trước đó, C.Mác
nhìn nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội. Trong sự tác động qua lại với các
hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, pháp luật, tôn giáo, nghệ thuật) và cùng với
các hình thái ý thức xã hội ấy, đạo đức chịu sự quy định của tồn tại xã hội, phản
ánh tồn tại xã hội.
Ở Việt Nam hiện nay, Từ điển tiếng Việt, do tác giả Hoàng Phê chủ biên,
Nxb Đà Nẵng, 1997, nêu hai nghĩa của từ đạo đức:
"Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận,
quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội.
Đạo đức phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu
chuẩn đạo đức mà có” [44, 280].
Tác giả Huỳnh Khái Vinh viết trong cuốn sách Một số vấn đề về lối sống,
đạo đức, chuẩn mực xã hội rằng, “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm:
những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều
chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ xã hội,
xã hội để đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong xã hội, con người phải điều chỉnh
hành vi của mình sao cho tạo nên sự phù hợp giữa lợi ích cá nhân với lợi ích xã
hội. Tham gia điều chỉnh hành vi của con người có nhiều lĩnh vực khác nhau như:
kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức Mỗi lĩnh vực có vai trò khác nhau trong điều
chỉnh hành vi của con người nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển. Kinh
tế điều chỉnh hành vi của con người thông qua lợi ích kinh tế. Pháp luật điều chỉnh
hành vi con người thông qua các quy chuẩn pháp luật buộc người ta phải tuân theo,
mang tính chất cưỡng bức. Đạo đức dùng một hệ thống các nguyên tắc, các quy
tắc, các chuẩn mực, tạo thành những khuôn mẫu để mọi người noi theo. Đạo đức
điều chỉnh hành vi của con người bằng niềm tin, lý tưởng, bằng lương tâm, trách
nhiệm, bằng dư luận xã hội. Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người mang tính
tự giác, vừa nhẹ nhàng, vừa sâu sắc.
14
Không chỉ thế mà đạo đức còn được xem xét với tư cách là một hệ thống các
giá trị thiện, ác. Thiện là giá trị khẳng định lợi ích của xã hội, thiện là những cái gì
con người mong muốn được làm, là những cái mang lại những điều tốt đẹp cho
người khác và cho xã hội, thiện là hướng tới cái văn minh, tiến bộ. Ác là sự phủ
định giá trị, là những cái gì đối lập với những lợi ích của xã hội, là những cái giả
dối đưa lại điều xấu, điều bất hạnh cho ngươi khác, ác là những cái con người
không mong muốn.
Tóm lại, thông qua các quan niệm khác nhau về đạo đức ở trên, trong khuôn
khổ luận văn này chúng tôi hiểu Đạo đức là tập hợp những quy tắc và chuẩn mực
xã hội được lương tâm đồng tình, dư luận xã hội thừa nhận, nhằm đánh giá, điều
chỉnh quan hệ giữa con người với nhau và quan hệ giữa con người với xã hội.
Trong luận văn này chúng tôi xem xét đạo đức trong mối liên hệ với văn
hóa. Vậy văn hóa là gì? Đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa được đưa ra theo
các cách tiếp cận khác nhau. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ
và Văn hóa Việt Nam, “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người
sáng tạo ra trong lịch sử” [65]. Trong cuốn Xã hội học Văn hóa, tác giả Đoàn Văn
với đặc tính tồn tại và chất lượng của khách thể đó, Thứ hai, khía cạnh chuẩn
mực, mệnh lệnh đánh giá của các hiện tượng ý thức xã hội” [trích theo: 48, 19].
Nhìn từ góc độ kinh tế học giá trị là giá trị của hàng hóa được đo bằng lượng
lao động xã hội cần để sản xuất ra nó. Do vậy, những hàng hóa nào có lượng hao
phí lao động xã hội càng lớn thì giá trị của nó càng cao và ngược lại. Để bộc lộ giá
trị, sản phẩm lao động phải được đem ra trao đổi, mà muốn vậy thì nó phải có ích
tức là phải có giá trị sử dụng, phải có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người.
Trong kinh tế chính trị học, giá trị là một phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong nền sản
xuất hàng hóa mà thôi.
Trong triết học, chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng giá trị phụ thuộc vào
kinh nghiệm của con người, là biểu hiện thái độ chủ quan của con người về khách
16
thể mà họ đánh giá, như vậy, giá trị hoàn toàn không có tính khách quan. Chủ
nghĩa duy tâm khách quan lại coi giá trị như là cái thuộc về khách thể, là đặc tính
riêng của khách thể.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch
sử, tính nhận thức được và tính thực tiễn của giá trị.
Như vậy, nói đến Giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính
diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái
hay, cái đẹp và nói đến cái có khả năng thôi thúc con người nỗ lực hành động và
nỗ lực vươn lên. Giá trị được coi là một hiện tượng đặc thù nó có thể là một vật,
hay một liên hệ một ý niệm thỏa mãn được nhu cầu nhất định của con người. Bất
cứ sự vật nào cũng là vật mang giá trị, miễn là sự vật ấy thực sự có ý nghĩa khách
quan và được các thành viên trong xã hội thừa nhận, coi là cái có vị trí quan trọng
trong đời sống và cần đến như một nhu cầu thực sự. Giá trị được phân thành nhiều
loại giá trị tinh thần, giá trị vật chất, giá trị xã hội
* Khái niệm giá trị đạo đức
Trong đạo đức học, giá trị được xem xét trong phạm vi đời sống đạo đức của
con người. Giá trị đạo đức là một trong những vấn đề xã hội được đề cập đến
cùng mọi học thuyết đạo đức đã có từ trước tới nay đều là sản phẩm của tình hình
kinh tế - xã hội lúc bấy giờ và từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này
sang thời đại khác, những quan niệm đạo đức biến đổi đến mức thậm chí đối lập
nhau. Và suy đến cùng, những điều kiện lịch sử cụ thể quy định chặt chẽ sự xuất
hiện, tồn tại và biến đổi của các giá trị đạo đức.
Ba là, giá trị đạo đức là sự bộc lộ thái độ của cá nhân, nhóm xã hội, tập đoàn
xã hội về lợi ích. Chính trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã
hội, các giá trị đạo đức xuất hiện với tư cách sự nhìn nhận, đánh giá của cá nhân,
cộng đồng trước những quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực, hành vi ứng xử. Sự
nhìn nhận, đánh giá này chịu sự chi phối trực tiếp của lợi ích và ở đây dường như
giá trị đạo đức mang tính chủ quan. Điều này lý giải tại sao một hành vi đạo đức là
18
giá trị đối với một cá nhân, một cộng đồng này mà chưa hẳn là giá trị, thậm chí là
phản giá trị đối với một cá nhân, một cộng đồng khác.
Bốn là, giá trị đạo đức gắn với hoạt động thực tiễn của con người, định
hướng cho hành động của con người. Một mặt, các giá trị được hình thành, tồn tại,
biến đổi trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người. Chính trong thực tiễn và chỉ
có thông qua thực tiễn, các giá trị vật chất và tinh thần mới xuất hiện, biến đổi.
Mỗi cộng đồng người, do các đặc điểm về địa lý, văn hóa đều hình thành nên
những mẫu nhân cách mang tính đại diện, là kết quả của sự định hướng giá trị. Ví
dụ, người châu Á coi “cần cù, yêu lao động” là giá trị hàng đầu của sự làm người.
Nhưng người Mỹ lại coi “tự lực cánh sinh” mới là giá trị đáng quý nhất, cần cù
cũng được coi trọng nhưng chỉ đứng thứ ba sau “tự lực cánh sinh và thành đạt cá
nhân”. Như vậy, nói rằng người châu Á cần cù, người Do Thái khôn ngoan hay
người Đức ưa chính xác đều có nghĩa là các giá trị đó được tôn trọng hơn, được
xếp vào vị trí ưu tiên hơn so với các giá trị khác trong định hướng nhân cách của
các cộng đồng này mà thôi.
Năm là, giá trị đạo đức trừu tượng nhưng có thể nhận thức và noi theo, thực
hiện được. Giá trị đạo đức không phải là cái chúng ta có thể dễ dàng nhận thức,
trong những khuôn thước, dù rằng bản thân nó (thế giới vô vàn những hiện tượng
phong phú và phức tạp) không mang ý nghĩa (sang - hèn, hay - dở, tốt - xấu ) gì
đối với chính nó. Nói đến cùng, giá trị đạo đức là giá trị của các quan niệm, chuẩn
mực, nguyên tắc, hành vi ứng xử trong tương quan với chủ thể đạo đức xác định.
Từ phương diện này, đạo đức cách mạng với tư cách giá trị không chỉ là những
chuẩn mực trung, hiếu, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư - những phẩm chất cơ
bản của đạo đức Hồ Chí Minh mà quan trọng hơn cả nó còn là ý nghĩa đối với mỗi
người, đối với đời sống đạo đức dân tộc và nhân loại.
Chắt lọc từ những ý kiến nêu trên, trong luận văn này chúng tôi quan niệm
Giá trị đạo đức là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng về mặt đạo đức,
20
những quy tắc ứng xử, những thái độ và hành vi được con người lựa chọn, được
đánh giá có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và
dư luận biểu dương, nhằm điều chỉnh và chuẩn hóa các hành vi đạo đức của con
người trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Khi phân tích giá trị đạo đức chúng tôi cũng muốn tìm hiểu thêm về giá trị
văn hóa để thấy rõ hơn về giá trị đạo đức. Giá trị văn hóa thường được coi là rộng
nhất, bao trùm nhất, vì theo nghĩa rộng văn hóa là tất cả những gì “do con người
sáng tạo ra”. Song đã có nhiều quan niệm về “giá trị văn hóa” theo nghĩa hẹp và
đồng nhất “giá trị văn hóa” với “giá trị đạo đức”, “giá trị tinh thần” hoặc với
“chuẩn mực”. Theo chúng tôi, quan niệm như vậy là không hẳn đúng, bởi lẽ, văn
hóa rộng hơn đạo đức, còn đạo đức chỉ là một khía cạnh, một thành tố của văn hóa,
văn hóa không chỉ là tinh thần và hệ giá trị văn hóa gồm cả giá trị vật chất lẫn giá
trị tinh thần. Trong giá trị văn hóa có các chuẩn mực nhưng không hoàn toàn là
một, chúng phân biệt với nhau theo tiêu chí thời gian. Giá trị văn hóa có tính lịch
sử bao gồm các giá trị do con người sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại trong khi
những chuẩn mực là những giá trị mà con người hướng tới trong hiện tại và tương
lai. Như vậy, “giá trị văn hóa đối lập với giá trị tự nhiên và bao gồm tất cả các loại
giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị pháp lý, giá trị toán học , vì mọi giá trị và hệ