Toàn cầu hóa và vấn đề giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa - Pdf 23

3

MỤC LỤC

trang
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1. Tính cấp thiết của đề tài 9
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 11
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án 22
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 23
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 23
6. Những đóng góp mới của luận án 24
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 25
8. Kết cấu của luận án 25
Chương một: TOÀN CẦU HÓA – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NÓ 26
1.1. Toàn cầu hóa – Quá trình hình thành và phát triển 26
1.1.1. Quan niệm về toàn cầu hóa 26
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của toàn cầu hóa 41
1.2. Những đặc điểm cơ bản của toàn cầu hóa 80
1.2.1. Tính khách quan của toàn cầu hóa 80
1.2.2. Tính chất mâu thuẫn của toàn cầu hóa 84
Kết luận chương một 102 4

Chương hai: GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM VÀ VIỆC
GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐÓ TRONG BỐI CẢNH TOÀN

VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA 183
3.1. Phương hướng cơ bản để giữ gìn và phát huy giá trị truyền
thống dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa 183
3.1.1. Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc gắn liền với
việc chủ động tiếp thu có chọn lọc giá trị của nhân loại và đấu tranh
loại bỏ những truyền thống lạc hậu, những tệ nạn xã hội 184
3.1.2. Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc trên cơ sở kết
hợp hài hòa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại và giải quyết tốt
mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế 191
3.1.3. Tăng cường định hướng xã hội chủ nghĩa và nâng cao vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình giữ gìn và phát
huy giá trị truyền thống dân tộc 195
3.2. Những giải pháp chủ yếu để giữ gìn và phát huy giá trị truyền
thống dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa 201
3.2.1. Nâng cao nhận thức và tăng cường giáo dục giá trị truyền thống
dân tộc 201
3.2.2. Khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tính tích cực, sáng tạo của các
giá trị truyền thống và chuyển hóa chúng thành hoạt động thực tiễn
xây dựng đất nước 208
3.2.3. Huy động và tập trung tối đa các nguồn lực để giữ gìn, phát huy
giá trị truyền thống dân tộc 215
3.2.4. Xây dựng và phát triển môi trường xã hội lành mạnh làm cơ sở
để giữ gìn, phát huy có hiệu quả giá trị truyền thống dân tộc 219
6

3.2.5. Chủ động tiếp thu có chọn lọc giá trị của nhân loại để làm giàu
và phát huy có hiệu quả giá trị truyền thống dân tộc 226
3.2.6. Xây dựng, phát triển và hoàn thiện thiết chế văn hóa, đáp ứng
yêu cầu giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc 232
Kết luận chương ba 237

ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM Hội nghị Á - Âu
AU Liên minh châu Phi
CACM Thị trường chung Trung Mỹ
CEFTA Khu vực mậu dịch tự do Đông và Trung Âu
CEPT Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (của
ASEAN)
COMESA Thỏa thuận thương mại ưu đãi của EAEC
CUFTA Khu vực mậu dịch tự do Canađa - Mỹ
EAEC Cộng đồng kinh tế Đông Phi
EC Cộng đồng châu Âu
ECOSOC Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên Hợp Quốc
ECOWAS Cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi
EEA Khu vực kinh tế châu Âu
EEC Cộng đồng kinh tế châu Âu
EFTA Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu
EU Liên minh châu Âu
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (của Liên Hợp Quốc)
FDI Đầu tư trực tiếp của nước ngoài
FTAA Khu vực mậu dịch tự do cho toàn châu Mỹ
8

G8 Tám nước công nghiệp phát triển
GATT Tổ chức Thuế quan và Mậu dịch
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
NAFTA Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NATO Tổ chức quân sự Bắc Đại Tây Dương
NGO Tổ chức phi chính phủ
NIEs Những nước công nghiệp mới

tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế
này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc
gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu
cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”[32, tr.64].
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam đã và đang triển khai thực hiện
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước với những quyết sách chiến lược: đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp
quyền của dân, do dân, vì dân; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc và chủ động hội nhập quốc tế.
Thực hiện những quyết sách quan trọng nói trên, hơn 25 năm đổi mới
vừa qua, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. “Kinh
tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Năm 2010, tổng sản
phẩm trong nước bình quân đầu người đạt 1.168 USD… Đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt…” [34, tr.91-92]. Tuy nhiên, dưới
tác động của toàn cầu hóa, nền kinh tế của nước ta “phát triển chưa bền vững.
Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế
10

thấp… Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc
phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận
xã hội xuống cấp” [34, tr.93]. Đặc biệt là, “Tình trạng suy thoái về chính trị,
tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên
và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội
chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp… làm giảm
lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển
của đất nước” [34, tr.173].
Rõ ràng là, sự tác động của toàn cầu hóa vừa tạo ra điều kiện thuận lợi
và cơ hội lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, vừa tạo ra những
khó khăn và nguy cơ làm suy giảm giá trị truyền thống dân tộc. Trên thực tế,

các quan niệm về toàn cầu hóa: Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho
rằng, “Toàn cầu hóa là một quan niệm có nhiều mặt, vì nó bao quát cả lĩnh
vực kinh tế, xã hội, chính trị và các hậu quả của sự phân phối” (WTO, Annual
Report, 1998); “Toàn cầu hóa là một xu hướng làm cho mối quan hệ xã hội
trở nên ít bị ràng buộc bởi địa lý, lãnh thổ” (JanAart Scholte, “Globallization:
A New Imperealism” Alumi Magazine); “Toàn cầu hóa và tự do hóa, tìm
kiếm phát triển trong hai trào lưu lớn” (Rubens Recubero. Liên Hiệp Quốc,
1996); “Thế giới phẳng, tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI” (Thomas
L.Friendman, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2006); “Dự báo thế kỷ XXI” (Tập
thể các nhà khoa học Trung Quốc, Nxb. Thống kê,Hà Nội, 2000).
Trong các công trình trên, các tác giả cho rằng: toàn cầu hóa là hiện
tượng xã hội đa dạng, bao quát mọi lĩnh vực xã hội, làm cho các quốc gia xích
lại gần nhau và có mối liên hệ ràng buộc. Trong đó, vấn đề tự do hóa kinh tế
nổi lên hàng đầu.
12

Hai là, nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu đi sâu “giải mã”
vấn đề toàn cầu hóa, tìm ra nguyên nhân và những biểu hiện của nó trong đời
sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, ). Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu
này là các công trình:
“Vận hành toàn cầu hóa” (Joseph E.Stiglitz, Nxb. Trẻ, TP.HCM, 2008);
“Toàn cầu hóa kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu” (Lưu Lực, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002); “Toàn cầu hóa văn hóa” (Dominique
Wolton, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2006); “Con người, dân tộc và các nền văn
hóa: Chung sống trong thời đại toàn cầu hóa” (George F.McLean, GS.Phạm
Minh Hạc (chủ biên bản tiếng Việt), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007);
“Toàn cầu hóa kinh tế và xây dựng văn hóa dân tộc” (Li Zonggui, Tài liệu
phục vụ nghiên cứu, Số: TN.2002-6, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2002); “Phân công lao động quốc tế và toàn cầu hóa” (Shirokov G.K, Tài
liệu phục vụ nghiên cứu, Số: TN.2002-12, Viện Thông tin Khoa học xã hội,

kinh tế và tiến trình lịch sử của chủ nghĩa xã hội” (Song Shuql, Tài liệu phục
vụ nghiên cứu, Số: TN.2004-50, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội,
2004); “Toàn cầu hóa kinh tế và các thiết chế lãnh đạo toàn cầu” (Keith
Griffin, Tài liệu phục vụ nghiên cứu, Số: TN.2004-24,25, Viện Thông tin
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004); “Toàn cầu hóa và sự đối thoại giữa các nền
văn hóa” (Makbraid U., Tài liệu phục vụ nghiên cứu, Số: TN.2003-27, Viện
Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003); và những công trình khác.
Trong các công trình nói trên, các tác giả chủ yếu bàn luận về toàn cầu
hóa kinh tế và văn hóa. Trong đó, nổi bật quan niệm cho rằng: Toàn cầu hóa,
về thực chất và chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế, bao gồm các quá trình tự do
hóa kinh tế, sự dịch chuyển nguồn nhân lực, vốn, tài nguyên và tri thức trên
toàn cầu. Cùng với toàn cầu hóa kinh tế diễn ra quá trình toàn cầu hóa văn
14

hóa; trong đó, có sự tương tác, xâm nhập giữa các giá trị văn hóa Đông - Tây
và đồng thời, có sự đụng độ giữa các nền văn minh, v.v… Tuy nhiên, những
đặc điểm của toàn cầu hóa, nhất là tính hai mặt (tích cực và tiêu cực) của nó,
cũng như ảnh hưởng của nó đến các quá trình kinh tế - xã hội, văn hóa ở các
nước đang phát triển thì chưa được làm rõ.
Ba là, ở Việt Nam, vấn đề toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã được
các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và có nhữngcông trình rất đáng chú ý:
“Toàn cầu hóa – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (GS.TS. Lê Hữu Nghĩa
và TS. Lê Ngọc Tòng (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002);
“Toàn cầu hóa – Cơ hội và thách thức với các nước đang phát triển” (TS.
Dương Vinh Sường (chủ biên), Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2004); “Toàn cầu hóa
hôm nay và thế giới thứ ba” (TS. Trần Nhu (chủ biên), Nxb. Trẻ, TP.HCM,
2001); “Toàn cầu hóa – Tăng trưởng và nghèo đói” (Nxb. Văn hóa thông tin,
Hà Nội, 2002); “Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa” (Lê Thanh
Bình, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); “Các tổ chức kinh tế trong
“Nền kinh tế toàn cầu hóa” và tương lai của “Thế giới nghèo” (Trần Nhu (chủ

điểm chủ yếu: a. Đa số các tác giả cho rằng, toàn cầu hóa về thực chất là toàn
cầu hóa kinh tế, song có một nhóm tác giả lại khẳng định đó chính là toàn cầu
hóa tư bản chủ nghĩa; b. Phân tích sâu vào tính hai mặt của toàn cầu hóa như
tích cực và tiêu cực, trên cơ sở đó vạch ra thời cơ và thách thức đối với sự
phát triển của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề toàn cầu hóa chính trị, xã hội, văn
hóa chưa được các tác giả Việt Nam chú ý một cách đúng mức.
2.2. Vấn đề giá trị truyền thống Việt Nam được các nhà khoa học tiếp
cận dưới nhiều góc độ như: triết học, lịch sử tư tưởng, chính trị học, giá trị
16

học, đạo đức học, văn hóa học,… và được thể hiện ở một số hướng nghiên
cứu chính sau đây:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về những giá trị truyền thống
chung, mang tính tổng kết và bao quát suốt lịch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc Việt Nam. Theo hướng này, có những công trình tiêu biểu: “Triết
học và tư tưởng” (Trần Văn Giàu, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1988); “Sự
phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám”,
Tập 1, Tập 2, Tập 3, (Trần Văn Giàu, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996);
“Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập 1” (Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1993);“Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam – Từ thời kỳ
dựng nước đến đầu thế kỷ XX” (Trịnh Doãn Chính (chủ biên), Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2013); “Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX” (Trương Văn Chung, Doãn Chính (đồng chủ biên), Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); “Tư tưởng văn hóa truyền thống từ đầu thế
kỷ X đến thế kỷ XIV” (Nguyễn Thị Hương, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội,
2007); “Đại cương lịch sử triết học Việt Nam” (Nguyễn Hùng Hậu, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc
Việt Nam”(Trần Văn Giàu, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) và những
công trình khác.
Trong các công trình nói trên, các tác giả đi sâu phân tích một cách có

thần yêu nước, triết lý yêu nước và hành động yêu nước được thể hiện trong
các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Tuy nhiên, tinh thần
tự tôn, tự lập, tự cường dân tộc chưa được các tác giả phân tích kỹ.
Thứ ba, nghiên cứu về giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam. Theo
hướng này, có những công trình khá nổi bật: “Minh triết Hồ Chí Minh” (Vũ
18

Ngọc Khánh, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1999); Văn hóa đạo đức –
Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam (Thành Duy, Nxb. Văn hóa -
Thông tin, Hà Nội, 2004); Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay – Vấn đề và
giải pháp (Nguyễn Duy Quý (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006); Giá trị cơ bản về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh (Trần Quang Nhiếp -
Nguyễn Văn Sáu, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008); “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức” (Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Hà Nội, 2005);
“Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”
(Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên), Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2003); “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã
hội” (Huỳnh Khái Vinh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001).
Nhiều nghiên cứu về đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống được đăng
trên các tạp chí khoa học: “Đạo đức truyền thống với vấn đề hội nhập
ASEAN”(Võ Thị Dung, Tạp chí Triết học, Số 2-2001); “Những giá trị đạo
đức của gia đình truyền thống Việt Nam” (Lê Thanh Hà, Tạp chí Lý luận
chính trị, Số 273-2000); “Giá trị đạo đức truyền thống và những yêu cầu đạo
đức đối với nhân cách con người” (Cao Thu Hằng, Tạp chí Triết học, Số 158-
2004); “Hướng các giá trị đạo đức truyền thống theo hệ chuẩn giá trị chân -
thiện - mỹ trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế thị trường”
(Hoàng Trung, Tạp chí Triết học, Số 105-1998); “Giá trị đạo đức truyền
thống Việt Nam và cái nhìn phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền
kinh tế thị trường” (Trần Nguyên Việt, Tạp chí triết học, Số 132-2002); “Đạo
hiếu Việt Nam qua cái nhìn lịch đại” (Trần Nguyên Việt, Tạp chí Triết học,

Trong các công trình trên, nhiều tác giả đi sâu bàn về khái niệm “văn
hóa”, “bản sắc văn hóa dân tộc”, giá trị văn hóa nói chung và giá trị văn hóa
truyền thống Việt Nam; những nội dung cơ bản của nền văn hóa tiên tiến,
20

đậm đà bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, khi bàn về khái niệm “văn hóa” và khái
niệm “bản sắc văn hóa dân tộc” cũng còn những ý kiến khác nhau. Sự khác
nhau này thường do các tác giả nghiên cứu văn hóa từ những góc độ không
giống nhau.
2.3. Vấn đề xác định phương hướng và luận bàn về các giải pháp giữ
gìn và phát huy giá trị truyền thống cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm;
trong đó, có những công trình rất đáng chú ý:
“Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc – Vai trò của nghiên cứu
và giáo dục” (Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1999); “Giá trị truyền thống
trước những thách thức của toàn cầu hóa” (Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn
Văn Huyên (đồng chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); “Kế
thừa truyền thống yêu nước của dân tộc ta trong bối cảnh toàn cầu hóa” (Mai
Thị Quý, Tạp chí Triết học, Số 12-2003); “Vấn đề kế thừa và phát huy chủ
nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay”
(Nguyễn Mạnh Tường, Tạp chí Triết học, Số 106-1998); “Vấn đề kế thừa và
phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền
kinh tế thị trường ở nước ta” (Nguyễn Văn Lý, Tạp chí Triết học, Số 108-
1999); “Giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong bối cảnh
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” (Đặng Hữu Toàn, Tạp chí Khoa học xã
hội, Số 1(53)-2002); “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải
pháp” (Nguyễn Duy Quý, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006); “Giữ gìn
bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay” (Phạm
Thanh Hà, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011); “Phát huy những giá trị
tinh thần truyền thống của dân tộc để xây dựng đạo đức nguời phụ nữ Việt
Nam hiện nay” (Lê Thi, Tạp chí Triết học, Số 3(250)-2012); “Gắn phát triển

cầu hóa chính là quá trình xã hội hóa và quốc tế hóa trên phạm vi toàn cầu;
22

c.Nhóm ý kiến thứ ba nhấn mạnh, toàn cầu hóa, về thực chất là toàn cầu hóa
tư bản chủ nghĩa.
Việt Nam tham gia trực tiếp vào quá trình toàn cầu hóa không thể
không đặt ra vấn đề hệ trọng là giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống dân
tộc. Về lĩnh vực này, đa số các công trình đã phân tích và tổng kết hệ giá trị
truyền thống Việt Nam; đồng thời, đề xuất nhiều giải pháp giữ gìn và phát
huy các giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa cùng với việc tiếp thu
có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Tuy nhiên, phần nhiều các công trình
chỉ tập trung vào các giải pháp lý luận, tinh thần (như giáo dục, tuyên truyền,
nâng cao ý thức, tính tự giác,…), mà chưa chú ý đầy đủ đến các giải pháp
thực tiễn. Điều đó đã làm giảm sức mạnh và tính khả thi của các giải pháp giữ
gìn và phát huy giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Đề tài này kế thừa tất cả những thành tựu và những yếu tố tích cực của
các công trình trước. Trên cơ sở đó, nghiên cứu có hệ thống và làm sáng tỏ
các vấn đề quan trọng sau: thực chất và đặc điểm của toàn cầu hóa và tác
động của nó đối với giá trị truyền thống Việt Nam; phân tích, hệ thống hóa
các giá trị truyền thống Việt Nam và đề xuất các giải pháp giữ gìn, phát huy
giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
3.1. Mục đích của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích, làm rõ quá trình hình thành,
phát triển và đặc điểm cơ bản của toàn cầu hóa và các giá trị truyền thống
Việt Nam, trên cơ sở đó, xác định phương hướng cơ bản và đề xuất các giải
pháp chủ yếu để giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống Việt Nam trong bối
cảnh toàn cầu hóa.
3.2. Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau:

Luận án thực hiện cách tiếp cận triết học để tìm ra thực chất và đặc
điểm của toàn cầu hóa; đồng thời, sử dụng tiếp cận triết học văn hóa và giá trị
học để làm rõ hơn các giá trị truyền thống Việt Nam.
Ngoài ra, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu: lôgíc và lịch
sử, phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, xin ý kiến chuyên gia, hệ
thống hóa và khái quát hóa triết học,…
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Thứ nhất,luận án nghiên cứu một cách có hệ thống về toàn cầu hóa: từ
quá trình hình thành, phát triển đến các đặc điểm của toàn cầu hóa. Qua đó,
góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn lý luận về toàn cầu hóa.
Thứ hai,luận án phân tích, chắt lọc, làm rõ và trình bày có hệ thống về
các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam.Đó là các giá trị: chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam; ý thức tự tôn, tự lập, tự cường và tự hào dân tộc;
tinh thần đoàn kết, thương người và sống nhân ái, khoan dung; đức tính cần
cù, thông minh và sáng tạo cùng tinh thần lạc quan yêu cuộc sống;…
Thứ ba,luận án đã luận chứng các phương hướngcơ bản và giải pháp
chủ yếu để giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
trong bối cảnh toàn cầu hóa. Trong đó nhấn mạnh: 1. Giữ gìn và phát huy giá
trị truyền thống dân tộc gắn liền với việc chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại; đồng thời, đấu tranh loại bỏ các truyền thống lạc hậu, những tiêu
cực và các tệ nạn xã hội; 2.Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc
trên cơ sở kết hợp hài hòa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại và giải quyết
tốt quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; 3.Tăng cường định
hướng xã hội chủ nghĩa và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong quá trình giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc. 25

7. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

của các nhà chính trị và các nhà khoa học là tự nhiên và tất yếu; bởi lẽ, toàn
cầu hóa được nảy sinh từ chủ nghĩa tư bản, đã và đang diễn ra với tốc độ vũ
bão với quy mô toàn cầu. Nó tác động và ảnh hướng đến tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội (kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, môi trường…) ở tất
cả các quốc gia, dân tộc.
1.1.1.Quan niệm về toàn cầu hóa
 Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về toàn cầu hóa
Có thể nói, C.Mác và Ph.Ăngghen không bàn trực tiếp đến toàn cầu
hóa, song quan niệm của các ông về lĩnh vực này là cơ sở khoa học và thực
tiễn quan trọng để nghiên cứu, nhận diện toàn cầu hóa.
Khi nghiên cứu sâu chủ nghĩa tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát
hiện ra vai trò động lực, có ý nghĩa quyết định của lực lượng sản xuất đối với
quan hệ sản xuất và toàn bộ sự phát triển của đời sống xã hội. Và, các ông đã
lấy lực lượng sản xuất làm điểm xuất phát để nghiên cứu, giải thích sự biến
đổi của mọi hiện tượng xã hội, nhất là luận chứng cho hiện tượng khu vực hóa
và quốc tế hóa kinh tế, chính trị, văn hóa của chủ nghĩa tư bản. C.Mác và
Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Hơi nước và máy móc dẫn đến một cuộc cách mạng
trong công nghiệp. Đại công nghiệp hiện đại thay cho công trường thủ công;
27

tầng lớp kinh doanh công nghiệp trung đẳng nhường chỗ cho các nhà công
nghiệp triệu phú, cho những kẻ cầm đầu cả hàng loạt đạo quân công nghiệp,
những tên tư sản hiện đại… Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới”
[83, tr.598].
Thị trường thế giới, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, là thị trường sản xuất
phân phối, lưu thông và tiêu dùng sản phẩm của chủ nghĩa tư bản. Và, “Do
bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng
của tất cả các nước mang tính chất thế giới… Thay cho tình trạng cô lập trước
kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những
quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc. Mà sản xuất vật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status