HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TS. Lƣu Hồng Minh (Chủ biên)
TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
(TUYỂN TẬP BÀI NGHIÊN CỨU
TRUYỀN THÔNG CỦA KHOA XÃ HỘI HỌC )
Nhà xuất bản Dân Trí
2009
Mc lc
Trang
PHN I : NHNG VN CHUNG
1. ng V Cnh Linh: Ton cu húa v s bin i ca h thng
truyn thụng hin nay
2. Lu Hng Minh : Tng quan nghiên cứu tiếp cận ph-ơng tiện
thông tin đại chúng và nhu cầu công chúng hiện nay
3. ng V Cnh Linh: Xu hng phỏt trin ni dung thụng tin v
loi hỡnh truyn thụng i chỳng vit nam di tỏc ng ca ton
cu hoỏ
4. ng V Cnh Linh: Truyn thụng Vit Nam trong bi cnh tỏc
ng ca xu hng phỏt trin Kinh t truyn thụng
5. Nguyn Th Tuyt Minh: nh kin gii trong phim qung cỏo
trờn truyn hỡnh
6. Phm Hng Tr: Thụng ip gii trờn thụng tin i chỳng hin
nay qua mt s nghiờn cu
PHN II : TIP CN TRUYN THễNG I CHệNG
7. Tuyt Minh: Tip cn truyn hỡnh ca ngi dõn vựng Tõy Bc
20. Dƣơng Thu Hƣơng: Hình ảnh nam giới trên truyền thông đại
chúng – sự kỳ vọng về vai trò nam giới và hành vi sức khỏe
21. Trần Thành Nam : Báo mạng điện tử và việc tuyên truyền
phòng chống HIV/AIDS
3
PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
TOÀN CẦU HOÁ VÀ SỰ BIẾN ĐỔI TRONG HỆ THỐNG
TRUYỀN THÔNG HIỆN NAY
Ths. Đặng Vũ Cảnh Linh
Để có thể nghiên cứu tác động của toàn cầu hoá tới các phƣơng tiện
thông tin đại chúng hiện nay, chúng ta cũng cần phải làm rõ đƣợc những
vấn đề lý luận và phƣơng pháp luận phân tích những nguyên nhân và xu
hƣớng biến đổi trong cơ cấu hoạt động của chính hệ thống truyền thông
toàn cầu. Nói một cách cụ thể là chúng ta cần phải tìm hiểu hoạt động
truyền thông trong bối cảnh toàn cầu hoá nhƣ là một hệ thống, có cơ cấu
tồn tại và vận hành thống nhất. Hệ thống đó bao gồm nhiều khu vực cấu
thành đang biến đổi không ngừng, đa dạng và phức tạp, có vị trí, vai trò,
chức năng và nhiệm vụ nhất định trong toàn bộ mạng lƣới truyền thông.
Thực tế cho thấy, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, những biến
đổi to lớn trong hệ thống các hoạt động truyền thông đang đòi hỏi một nhu
cầu phải nghiên cứu và nhận thức lại về truyền thông một cách cơ bản.
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu và phân tích về hoạt
động truyền thông đã gọi những biến đổi này là “những cú sốc trong
truyền thông đại chúng”, là “cuộc cách mạng mới về thông tin”, “sự cấu
trúc lại hệ thống truyền thông”. Dƣới đây chúng tôi xin đƣợc phân tích
hai vấn đề có tính phƣơng pháp luận trong nhận thức về sự biến đổi của hệ
thống truyền thông hiện nay, đó là xu hƣớng truyền thông đa phƣơng tiện
Ngày nay, bên cạnh những chiếc máy in, dù đƣợc cải biến một cách
triệt để nhƣng vẫn là một phƣơng tiện truyền thống để truyền bá thông tin,
cuộc cách mạng về công nghệ đã mang lại cho các phƣơng tiện truyền
thông một diện mạo hoàn toàn mới. Công nghệ truyền thông đã phát triển
Claudia Mast. Truyền thông đại chúng. Những kiến thức cơ bản. Nhà xuất bản Thong tin. Trang 45.
Claudia Mast. Truyền thông đại chúng. Những kiến thức cơ bản. Nhà xuất bản Thong tin. Trang 45
3
Xem : Dƣơng Xuân Sơn. Báo chí nƣớc ngoài. NXB Văn hoá thông tin.1996, trang 13.
1
2
5
một cách vƣợt bực so với nhiều ngành công nghệ khác. Nhiều nhà nghiên
cứu còn đƣa ra một sự so sánh thú vị giữa công nghệ thông tin với công
nghệ sản xuất xe hơi để thấy rõ hơn sự phát triển của công nghệ thông tin.
Họ cho rằng trong vòng 30 năm qua nếu nhƣ công nghệ sản xuất xe hơi
đạt đƣợc mức phát triển tƣơng đƣơng với công nghệ thông tin thì mỗi
chiêc ô tô ngày nay sẽ chỉ còn có giá bán bằng giá của một bao diêm.
Chính sự phát triển của công nghệ thông tin và các phƣơng tiện
truyền thông đã khiến cho hệ thống truyền thông đại chúng trên thế giới có
đƣợc một bộ mặt khác, trƣớc hết là ở các hình thức truyền thông. Ngày
nay, sự phát triển về kỹ thuật thu nhận và truyền dẫn thông tin đã đƣa vị
thế, vai trò và cách thức hoạt động của truyền thông đại chúng sang một
trang mới. Sự xuất hiện của thông tin điện tử, thông tin mạng đã góp phần
mạnh mẽ vào sự phong phú trong diện mạo hoạt động đƣợc gọi là “đa
phƣơng tiện” của truyền thông.
thấy trong những năm gần đây hầu hết các tờ báo lớn của Mỹ nhƣ New
York times, Washington Post, Los Angeles times đều đã phải giảm số
lƣợng phát hành. Mặt khác, số lƣợng những ngƣời đọc các báo này qua
mạng đã cao hơn hẳn số ngƣời đọc qua báo in . Chẳng hạn, New York
times có 12,8 triệu ngƣời đọc qua mạng so với 5 triệu đọc báo in,
Washington Post : 7,8 triệu ngƣời đọc qua mạng so với 1,8 triệu đọc báo
in, Los Angeles times : 4,3 triệu ngƣời đọc qua mạng so với 2,4 triệu đọc
báo in1.
Cũng theo một nghiên cứu của Viện Carnegie, Hoa Kỳ, giới trẻ
ngày nay hầu hết đều sử dụng Internet làm nguồn thu nhận thông tin chính
thức của họ, trong khi báo chi giấy và truyền hình ngày càng ít đƣợc sử
dụng. Có 44% số ngƣời đƣợc hỏi đã nói rằng họ thƣờng dùng các “new
portal” nhƣ Yahoo ít nhất một lần một ngày, 37% sử dụng truyền hình địa
phuơng, trong khi đó báo in là 19%2.
Tờ báo nổi tiếng của Mỹ là US New đã cho biết, trong khi báo in
của họ đã chịu những sự thua thiệt thảm hại thì báo điện tử của họ thì lại
phát triển tới mức bùng nổ. Nói về điều này, trang điện tử
1
2
Hoàng Minh. Báo Mỹ khủng hoảng, báo điện tử lên ngôi. Vietnamnet. ngày 7-11-2005
Theo Vietnamnet ngày 7-11-2005
7
“Washingtonian.com” nhận xét: “báo in của US New and World Report
chỉ còn mỏng đến mức nó chỉ giống nhƣ một tờ newsletter (một tờ bản tin)
hơn là một tờ báo”. Trƣớc thực trạng này, US New đã phải cho nghỉ việc
8
báo in” hay “cú sốc của Internet” mà thôi. Những ngƣời hội nhập nhanh
chóng với “thông tin đa phƣơng tiện” đều cho rằng việc hƣớng tới và chấp
nhận “thông tin đã phƣơng tiện” sẽ là một bƣớc tiến mới của ngành truyền
thông.
Giáo sƣ Neil Henry, giảng viên khoa báo chí trƣờng Đại học
Berkeley, California, khi đƣợc hỏi về việc ông có lo lắng tới điều mà
ngƣời ta tiên đoán về cái chết của báo in hay không, đã viện dẫn về việc
trƣớc đây câu hỏi này đã đƣợc đặt ra khi xuất hiện thế giới phong phú và
đa dạng của thông tin truyền hình. Ông cho rằng, nếu trƣớc đây truyền
hình đã không giết chết đƣợc báo in thì ngày nay báo điện tử cũng khó mà
có thể làm đƣợc điều này. Ngƣời ta vẫn mong muốn đƣợc ngồi uống cà
phê cùng với một tờ báo bay lất phất hơn là với một chiếc máy vi tính, lại
càng không muốn mang chiếc máy tính này lên giuờng ngủ. Vậy vấn đề là
ở đâu, theo Neil Henry, chúng ta cần phải sửa mình để chung sống với
truyền thông đa phƣơng tiện, bởi chính truyền thông đa phƣơng tiện sẽ
mang lại cho truyền thông những sức mạnh mới.1
Nhận ra tính tất yếu của xu hƣớng truyền thông đa phƣơng tiện, giới
truyền thông toàn cầu đang cố gắng chuyển hƣớng đầu tƣ sang các
phƣơng tiện phong phú của truyền thông bên ngoài báo in, đặc biệt là đầu
tƣ cho các công nghệ truyền thông mới.
Chẳng hạn, tờ Washington Post ở Mỹ đó cú một loạt cỏc thử
nghiệm trờn báo điện tử của họ trong nhiều năm qua để thu hút thêm
lƣợng độc giả: “đƣa kết nối đến các blogs về một bài báo, cho phép ngƣời
đọc chat trực tuyến với tác giả một bài báo, cho phép các cộng tác viên
đăng các blog của mỡnh trờn trang chớnh để độc giả có thể đối thoại gần
nhƣ trực tiếp với từng cộng tác viên. Tác dụng của các sáng kiến này đối
với danh tiếng và sự chuyên nghiệp báo chí cũng nhƣ tính đáng tin cậy của
nghề nghiệp của các nhà truyền thông. Phƣơng tiện tối thiểu của ngƣời
làm báo bây giờ không còn chỉ là cây bút và chiếc máy ảnh đơn thuần, mà
còn là những chiếc máy tính có bộ nhớ siêu việt. Họ phải làm quen với rất
nhiều kỹ thuật và công nghệ truyền thông mới, các phƣơng tiện thu nhận
và truyền dẫn thông tin có khả năng truy cập và chuyển tải một khối lƣợng
thông tin đồ sộ trong một thời gian ngắn.
1
2
Báo in Mỹ khủng hoảng, báo điện tử lên ngôi. Hoàng Minh. Vietnamnet. Ngày7-11-2005
Báo in Mỹ khủng hoảng, báo điện tử lên ngôi. Hoàng Minh. Vietnamnet. Ngày7-11-2005
10
Phƣơng tiện và kỹ thuật truyền thông mới cũng thâm nhập vào hệ
thống biên tập của các cơ sở truyền thông, báo chí và xuất bản. Hệ thống
công nghệ mới xuất hiện cũng tạo điều kiện cho các biên tập viên có thể
dễ dàng thu thập, soạn thảo, lƣu giữ và quản lý các thông tin. Các biên tập
viên và phóng viên có thể ngồi trƣớc màn hình vi tính đƣợc nối mạng,
nhanh chóng chuyển tải thông tin, kiểm tra và thay đổi dữ liệu, kết nối
trực tiếp tới tổng biên tập cũng nhƣ tới bạn đọc. Nó cho phép các biên tập
viên có thể nhanh chóng điều chỉnh, thêm bớt hoặc cắt bỏ các thông tin
ngay tại bàn làm việc.
Truyền thông đa phƣơng tiện cũng đòi hỏi những vấn đề mới có liên
quan đến bộ khung pháp lý, những vấn đề về bản quyền thông tin, về việc
chuyển giao các dịch vụ truyền thông, về sự độc quyền và cạnh tranh
trong giữa các công ti, các tập đoàn, các nhóm xã hội và cá nhân tham gia
đạo cao nhất đến những công dân bình dị nhất đều có thể đƣợc tiếp nhận,
xử lý và chuyển phát các thông điệp truyền thông.
Sự tƣơng tác thông tin trong không gian trực tuyến và đa tuyến
khiến cho mỗi cá nhân đều có thể tồn tại nhƣ một trạm tiếp nhận, xử lý,
nhận định, đánh giá và chuyển tải các thông điệp truyền thông. Điều đó đã
tạo ra một bộ mặt gắn kết liên tục và đa dạng của không gian truyền thông.
Cấu trúc của không gian truyền thông đa chiều này tạo nên một bề mặt lan
toả và tƣơng tác rộng lớn đƣợc gọi là chiều cộng cảm thông tin. Dƣ luận
của cộng đồng và của số đông sẽ là bộ lọc lớn nhất và trung thực nhất cho
nội dung các thông điệp truyền thông.
Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của báo điện tử trong thời gian qua
đã nhƣ một thế lực mới trong làng truyền thông. Nó không chỉ tạo ra một
sức sống mới cho hoạt động truyền thông đại chúng mà còn trở thành một
phƣơng tiện hữu hiệu cho sự phát triển của không gian truyền thông đa
chiều. Ƣu thế của báo điện tử là không thể bàn cãi khi nó tổng hợp đựoc
hầu nhƣ toàn bộ sức mạnh của công nghệ truyền thông mới, hội tụ đƣợc
tất cả những mặt ƣu điểm của nhiều loại nhiều truyền thông khác, không
chỉ chuyển tải văn bản, hình ảnh nhƣ báo giấy, mà cả âm thanh, video nhƣ
phát thanh, truyền hình.
12
Với báo điện tử, chúng ta cú thể truy cập thông tin bất kỳ lúc nào,
bất kỳ ở đâu miễn là có kết nối Internet. Nó cũng còn là một thƣ viện đúng
nghĩa, có khả năng lƣu giữ đƣợc các thông tin từ quá khứ, hiện tại và
đƣơng nhiên là trên cơ sở đó dự báo cả tƣơng lai. Ngƣời ta còn gọi báo
điện tử là báo giờ bởi khả năng cập nhật thông tin kịp thời của nó. Bên
cạnh khả năng khả năng truy xuất, lƣu giữ thông tin nhanh chóng, báo
điện tử còn tạo ra đƣợc khả năng tƣơng tác, phản hồi giữa độc giả với các
nhu cầu mới của các độc giả ở thời đại kỹ thuật số, muốn có thể truy cập
tin bất cứ lúc nào họ cần, muốn đƣợc “cá nhân hóa” tin tức mà họ đọc và
bỡnh luận và biểu đạt ý tƣởng ngay sau khi đọc xong và làm rõ đƣợc
những giả định và thiên vị của tác giả khi thông báo về một sự kiện nào
đó. Có thể núi độc giả ngày nay đang có xu hƣớng truy cập thông tin từ
các blog và các mục bình luận của cộng tác viên báo chí hơn là chỉ đọc tin
tức thuần túy từ các hãng truyền thông chính thống.
Để tăng cƣờng tính đa chiều trong thông tin, theo kinh nghiệm mà
tờ Washington Post đƣa ra thì “truyền thông cũng phải chuyển sang lắng
nghe nhiều hơn, văn phong cũng khụng thể dài dũng văn tự và mang tính
trịch thượng như báo chí truyền thống nữa. Nó cũng phải mang tính đối
thoại cao, trực tiếp hướng đến độc giả. Các mệnh đề đưa ra mang phải
tính giả định và dành chỗ cho phản biện của độc giả, chứ không cứng
nhắc “sách giáo khoa” như báo chí truyền thống”1.
Từ năm 2004 một trong những nhân vật nổi tiếng trong làng truyền
thông đã khai sinh ra mạng Facebook, bùng nổ vào năm 2007, trở thành
một mạng xã hội “hot” nhất thế giới. Với 69 triệu ngƣời tham gia,
Facebook trở thành một không gian ảo đƣợc đông đảo ngƣời tham gia nhất
thế giới. Chính Mark Zuckerberg khi nói về tính đa chiều của truyền thông
đã cho rằng với 69 triệu ngƣời tham gia vào mạng của mình, lúc nào ông
cũng có một số lƣợng phóng viên và biên tập viên cho Facebook là 69
triệu ngƣời. Tháng 10-2007, Microsoft đầu tƣ 240 triệu USD để sở hữu
1,6% cổ phần của Facebook. Giá trị của trang mạng xã hội này đó tăng lên
đến 15 tỉ USD.
1
Hoang Minh. Vietnamnet. sđd
14
Thông tấn xã Việt Nam. ngày 27-10-2007. Bản tin về Đại hội lần thứ 2 các hãng thông tấn toàn thế
giới.
1
15
của họ. Khi truy cập trang web có tên là Aratanisu này, ngƣời sử dụng có
thể tự rút ra những ý kiến riêng của mình khi so sánh các tin trên trang
nhất, tin thời sự tổng hợp và các bài bình luận của ba tờ báo1.
Theo các nhà phân tích, truyền thông đa chiều còn đƣợc mở rộng
với sự xuất hiện của hiện tƣợng mà các nhà truyền thông gọi là “truyền
thông di động”. Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của điện thoại di
động, mà theo ƣớc tính đến năm 2010 sẽ có 3 tỉ ngƣời khắp thế giới dự
kiến đƣợc trang bị, điện thoại di động đang tỏ ra là một loại hình truyền
thông đầy triển vọng. Ngày càng có nhiều tờ báo tạo ra thu nhập từ
mobile. Năm 2007, DallasNews của Mỹ thu nhập 500.000 USD từ việc
độc giả truy cập tin tức qua điện thoại di động, trong khi Aftonbladet của
Thụy Điển thu nhập 600.000 euro. Từ 2002-2006, Asahi Shimbun của
Nhật Bản đó bỏn hơn 1 triệu đăng ký cho tin tức thể thao, 21.000 đăng ký
đọc báo qua điện thoại di động. Điện thoại di động còn trở thành một công
cụ hành nghề đắc lực cho những “nhà báo-công dân mạng”. Với điện thoại
di động, mọi ngƣời đều có thể vừa nhận tin vừa chuyển tin cho các hãng
truyền thông. Với chiếc điện thoại di động của mình, bất cứ một công dân
nào cũng có thể ghi lại tức thì những sự kiện xảy ra ngay tại nơi mình
chứng kiến, thay cho một nhà báo chuyên nghiệp nếu muốn tác nghiệp thì
phải mất khá nhiều thời gian và công sức để đến từ nơi khác.
Thông tin đa chiều một mặt đã nói lên những sự tiến bộ trong các
hoạt động truyền thông. Đó là sự mở rộng không gian truyền thông cả về
chiều rộng, chiều sâu và chiều cộng cảm giữa các chủ thể và khách thể
độc của không gian truyền thông. Truyền thông đa chiều cũng không thể
trở thành một diễn đàn để cái xấu xa lấn át cái tốt đẹp, thành nơi để con
ngƣời bới móc, vu cáo lẫn nhau, cũng không thể trở thành một khu vực
con ngƣời phải tiếp cận với những giá trị thấp kém, những sản phẩm văn
hoá phi nhân bản với con ngƣời.
Về phƣơng diện này, để chống lại những khía cạnh tiêu cực của
truyền thông đa chiều, nhiều nƣớc trên thế giới đã quan tâm tới việc xây
dựng và điều chỉnh những quy chuẩn luật pháp trong truyền thông, đặc
biệt là xử lý những mặt tiêu cực trong truyền thông trên mạng. Quan điểm
và chính sách về phát triển truyền thông đại chúng của các nƣớc có hệ
thống truyền thông mạnh chắc chắn sẽ là những bài học kinh nghiệm bổ
ích đôi với nƣớc ta.
17
Tài liệu tham khảo
1. Claudia Mast (2006) Truyền thông đại chúng. Những kiến thức cơ bản. Nhà xuất
bản Thông tin, Hà Nội
2. Dƣơng Xuân Sơn (1996) Báo chí nƣớc ngoài. NXB Văn hoá thông tin Hà Nội
3. Hoàng Minh (2005) Báo Mỹ khủng hoảng, báo điện tử lên ngôi. Vietnamnet. ngày
7-11-2005
4. Thời báo kinh tế Saigon. Ngày 20-10-2007 : Báo chí Mỹ - Cú sốc internet
5. Thông tấn xã Việt Nam. ngày 27-10-2007. Bản tin về Đại hội lần thứ 2 các hãng
thông tấn toàn thế giới.
18
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TIẾP CẬN PHƢƠNG TIỆN THÔNG
Nghiên cứu này đƣợc thực hiện với sự hỗ trợ của Viện Friedrich
Ebert (FES) tại Hà nội trong khuôn khổ sự hợp tác giữa Học viện Báo chí
Tuyên truyền và viện FES. Bên cạnh việc khảo sát thực trạng tiếp cận các
phƣơng tiện thông tin đại chúng nói chung, nghiên cứu này còn tập trung
vào việc tìm hiểu nhu cầu của ngƣời dân đối với các chƣơng trình phát
thanh trung ƣơng và địa phƣơng tại một tỉnh nơi mà đƣợc đánh giá là có
sự cạnh tranh cao của các cơ quan truyền thông đại chúng (tỉnh Đồng
Tháp). Kết quả nghiên cứu của đề tài không chỉ là tài liệu quan trọng phục
vụ cho việc đào tạo và nghiên cứu về TTĐC. Hơn thế nữa, các kết quả
nghiên cứu còn có thể đƣợc cung cấp cho các cơ quan TTĐC của TW và
địa phƣơng nhằm giúp họ có cơ sở để xây dựng lại về mặt hình thức cũng
nhƣ nội dung các chƣơng trình phù hợp với nhu cầu của ngƣời dân.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về thái độ, hành vi và nhu cầu của ngƣời dân đối với
các ấn phẩm của TTĐC là một trong những nội dung đã đƣợc nhiều nhà
nghiên cứu TTĐC và xã hội học nghiên cứu.
Năm 1910 M.Weber đã đƣa ra bộ môn xã hội học báo chí có nhiệm
vụ nghiên cứu:
+ Sự phục vụ Báo chí cho các tập đoàn, các tầng lớp xã hội khác
nhau.
+ Phân tích các yêu cầu của xã hội đối với nhà báo.
+ Tìm hiểu các phƣơng pháp phân tích báo chí.
+ Phân tích hiệu quả của báo chí đối với việc xây dựng con ngƣời.
Trong những năm chiến tranh thế giới thứ hai Lasswell và Hobland
đã có nhiều nghiên cứu về TTĐC, đặc biệt là về hiệu quả của chúng. Các
ông đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả của mô hình truyền thông 1 chiều,
nghiên cứu uy tín của nguồn tin, thái độ tuyên truyền ảnh hƣởng nhƣ thế
nào đến hiệu quả truyền tin. Theo Hobland TTĐC là công cụ để duy trì
đảm bảo trật tự xã hội.
thống TTĐC từ hƣớng tiếp cận của xã hội học báo chí còn chƣa nhiều.
Những năm 90, một số cơ quan báo chí và viện Xã hội học đã tiến hành
một số nghiên cứu với qui nhỏ.
21
Năm 1999, trung tâm Nghiên cứu Dƣ luận xã hội, Ban Tƣ tƣởngVăn hoá Trung ƣơng đã tiến hành cuộc điều tra “Về định hướng xem
truyền hình” ở Việt Nam tại 24 tỉnh thành trong cả nƣớc với 3475 phiếu
điều tra cá nhân. Cuộc điều tra này tập trung tìm hiểu hành vi xem truyền
hình của công chúng nhằm phục vụ trực tiếp một số yêu cầu cải tiến chất
lƣợng nội dung chƣơng trình và kỹ thuật của đài truyền hình Việt Nam.
Đến năm 2002 Trung tâm lại tiến hành một cuộc điều tra “Thăm dò dư
luận khán giả đài truyền hình Việt Nam” tại 19 tỉnh với số phiếu 2920.
Cuộc điều tra này cung cấp nhiều số liệu cơ bản về nhu cầu, thị hiếu, định
hƣớng và thói quen xem truyền hình của các tầng lớp nhân dân. Đánh giá
ƣu điểm cũng nhƣ hạn chế của các chƣơng trình truyền hình, thái độ của
khán giả đối với các chƣơng trình truyền hình. Từ đó nêu một số kiến nghị
đối với đài truyền hình Việt Nam.
Năm 2001, Trung tâm Đào tạo Phát thanh-Truyền hình thuộc đài
truyền hình Việt Nam đã thực hiện: “Nghiên cứu khán giả truyền hình Việt
Nam” tại 5 tỉnh với 2004 phiếu. Đề tài đã đƣa ra mức độ xem truyền hình
của các nhóm công chúng phân theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp… đối
với các chƣơng trình và chuyên mục của đài truyền hình Việt Nam và các
đài truyền hình địa phƣơng Hà Nội, Bình Dƣơng.
Năm 2001 Đài Tiếng nói Việt Nam và Ban Tƣ tƣởng Văn hoá TW
đã tiến hành điều tra trên 30 tỉnh, thành phố với 2615 ngƣời trả lời. Kết
quả nghiờn cứu đã mô tả đƣợc các nhóm công chúng của Đài, xác định
đƣợc những lý do thính giả không nghe đài, đánh giá về chất lƣợng phát
sóng, nguyện vọng và đề xuất của thính giả... Đến năm 2005 Đài Tiếng
nhu cầu tiếp nhận này.. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu luận án dự báo một
số xu hƣớng vận động của nhu cầu và đƣa ra các giải pháp nâng cao chất
lƣợng và hiệu quả hoạt động báo chí.
Năm 2004, Khoa Xã hội học Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và nhu cầu tiếp cận TTĐC của
sinh viên Hà Nội” tại 5 trƣờng đại học ở Hà Nội với 200 sinh viên. Đây là
một đề tài nghiên cứu với qui mô nhỏ kết hợp định tính và định lƣợng để
tìm hiểu về hành vi của sinh viên đối với các ấn phẩm và các chƣơng trình
trên phƣơng tiện TTĐC. Đề tài đã tổng hợp đƣợc những mong muốn của
23
sinh viên xem các kênh truyền hình, nội dung và các chƣơng trình truyền
hình cụ thể. Số liệu của đề tài để phục vụ lớp bồi dƣỡng của Hội Nhà báo
cho các phóng viên viết về thanh niên.
Năm 2006 Khoa tiếp tục triển khai đề tài “Sự tiếp cận với các
phƣơng tiện thông tin đại chúng của ngƣời dân vùng Tây Bắc” đề tài đã
nghiên cứu khá toàn diện về thái độ, hành vi, nhu cầu và đánh giá một
phần về hiệu quả truyền thông của 4 loại phƣơng tiện thông tin đại chúng:
truyền hình, phát thanh, báo in và Internet từ phía nghiên cứu công chúng.
Đề tài đã nghiên cứu tại 6 xã phƣờng thuộc tỉnh Lao Cai và Yên Bái.
Ngoài các đề tài nghiên cứu về công chúng nêu trên Khoa Xó hội
học còn đánh giá hiệu quả truyền thông của báo in, Internet bằng phƣơng
pháp phân tích nội dung các bài báo của nhiều tờ báo in và báo mạng về
nhiều chủ đề nhƣ: dân số và phát triển, HIV/AIDS, tính dục, đồng tính, bất
bình đẳng giới, dân tộc thiểu số...
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu có tính hàn lâm đã nêu trên nhiều
công ty, doanh nghiệp, dự án thuộc các lĩnh vực truyền thông, quảng cáo,
nghiên cứu thị trƣờng... đã tiến hành nhiều cuộc điều tra có liên quan đến
công chúng các phƣơng tiện thông tin đại chúng.
o
Phƣờng 4 thành phố Cao Lãnh
o
Xã An Phong huyện Thanh Bình
o
Xã An Bình A huyện Hồng Ngự
o
Xã Phú Điền, huyện Tháp Mƣời
Tại mỗi xã/phƣờng điều tra bằng bảng hỏi định lƣợng 100 ngƣời từ
16 tuổi trở lên đồng thời tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm: 1 thảo luận nhóm
dành cho những ngƣời thƣờng xuyên nghe đài và 1 thảo luận nhóm dành
cho những ngƣời không nghe đài. Các xã/phƣờng đƣợc lựa chọn đại diện
cho tỉnh Đồng Tháp và cho các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có
điều kiện thuận lợi để tiếp cận với TTĐC. Tại mỗi xã/phƣờng dựa trên
danh sách các cá nhân trong từng hộ gia đình chọn ngẫu nhiên hệ thống
cho đủ 100 cá nhân và mỗi ngƣời chỉ thuộc vào 1 hộ gia đình.
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Cuộc điều tra định lƣợng đã tiến hành phỏng vấn theo bảng hỏi đối
với 500 ngƣời tại 5 xã, phƣờng thuộc tỉnh Đồng Tháp. Kết quả sự phân bố
mẫu điều tra đƣợc trình bày trong bảng 1.
25