Sự biến đổi giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
٭٭٭٭٭٭٭٭٭ HOÀNG THỊ NGÁT SỰ BIẾN ĐỔI GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
TOÀN CẦU HOÁ LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 80 Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN VŨ HẢO
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN . 7
1.1. Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam 7

phát triển đất nƣớc. Quá trình lịch sử đó đã hun đúc, tạo nên những giá trị đạo
đức truyền thống của dân tộc. Có thế nói, những giá trị đạo đức truyền thống
ấy vừa là kết quả, vừa là động lực của quá trình đấu tranh gian khổ, quật
cƣờng của dân tộc ta chống lại thiên tai địch họa. Trong suốt quá trình tồn
tại và phát triển, toàn thể nhân dân ta đã chiến thắng những kẻ thù lớn
mạnh hơn chúng ta nhiều lần nhƣ các thế lực phong kiến phƣơng Bắc, thực
dân Pháp, đế quốc Mỹ. Với một dân tộc Việt Nam nhỏ bé, kinh tế còn
nghèo nàn, lạc hậu thì những chiến thắng đó có đƣợc chắc chắn không phải
chỉ nhờ sức mạnh vật chất mà còn nhờ sức mạnh tinh thần – sức mạnh
đƣợc phát huy từ những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Đó là tinh
thần yêu nƣớc, tinh thần nhân ái, tinh thần đoàn kết… Những giá trị đạo
đức truyền thống ấy đã làm nên cốt cách, tinh thần, sức mạnh của con
ngƣời Việt Nam đƣợc bạn bè thế giới khâm phục.
Các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam tuy mang tính ổn định
nhƣng không phải bất biến mà luôn biến đổi cùng với sự thay đổi của điều
kiện kinh tế – xã hội. Trải qua lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc, các
giá trị đạo đức truyền thống không ngừng đƣợc thử thách, bổ sung và làm
phong phú thêm đặc biệt là trong quá trình Việt Nam mở của hội nhập quốc tế
trong xu thế toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá hiện đang là xu thế tất yếu khách quan, tác động mạnh
mẽ đến các quốc gia dân tộc. Nó đòi hỏi các quốc gia phải hội nhập vào dòng
chảy toàn cầu nếu không muốn ngày càng bị tụt hậu xa hơn so với khu vực và
thế giới. Tuy nhiên, toàn cầu hoá không những tạo ra cho các nƣớc những cơ

2
hội mà cả những thách thức. Trong các thách thức đó, thách thức về văn hoá,
về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, các giá trị đạo đức truyền
thống đƣợc coi là một trong những nguy cơ không nhỏ đối với các nƣớc đang
phát triển.
Đối với Việt Nam, những cơ hội và thách thức đó không phải là ngoại

tác giả đề cập đến vấn đề này ở các góc độ khác nhau:
- Tác giả Lê Hữu Nghĩa – Lê Ngọc Tòng (đồng chủ biên) với cuốn
sách: “Toàn cầu hoá: những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Đây là kết quả
nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nƣớc KX.08.01 về “Xu thế toàn
cầu hoá trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” gồm 27 chuyên luận tập
trung làm rõ các vấn đề về đặc điểm, bản chất của toàn cầu hoá, tính chất
hai mặt của toàn cầu hoá đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia và
đối với nền văn hoá của các dân tộc. Thông qua đó, các tác giả đã đề xuất
một số giải pháp nhằm bảo vệ, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá.
- Tác giả Trần Văn Giàu trong cuốn “Giá trị tinh thần truyền thống của
dân tộc Việt Nam” đã đề cập đến cơ sở hình thành, nội dung và biểu hiện của
các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc trong đó chủ yếu là các giá trị
đạo đức.
- Tác giả Vũ Minh Giang, Phan Huy Lê qua đề tài KX.07 – 02 nhan
đề “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” đã nghiên
cứu, khảo sát sự biến đổi của các giá trị truyền thống Việt Nam trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trƣờng, đồng thời đƣa ra những kiến nghị,
phƣơng hƣớng để giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
- Xu thế toàn cầu hoá đang đặt các giá trị truyền thống trƣớc những
thách thức mới. Trong năm 2001 đã diễn ra cuộc hội thảo quốc tế bàn về vấn
đề giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hoá và
đƣợc tập hợp lại trong cuốn “Giá trị truyền thống trước những thách thức của

4
toàn cầu hoá”. Qua cuốn sách, các tác giả đã phân tích cơ hội cũng nhƣ thách
thức của toàn cầu hoá với các giá trị văn hoá Việt Nam. Từ đó, các tác giả
cũng đặt ra yêu cầu cấp bách cần giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống
Việt Nam trƣớc tác động của toàn cầu hoá.

Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ các khái niệm giá trị, giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền
thống Việt Nam; trình bày khái quát sự hình thành và nội dung một số giá trị
đạo đức truyền thống Việt Nam.
- Phân tích làm rõ khái niệm toàn cầu hoá, cơ hội và thách thức của
toàn cầu hoá đối với các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam.
- Phân tích sự biến đổi của một số giá trị đạo đức truyền thống Việt
Nam dƣới tác động của toàn cầu hoá.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức
truyền thống Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sự biến đổi của các
giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Khi nghiên cứu sự biến đổi các giá trị đạo đức
truyền thống Việt Nam dƣới tác động của toàn cầu hoá, tác giả chủ yếu xem
xét nó dƣới giác độ triết học, tìm nguyên nhân biến đổi các giá trị đạo đức
truyền thống Việt Nam từ sự thay đổi của điều kiện kinh tế – xã hội. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, tác giả không thể khảo sát
hết tất cả các giá trị đang biến đổi mà chỉ tập trung nghiên cứu một số giá trị
tiêu biểu nhƣ: tinh thần yêu nƣớc, chữ hiếu, tinh thần nhân ái, tinh thần đoàn
kết… Qua đó, luận văn đề xuất một số giải pháp định hƣớng nhằm giữ gìn và
phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.

6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng cộng sản Việt Nam về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay. Bên cạnh đó, luận văn cũng kế thừa
những kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã công bố có liên

học giá trị học, thuật ngữ giá trị đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều khoa học
khác nhau nhƣ triết học, toán học, kinh tế học…nhƣng ở mỗi môn khoa học,
khái niệm giá trị có nội hàm rộng hẹp khác nhau và có những cách phân loại
khác nhau.
Nhìn từ góc độ toán học, giá trị dùng để chỉ kết quả của một phép tính,
giá trị của một phƣơng trình, giá trị của một ẩn số.
Nhìn từ góc độ kinh tế học, giá trị là giá trị hàng hoá, là lao động xã hội
của ngƣời sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá đó. Những hàng hoá có
lƣợng hao phí lao động xã hội càng lớn thì giá trị của nó càng cao và ngƣợc
lại. Để cho hàng hoá bộc lộ giá trị thì phải có sự trao đổi giữa ngƣời có sản
phẩm và ngƣời có nhu cầu về sản phẩm. Trong kinh tế chính trị học, giá trị là
một phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong sản xuất hàng hoá.
Đối với triết học, khái niệm giá trị có lịch sử lâu đời và đã có nhiều quan
điểm khác nhau về giá trị nhƣng do hạn chế về giai cấp, về nhận thức, những
quan điểm về giá trị thƣờng không phù hợp với giá trị thực sự của con ngƣời.
Quan điểm tôn giáo quy mọi giá trị của cuộc sống vào nguồn gốc thần
bí, do thƣợng đế sáng tạo ra và sắp đặt.
Chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm coi giá trị là sự tồn tại của những bản
chất tiên thiên, những chuẩn mực lí tƣởng tồn tại bên ngoài sự vật, không phụ
thuộc vào nhu cầu và mong muốn của con ngƣời.

8
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa tƣơng đối lại phủ nhận tính
khách quan của giá trị, coi giá trị chỉ là ý nghĩa chủ quan mà con ngƣời áp đặt
cho sự vật.
Chủ nghĩa Mác ra đời đã đƣa lại cho con ngƣời một quan niệm thực sự
khoa học về giá trị. Dƣới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta quan
niệm “giá trị là những thành tựu của con ngƣời góp phần vào sự phát triển đi
lên của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của con ngƣời. Giá trị
xuất phát từ mối quan hệ giữa chủ thể và đối tƣợng, nghĩa là từ thực tiễn và

không phụ thuộc vào ý thức của con ngƣời mà nó phụ thuộc vào sự xuất hiện,
tồn tại hay mất đi của một nhu cầu nào đó của con ngƣời do yêu cầu của hoạt
động, của thực tiễn trong đó có con ngƣời sinh sống và hoạt động.
Giá trị của sự vật không phải tồn tại tự nó mà đƣợc đặt trong mối quan
hệ ngƣời nhất định. Trong giá trị, khách thể không tồn tại độc lập với con
ngƣời - chủ thể mà là kết quả của mối quan hệ không tách rời giữa chủ thể và
khách thể. Theo nghĩa đó, giá trị phải đƣợc xác định từ hai phía: khách thể
(bản thân sự vật với những phẩm chất khách quan của nó) và chủ thể (sự đánh
giá của con ngƣời). Giá trị không phải chỉ là cái chủ quan thuần tuý nhƣ nhiều
ngƣời ngộ nhận mà trong giá trị luôn có sự thống nhất giữa tính chủ quan và
tính khách quan. Bởi vì chính những khách thể, những đối tƣợng mang trong
mình chúng khả năng thoả mãn những nhu cầu của con ngƣời, mang lại lợi
ích cho con ngƣời và chính con ngƣời, các tập đoàn ngƣời biểu hiện thái độ,
quan điểm, sự đáng giá của họ về các khả năng đó cũng nhƣ về mức độ mà họ
có thể chấp nhận.
Với tƣ cách là cái có ích, có ý nghĩa, cái cần thiết cho chủ thể, giá trị
không phải là một hiện tƣợng nhất thành bất biến. Trong quá trình hoạt động
thực tiễn, con ngƣời không ngừng làm biến đổi hiện thực khách quan và cũng
chính trong quá trình đó nhu cầu và lợi ích của con ngƣời cũng biến đổi. Hoàn
cảnh bên ngoài (các khách thể) thay đổi, nhu cầu và lợi ích của chủ thể thay

10
đổi thì đƣơng nhiên giá trị cũng phải thay đổi theo. Giá trị của một sự vật hiện
tƣợng không chỉ phụ thuộc vào chủ thể, quan hệ của nó mà còn có thể thay
đổi theo phạm vi. Mỗi thời đại, mỗi cộng đồng xã hội đều có những quan
niệm khác nhau về giá trị và cũng có những chuẩn mực khác nhau. Vì thế,
thang bậc giá trị trong xã hội nói chung luôn vận động, biến đổi và lịch sử loài
ngƣời cũng chính là lịch sử của quá trình tích luỹ, chọn lọc, kế thừa và không
ngừng tìm ra các giá trị mới ngày càng phù hợp hơn cho sự phát triển tiến bộ
của con ngƣời.

tác của mọi thành viên trong xã hội.
* Khái niệm giá trị đạo đức
Để làm rõ khái niệm giá trị đạo đức, trƣớc hết cần làm rõ khái niệm đạo
đức. Có thể nói, một trong những thuật ngữ gắn liền với thuật ngữ giá trị là
thuật ngữ đạo đức. Có nhiều định nghĩa về đạo đức đã đƣợc đƣa ra từ trƣớc
tới nay trong các công trình khác nhau. Đạo đức về mặt từ ngữ, theo Hoàng
Phê đƣợc định nghĩa theo hai khía cạnh sau: “1. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc
đƣợc dƣ luận xã hội thừa nhận quy định hành vi, quan hệ của con ngƣời với
nhau và đối với xã hội (nói tổng quát). 2. Phẩm chất tốt đẹp của con ngƣời do
tu dƣỡng theo những chuẩn mực đạo đức mà có” [44; 290].
Từ điển chính trị vắn tắt định nghĩa: “Đạo đức - một trong những hình
thái ý thức xã hội, là toàn bộ các chuẩn mực hành vi trong xã hội, trong gia
đình. Khác với các quy phạm pháp luật mà việc tuân thủ chúng do các cơ
quan nhà nƣớc duy trì và kiểm tra, đạo đức dựa trên cơ sở dƣ luận và tác động
của xã hội, dựa trên quan điểm, truyền thống, thói quen. Đạo đức đƣợc thể
hiện ở hành vi của con ngƣời, ở thái độ của con ngƣời đối với xã hội, đối với
lao động, gia đình, tập thể” [59; 115].
Giáo trình Đạo đức học đƣa ra định nghĩa về đạo đức: “Là một hình
thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội
nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con ngƣời trong quan hệ với
nhau và quan hệ với xã hội, chúng đƣợc thực hiện bằng niềm tin cá nhân, bởi
truyền thống và sức mạnh của dƣ luận xã hội” [21; 8].

12
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể coi “đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội, là tổng số những quy tắc, chuẩn mực xã hội có tác dụng điều
chỉnh hành vi của con ngƣời thông qua dƣ luận xã hội”.
Với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức không phải là một
hiện tƣợng siêu nhiên thần bí đƣợc áp đặt từ bên ngoài vào và cũng không
phải là sản phẩm chủ quan của con ngƣời mà là sản phẩm của xã hội, đƣợc

1.1.2. Khái niệm giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam
*Khái niệm truyền thống và giá trị đạo đức truyền thống
Bất cứ dân tộc nào trên thế giới cũng đều có truyền thống của mình.
Nói đến truyền thống ngƣời ta thƣờng coi đó là những gì đã đƣợc hình thành
trong quá khứ và đƣợc truyền lại đến hôm nay. Theo nghĩa Hán - Việt:
“truyền” có nghĩa là chuyển giao, “thống” có nghĩa là nối tiếp. Truyền thống
là những gì đƣợc truyền từ đời này sang đời khác.
“Truyền thống” theo từ điển Tiếng Việt là “Thói quen đã hình thành lâu
trong lối sống và nếp nghĩ, đƣợc truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác [58;
1034]. Theo nghĩa tổng quát nhất: “Truyền thống đó là những yếu tố của di
tồn văn hoá thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tƣ tƣởng, phong tục tập quán,
thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng ngƣời đƣợc hình thành
trong lịch sử và đã trở nên ổn định, đƣợc truyền từ đời này sang đời khác và
đƣợc lƣu giữ lâu dài” [6; 9].
Nhƣ vậy, khái niệm truyền thống đƣợc đề cập đến ở đây là một vấn đề
thuộc phạm vi văn hóa tinh thần, đặt trong mối quan hệ với hiện tại, đƣợc
hiểu nhƣ là tập hợp những tƣ tƣởng, tình cảm, thói quen, tập quán, lối sống và
cách ứng xử của một cộng đồng nhất định đƣợc hình thành trong lịch sử và
đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Truyền thống của một cộng đồng đƣợc hình thành, phát triển, biến đổi
theo tiến trình lịch sử. Nó là sản phẩm của sự thống nhất giữa điều kiện khách
quan và chủ quan. Truyền thống mang các đặc trƣng cơ bản: tính cộng đồng,
tính ổn định và tính lƣu truyền. Tính cộng đồng của truyền thống thể hiện ở

14
chỗ: truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng nhất định
nào đó. Ở nƣớc ta, tính cộng đồng biểu thị tập trung ở ba kết cấu xã hội chủ
yếu là nhà - làng - nƣớc.
Truyền thống đƣợc hình thành dần dần qua các hoạt động lịch sử của
con ngƣời. Sau khi hình thành nó mang tính ổn định tƣơng đối: ổn định vì khi

đổi nhất trong những ý thức xã hội cho dù tồn tại xã hội đã thay đổi.
Chính vì tính ổn định và bảo thủ của truyền thống mà trong mỗi thời điểm
lịch sử nhất định, truyền thống bao giờ cũng có tính hai mặt: mặt tích c ực
và mặt tiêu cực. Theo tác giả Trần Văn Giàu: “Truyền thống là những đức
tính hay thói tục kéo dài qua nhiều thế hệ, nhiều thời kì lịch sử và hiện có
tác dụng, tác dụng đó có thể là tích cực hoặc tiêu cực” [15; 50]. Thống
nhất với cách phân chia này, tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn quan niệm:
“Trong truyền thống không chỉ toàn là mặt tích cực mà có thể có không ít
những nét tiêu cực nếu xét theo quan điểm lịch sử cụ thể” [5; 16]. Mặt
tích cực của truyền thống bao gồm những yếu tố ƣu việt, tiến bộ, phù hợp
và thúc đẩy sự phát triển của xã hội, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc.
Còn mặt tiêu cực là hiện thân của sức ỳ, của sự bảo thủ, lạc hậu có ảnh
hƣởng xấu đến sự phát triển của xã hội. Trong tác phẩm “Ngày 18 tháng
sƣơng mù của Lui Bônapactơ”, Mác đã nêu ra tƣ tƣởng rất điển hình cho
những đánh giá về khuyết tật và hạn chế của truyền thống: “Truyền thống
của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng nhƣ quả núi lên đầu óc những ngƣời
đang sống. Và ngay cả khi con ngƣời có vẻ nhƣ là đang ra sức tự cải tạo
mình và cải tạo sự vật, ra sức sáng tạo ra một cái gì chƣa từng có, thì
chính họ lại sợ sệt cầu viện đến những linh hồn của quá khứ” [29; 145].
Điều quan trọng là đối với xã hội, tính tích cực hay tiêu cực của truyền
thống lại phụ thuộc nhiều vào thái độ của chủ thể đang khai thác truyền
thống. Chính vì vậy, khi khai thác giá trị đạo đức truyền thống vì mục tiêu
phát triển, chúng ta cần phải phân biệt những truyền thống đã lỗi thời, lạc
hậu để khắc phục, loại bỏ, với những truyền thống tốt đẹp tạo nên giá trị
và bản sắc riêng cần phải đƣợc duy trì và phát triển.

16
Truyền thống luôn có cái tốt, cái xấu, luôn có mặt tích cực và tiêu cực,
nhƣng khi nói đến giá trị đạo đức truyền thống là chúng ta muốn nói tới
những mặt tốt đẹp, mặt tích cực là đặc trƣng cho bản sắc dân tộc trong truyền

sống, với những thăng trầm của dân tộc. Toàn bộ giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc nhƣ sự rút gọn lịch sử và cô đặc văn hoá dân tộc. Cho nên,
có thể coi giá trị đạo đức truyền thống là cái thể hiện bản chất nhất, đặc
trƣng cốt lõi nhất của văn hoá dân tộc tạo nên một sức mạnh tiềm tàng và
bền vững.
Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc không phải là những giá trị
vĩnh viễn, một khi đã hình thành rồi thì không biến đổi mà cùng với sự
vận động biến đổi của lịch sử xã hội, nó cũng có những thay đổi cho phù
hợp. Tuy nhiên, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc trong qúa
trình biến đổi vẫn giữ đƣợc cái cốt lõi của nó và chỉ bổ sung, thay đổi
hình thức biểu hiện cho phù hợp với đặc trƣng, tính chất của thời đại. Giá
trị đạo đức truyền thống của dân tộc là sức mạnh vốn có để mỗi dân tộc,
mỗi đất nƣớc tồn tại và phát triển. Một dân tộc có bản sắc văn hoá dân tộc
đậm đà, có các giá trị đạo đức truyền thống mạnh mẽ sẽ không bao giờ bị
thôn tính, bị hoà tan hay xóa nhòa dù nó có bị những lực lƣợng xâm lƣợc
bên ngoài mạnh hơn nó. Với sức mạnh nội sinh đó, tiếp thu các yếu tố tiên
tiến, hợp lí từ bên ngoài, bổ sung cho những cái bên trong đang bị thiếu
hụt, giá trị đạo đức truyền thống sẽ là cơ sở vững chắc cho sự vận động
của xã hội, cho sự phát triển của đất nƣớc và dân tộc.
* Sự hình thành và phát triển các giá trị đạo đức truyền thống Việt
Nam: Khía cạnh lý luận và thực tiễn
Các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam thể hiện bản sắc của dân tộc
Việt Nam, là cốt lõi trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc ta. Đó không
phải là một cái gì đã có sẵn, bất biến mà đƣợc hình thành trong suốt hàng
nghìn năm lịch sử đấu tranh giữ nƣớc và dựng nƣớc, trong sự giao lƣu, tiếp
thu cải biến có chọn lọc đối với những giá trị văn hoá của các dân tộc khác.

18
Tuy vậy, cái cốt lõi trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam
hoàn toàn bắt nguồn từ nền tảng của dân tộc, từ truyền thống hàng nghìn năm

Vì thế, các lãnh tụ dân tộc luôn phải động viên sức mạnh toàn dân tộc tham
gia đánh giặc cứu nƣớc. Và con ngƣời Việt Nam từ trƣớc tới nay, trong mỗi
cuộc kháng chiến chống giặc đều lấy sức mạnh của tinh thần yêu nƣớc, của trí
tuệ, của lòng mƣu trí dũng cảm làm vũ khí chiến thắng kẻ thù. Thực tế lịch sử
đã hun đúc nên con ngƣời Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp và lịch sử
cũng chứng minh rằng, các giá trị tinh thần truyền thống đó có sức mạnh to
lớn mà kẻ thù không thể nào đè bẹp đƣợc.
Sự hình thành các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam cũng chịu ảnh
hƣởng của các trào lƣu tƣ tƣởng văn hoá xâm nhập từ bên ngoài vào: Nho
giáo, Đạo giáo, Phật giáo từ Trung Quốc, Ấn Độ du nhập vào nƣớc ta từ rất
sớm, và cuối cùng là sự truyền bá và thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin với
sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta. Các
trào lƣu tƣ tƣởng trên ảnh hƣởng đến sự hình thành các giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc ở các mức độ khác nhau.
Nho giáo có nguồn gốc từ Trung Quốc và đƣợc du nhập vào nƣớc ta từ
thời Bắc thuộc. Về cơ bản, đây là một hệ thống quan điểm về thế giới, con
ngƣời, xã hội, là một học thyết chính trị - đạo đức, xã hội hƣớng tới mục tiêu:
“tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Trong mọi vấn đề, Nho giáo lấy đạo
đức làm gốc, làm xuất phát điểm, đề cao vai trò và tác dụng của đạo đức trong
xã hội. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã đề cao và sử dụng Nho giáo làm
công cụ quản lí đất nƣớc. Qua các nhà nho và sự dạy dỗ của họ, đạo đức Nho
giáo thấm dần vào nền đạo đức truyền thống của dân tộc ta. Tuy nhiên, ngƣời
Việt luôn tiếp thu Nho giáo một cách sáng tạo cho phù hợp với tâm lí, tập
quán của dân tộc mình. Các quan điểm đạo đức của Nho giáo nhƣ nhân, lễ,
nghĩa, đã góp phần làm giàu thêm tình cảm yêu thƣơng giữa con ngƣời với
con ngƣời. Trong quan niệm của ngƣời Việt Nam, “nhân” luôn đi liền với
“nghĩa” tạo nên hai chữ “nhân nghĩa” là phƣơng thức ứng xử giữa con ngƣời
với con ngƣời bao giờ cũng đặt chữ tình lên hàng đầu “có tình có lí”, và khi

20


21
Hệ thống các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam rất
phong phú và đa dạng. Đã có rất nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề này và
đƣa ra bảng giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.
Theo tác giả Trần Văn Giàu trong cuốn “Giá trị tinh thần truyền thống
của dân tộc Việt Nam” thì giá trị đạo đức truyền thống là cốt lõi của hệ giá trị
tinh thần của dân tộc. Hễ nói đến giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc là
nói đến các truyền thống: yêu nƣớc, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan,
thƣơng ngƣời, vì nghĩa. Trong đó tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các
giá trị là yêu nƣớc. Chủ nghĩa yêu nƣớc là tƣ tƣởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt Nam [ Xem15; 94].
Theo tác giả Nguyễn Hồng Phong trong cuốn “Những vấn đề văn hoá
Việt Nam hiện đại”, hệ giá trị của dân tộc Việt Nam gồm: lòng yêu nƣớc,
yêu quê hƣơng; gắn bó với cộng đồng; lòng nhân ái, trọng đạo đức, trọng
học thức và yêu cái đẹp; khát vọng dân chủ, lấy dân làm gốc; bình đẳng và
công bằnh xã hội. Vai trò của các cá nhân và sự thành đạt. Trong hệ giá trị
đó, “lòng yêu nƣớc, yêu quê hƣơng là phẩm chất hàng đầu của hệ giá trị Việt
Nam” [41; 184].
“Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hƣớng lớn trong công tác
tƣ tƣởng hiện nay” khẳng định: “Những giá trị văn hoá truyền thống vững bền
của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nƣớc nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc,
đạo lí “thƣơng ngƣời nhƣ thể thƣơng thân”, đức tính cần cù vƣợt khó, sáng
tạo trong lao động Đó là nền tảng và sức mạnh tinh thần to lớn để nhân dân
ta xây dựng một xã hội phát triển, tiến bộ, công bằng và nhân ái” [13; 19].
“Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII”
cũng khẳng định: “Bản sắc dân tộc cũng bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đƣợc vun đắp lên qua
lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc. Đó là lòng yêu nƣớc
nồng nàn, ý chí tự cƣờng dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn

học giản yếu: “Yêu nƣớc là một trong những tình cảm sâu sắc nhất đƣợc củng

23
cố bởi sự tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm của những Tổ quốc riêng rẽ, yêu
nƣớc là tình yêu, lòng trung thành với Tổ quốc, ý thức phục vụ Tổ quốc” [60;
552]. Nhƣ vậy, yêu nƣớc là tình yêu đối với quê hƣơng đất nƣớc, là lòng
trung thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để phục
vụ và đem lại lợi ích cho Tổ quốc và nhân dân. Yêu nƣớc là tình cảm phổ
biến của nhân dân các dân tộc trên thế giới. Lênin đã từng khẳng định: “Chủ
nghĩa yêu nƣớc là một trong những tình cảm sâu sắc nhất đƣợc củng cố qua
hàng trăm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập” [62; 226], song sự
hình thành sớm hay muộn, nội dung cụ thể, hình thức và mức độ biểu hiện
của nó tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc. Đối với dân
tộc Việt Nam, lòng yêu nƣớc không chỉ là một tình cảm tự nhiên, mà nó còn
là sản phẩm của lịch sử, đƣợc hun đúc bởi chính lịch sử đau thƣơng mà hào
hùng của dân tộc. Lịch sử mấy nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc
Việt Nam là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập trƣớc những kẻ thù
mạnh hơn ta gấp bội lần. Lịch sử đó đã tạo ra và hun đúc mãi tinh thần yêu
nƣớc. Từ trong lịch sử, tình cảm yêu nƣớc của cha ông ta thể hiện ở tinh thần
làm chủ kiên cƣờng nơi quê cha đất tổ, tinh thần dân tộc quyết tâm bảo vệ nòi
giống Lạc Hồng, bảo vệ nền độc lập tự do của đất nƣớc và giữ gìn, bảo vệ nền
văn hoá dân tộc. Không phải dân tộc nào trên thế giới cũng có đƣợc phong tục
tốt đẹp nhƣ dân tộc ta: hàng năm cứ đến ngày 10 - 3 thì mọi ngƣời dân đất
Việt lại nô nức hƣớng về nơi quê cha đất tổ, hƣớng về ngày giỗ tổ Hùng
Vƣơng - ngày giỗ chung của dân tộc.
Lòng yêu nƣớc của dân tộc Việt Nam đƣợc vun đắp, bồi dƣỡng và phát
triển trở thành chủ nghĩa yêu nƣớc. Chủ nghĩa yêu nƣớc là nguồn sức mạnh to
lớn giúp cho dân tộc Việt Nam vƣợt qua mọi khó khăn thử thách, chiến thắng
mọi kẻ thù và xây dựng, phát triển đất nƣớc.
Trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc dƣới chính sách đô hộ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status