LUẬN VĂN: Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho sinh
viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu
hoá hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên - sinh viên là một lực lượng đông đảo trong xã hội, là nguồn lực quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ: "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa

nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, thì “Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hoá hiện nay” càng trở nên cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình, bài viết, nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu
về công tác giáo dục đạo đức, lối sống và lý tưởng cách mạng cho thanh niên - sinh viên
trong bối cảnh toàn cầu hoá. Tiêu biểu là một số công trình sau đây:
- Nhóm các đề tài và luận văn viết về đạo đức thanh niên - sinh viên, có:
+“Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam trong điều kiện mới”, Báo
cáo khoa học của Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (1996-1997).
+ Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên (2002): “Giá trị truyền thống trước
thử thách toàn cầu hoá” Nxb Chính trị Quốc gia.
+ “Đạo đức sinh viên trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - thực trạng, vấn đề và giải pháp”, đề tài cấp Đại
học Quốc Gia Hà Nội (năm 2003).
+ “Giáo dục ý thức đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay” của TS Võ Minh
Tuấn (2003).
+ “Xây dựng lối sống có văn hoá của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh trong
công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa", Luận án TS của Đặng Thành
Quang (2005).
+ “Bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay”, Kỷ
yếu hội thảo của Đảng uỷ khối cơ quan Trung ương về công tác tư tưởng (2005); “Xây
dựng bản lĩnh thanh niên hiện nay” do TS Hồ Bá Thâm (chủ biên) (2006).

+ “Định hướng giá trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay”,Báo cáo khoa học
chuyên đề Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tháng 10 năm 2007.
+ Lê Hữu Nghĩa, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (đồng chủ biên) “ Xu thế toàn cầu
hoá trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007.
+ “Đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam - thực
trạng và giải pháp (qua khảo sát một số trường Đại học và Cao đẳng ở Hà Nội)”, luận văn

khác nhau, đã làm sáng tỏ tác động hai mặt của bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế tới sự biến đổi của đạo đức xã hội ở nước ta trong quá trình đổi mới, đề ra
một số phương hướng để đẩy mạnh quá trình xây dựng đạo đức trong bối cảnh toàn cầu
hoá. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề xây
dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay. Những
đề tài trên đã cung cấp cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn quan trọng để tác giả đi sâu
nghiên cứu những vấn đề mà đề tài của tác giả đặt ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt
Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, từ đó luận văn đề xuất các giải pháp chủ yếu để xây
dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận của đạo đức mới và tầm quan trọng của việc xây dựng đạo đức
mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
- Phân tích, đánh giá ưu, khuyết điểm, chỉ ra nguyên nhân của những mặt tồn tại hạn
chế trong thực trạng đạo đức mới của sinh viên Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp để xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam
trong bối cảnh toàn cầu hoá đang ngày càng gia tăng mạnh mẽ phức tạp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng đạo đức
mới, tầm quan trọng của việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam trong bối
cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng trong toàn quốc,
chủ yếu là sinh viên hệ chính quy.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí


Chương 1
TẦM QUAN TRỌNG VÀ NỘI DUNG, YÊU CẦU CỦA VIỆC
XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO SINH VIÊN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAY

1.1. ĐẠO ĐỨC MỚI VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG
ĐẠO ĐỨC MỚI CHO SINH VIÊN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU
HOÁ
1.1.1. Khái niệm đạo đức và đạo đức mới
- Khái niệm đạo đức (Morality)
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử loài người
và ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển, tiến bộ của xã hội. Vì vậy,
trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, vấn đề đạo đức luôn luôn được xã hội
quan tâm, đặc biệt là các nhà triết học.
Cho đến hiện nay bàn về đạo đức có nhiều hệ thống lý thuyết tiêu biểu, tiếp cận đạo
đức theo các khuynh hướng khác nhau.
Một là, khuynh hướng tiếp cận đạo đức của chủ nghĩa duy tâm khách quan và của
các nhà thần học. Các nhà triết học duy tâm khách quan Platôn và Hêghen lấy “ý niệm”
hoặc “ý niệm tuyệt đối” để lý giải nguồn gốc và bản chất đạo đức. Còn các nhà thần học
cho đạo đức có nguồn gốc từ thần thánh, con người và xã hội chẳng qua chỉ là những
hình thái biểu hiện cụ thể khác của đấng thần linh và những chuẩn mực đạo đức do thần
thánh tạo ra để giáo dục con người.
Hai là, khuynh hướng tiếp cận đạo đức của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Họ coi đạo
đức như là năng lực “tiên thiên” của lý trí con người. Ý chí đạo đức hay “thiện ý” theo
cách gọi của I.Kantơ: là một năng lực có tính nhất thành, bất biến, có trước kinh
nghiệm, nghĩa là có trước và độc lập với những hoạt động mang tính xã hội của con
người.
Ba là, các khuynh hướng tiếp cận đạo đức của chủ nghĩa duy vật. Họ đã nhìn thấy
đạo đức trong quan hệ của con người, nhưng con người chỉ là một thực thể trừu tượng,

đức đánh giá hành vi của con người theo chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện thành
khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa.
Đạo đức là một hệ thống các giá trị. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự
phát triển, tiến bộ thì hệ thống ấy có tính tích cực, có tính nhân đạo. Ngược lại, nếu hệ
thống giá trị đạo đức không phù hợp với sự phát triển, tiến bộ thì hệ thống ấy mang tính
tiêu cực, phản động, phản nhân đạo.
- Khái niệm đạo đức mới
Sự vận động phát triển của xã hội loài người là một quá trình “lịch sử -tự nhiên” từ
thấp đến cao, thông qua sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. Phù hợp
với mỗi hình thái kinh tế - xã hội cụ thể có một kiểu đạo đức tương ứng.
Hình thức sơ khai của các quan hệ đạo đức đã xuất hiện rất sớm, trong xã hội Cộng
sản nguyên thuỷ. Lúc đó, đạo đức được biểu hiện thông qua các hành vi giao tiếp, ứng
xử trong các điều cấm kỵ như: không được lấy phần của nhau, không được đàn áp nhau,
không được nói dối. Do điều kiện kinh tế, sinh hoạt xã hội còn ở trình độ lạc hậu, đạo
đức bị lẫn lộn vào tập quán, phong tục, tín ngưỡng, lễ nghi tôn giáo. Các quy ước, chế
định có tác dụng điều chỉnh hành vi con người mang ý nghĩa, giá trị đạo đức.
Cùng với sự vận động phát triển của nền sản xuất xã hội, mối quan hệ giữa người
với người ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng và phong phú hơn. Xã hội chiếm hữu nô
lệ ra đời, xã hội đầu tiên có sự phân chia giai cấp và đạo đức mang tính giai cấp: Đạo
đức chủ nô và đạo đức nô lệ. Đặc điểm lớn của đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ là
thừa nhận phẩm chất cao quý và quyền uy tuyệt đối của giai cấp chủ nô. Giai cấp chủ
nô, những kẻ đặc quyền, đặc lợi, tự cho phép mình là người thượng lưu, là tầng lớp quý
tộc, và chỉ họ mới là người có đạo đức. Còn nô lệ, họ đề cao phẩm chất người lao động
và quyền tự do, bình đẳng của con người, giai cấp nô lệ hiểu rõ được giá trị đích thực
của lao động, của những tình cảm nảy sinh phát triển từ trong quá trình lao động. Họ coi
lao động là nguồn gốc, là cơ sở của đạo đức, là niềm tin hạnh phúc lớn lao của cuộc
sống con người. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ đã thể hiện xung đột của hai loại hình
đạo đức trái ngược nhau, điều đó phản ánh điều kiện kinh tế và lợi ích giai cấp trong xã

hội đó. Tuy nhiên, đạo đức của giai cấp chủ nô - giai cấp thống trị xã hội đóng vai trò

quan hệ đạo đức trong xã hội. Chủ nghĩa tư bản làm nảy sinh ra một lớp người sống xa
hoa trên sự đau khổ của người khác, nhân cách con người ngày càng bị tha hoá. Về vấn
đề này, C.Mác viết:
Mọi sự dường như chất chứa mâu thuẫn, chúng ta cho rằng máy móc có
một sức mạnh kỳ diệu rút ngắn lao động của con người, làm cho lao động sản
xuất dồi dào hơn, nhưng nó đem lại cho con người nạn đói và sự kiệt quệ.
Những nguồn của cải mới, từ trước đến nay chưa từng có, do một phép lạ nào
kỳ quặc và khó hiểu biến thành ngọn nguồn của sự nghèo khổ. Chiến thắng
của kỹ thuật dường như được mua bằng giá của sự sa đoạ về đạo đức. Người
ta có cảm tưởng rằng nhân loại càng chinh phục được bao nhiêu thì con người
càng trở thành nô lệ của người khác hoặc trở thành nô lệ của sự đê tiện của
chính mình bấy nhiêu [49, tr.10]
Những mâu thuẫn trong đạo đức của xã hội tư bản cần phải được khắc phục, được xoá bỏ
bởi sự ra đời của một nền đạo đức tiến bộ hơn. C.Mác - Ph.Ăngghen đã dự báo cho sự xuất
hiện nền đạo đức mới với tính cách là biểu hiện về mặt đạo đức của xã hội mới, xã hội xã hội
chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Sự hình thành đạo đức mới trên cơ sở của đạo đức vô sản gắn liền với cuộc đấu
tranh giải phóng của giai cấp vô sản và do đó giải phóng nhân loại ra khỏi áp bức, bóc
lột, bất công. Đây là cuộc cách mạng mà giai cấp bóc lột về cơ bản bị xoá bỏ, người dân
lao động từng bước được giải phóng về mặt kinh tế, chính trị và xã hội. Cùng với thắng
lợi của cách mạng vô sản và thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đạo đức mới được
hình thành và phát triển trên mảnh đất hiện thực. Đạo đức mới là thành quả tiến bộ của
đạo đức xã hội loài người, đây là đạo đức có tính người thực sự, là đạo đức của nhân
dân lao động. Tính tự giác của quá trình hình thành và phát triển của đạo đức mới, đòi
hỏi phải nắm được quy luật vận động và phát triển của xã hội, đặc biệt ở các nước đang
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đạo đức cộng sản chủ nghĩa là đạo đức của giai cấp vô sản cách mạng, phản ánh
những lợi ích căn bản của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và

giải phóng nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hạnh phúc chân chính

hết là giai cấp công nhân và nhân dân lao động thoát khỏi mọi áp bức, bất công trong xã
hội. Do vậy, đạo đức mới là đạo đức trong hành động cải tạo xã hội, khẳng định phẩm chất
cao quý của người lao động trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng mình.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là sự kế thừa đạo đức của dân tộc và đạo đức
nhân loại. Người đã thể hiện một thái độ cách mạng khoa học đối với các hệ thống đạo
đức cũ. Trên cơ sở nắm vững phép biện chứng duy vật và thực tiễn cách mạng Việt
Nam. Người đã biết “gạn đục khơi trong” kế thừa những yếu tố tích cực, hợp lý của các
hệ thống đạo đức trước góp phần hình thành nên lý luận về đạo đức mới ở Việt Nam.
Nội dung đạo đức mới được thể hiện ở: chủ nghĩa tập thể, lao động cần cù, sáng tạo, ý
thức học tập, rèn luyện vươn lên, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế và
chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa … Từ những nội dung cơ bản đó, tuỳ thuộc vào
yêu cầu cơ bản trong mỗi giai đoạn khác nhau của cách mạng, Đảng ta luôn bổ sung và
phát triển, cụ thể hoá nội dung đạo đức mới.
Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười viết: Đạo đức thể hiện lòng trung thành với lý
tưởng, với mục đích cách mạng của Đảng; ở sự vững vàng về chính trị, sự kiên định
trước mọi thử thách có phẩm chất trong sáng, trung thực, đặt lợi ích chung lên trên hết,
trước hết, một lòng vì nước, vì dân; ở hành động của mình thực sự tỏ rõ là người lao
động, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đạo đức còn thể hiện ở nếp sống trong
sạch của bản thân và gia đình mình, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,
tích cực đấu tranh chống tham ô, quan liêu, lãng phí, góp phần xây dựng Đảng ta thực
sự trong sạch vững mạnh (Báo Nhân Dân, ngày 22 - 4 -1996).
Từ sự phân tích trên cho phép chúng ta đi đến kết luận:
Đạo đức mới là đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
tiến bộ, phản ánh thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và
xây dựng chủ nghĩa xã hội, là tổng hoà các giá trị và chuẩn mực tạo nên nền
tảng nhân cách của con người mới, nó vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự

nghiệp cách mạng cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
[35, tr.60]

Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất còn hết sức thấp kém, của cải làm ra
chỉ đảm bảo cho những nhu cầu tối thiểu của con người, các yếu tố của quá trình tái sản
xuất vận động trong phạm vi cai quản của lãnh chúa phong kiến theo kiểu “nội bất
xuất”. Thị trường, do đó cũng bị vây chặt trong địa hạt của từng lãnh chúa.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra, lực lượng sản xuất phát triển thì
quan hệ sản xuất phong kiến không thể dung nạp nổi sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Chủ nghĩa tư bản ra đời, trước đó đã phá bỏ các rào cản do các lãnh chúa thiết lập
và áp chế. Có thể nói công lao của chủ nghĩa tư bản, như một nấc thang phát triển của
xã hội loài người, nó đã tạo ra: “Một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất,
một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai cấp và một hàng
rào thuế quan thống nhất” [48, tr.603].
Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, thị trường dân tộc không chứa nổi nhu
cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Vì thế, nhà nước tư sản đã tiến hành những cuộc
phát kiến địa lý và tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa. Xét đến cùng,
phát kiến địa lý và chiến tranh xâm lược là để tìm kiếm thị trường: thị trường nguyên
liệu, thị trường sức lao động và thị trường tiêu thụ sản phẩm dồi dào hơn, rẻ hơn và rộng
lớn hơn.
Nói tới xu thế trên đây, C.Mác - Ph.Ăngghen đã có nhiều lần đề cập đến. Hai ông
cho rằng: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới” (48, tr.598); và chính “do bóp
nặn của thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả
các nước mang tính chất thế giới” [48, tr.601]. Đến lượt nó, thị trường thế giới “thay cho
tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát
triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc mà sản xuất vật chất
đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế [48, tr.602]. Và cũng chính:
Nhờ cải biến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện
giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến tất cả những
dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của

những giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và
buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng

tượng mới mà là sự tiếp tục của một tiến trình đã được khơi mào từ lâu [63,
tr.18].
Theo quan niệm này, thực chất toàn cầu hoá là toàn cầu hoá về kinh tế.
Ở Việt Nam, cũng có quan niệm coi toàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế, là sự gia
tăng nhanh chóng các yếu tố kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, dân tộc, khu vực,
vươn tới toàn thế giới. Các tác giả sách “Tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện đại
hội IX của Đảng”, đã chỉ rõ:
Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ ảnh
hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các
quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt các biến cố có quan
hệ lẫn nhau từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới. Toàn cầu
hoá khiến cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, làm sâu sắc hơn chuyên môn
hoá và phân công lao động quốc tế, kích thích gia tăng sản xuất không chỉ ở
cấp độ quốc gia, mà còn mở rộng ra trên toàn thế giới [13, tr.94-95]
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng theo chúng tôi, cho đến nay, về cơ bản có
hai góc độ tiếp cận về toàn cầu hoá: quan niệm tiếp cận toàn cầu hoá theo nghĩa rộng và
tiếp cận toàn cầu hoá theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, toàn cầu hoá được xác định như là một hiện tượng hay một quá
trình làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ quốc tế trên nhiều mặt của đời sống
xã hội (nhiều tế, chính trị, văn hoá, an ninh, môi trường…) giữa các quốc gia, dân tộc,
khu vực.
Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá được hiểu là toàn cầu hoá kinh tế, chủ yếu diễn ra trong
lĩnh vực kinh tế. Phần lớn các nhà kinh tế xem toàn cầu hoá là quá trình kinh tế vĩ mô. Hay
nói cách khác, họ thường xem xét toàn cầu hoá dưới góc độ kinh tế, như là quá trình kinh
tế, một hiện tượng kinh tế có tính toàn cầu.
Theo chúng tôi, mỗi quan niệm trên đều có nhân tố hợp lý của nó. Để khẳng định
một quan niệm chuẩn khoa học về toàn cầu hoá là rất khó, từ tiếp cận của mình, chúng

tôi cho rằng: toàn cầu hoá là sự mở rộng biên độ gia tăng liên kết, ảnh hưởng sâu sắc
trên phạm vi toàn thế giới trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội bằng nhiều phương

quả đối với nền kinh tế, mỗi nền kinh tế muốn cạnh tranh được thì phải chú ý tới chất
lượng, yếu tố thời gian, tăng giá trị thặng dư để có sức mạnh cạnh tranh đạt hiệu quả cao
trong kinh tế. Mặt khác, toàn cầu hoá mở ra những địa bàn và cách thức hoạt động mới,
những đối tác mới cho từng nước, nhất là các nước đang phát triển.
Toàn cầu hoá thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau hơn, làm tăng khả năng trao đổi
về văn hoá - lịch sử giữa các quốc gia. Góp phần làm đa dạng và phong phú đời sống
tinh thần của các nước nhờ sự tiếp biến giữa các nền văn hoá. Với lợi thế này, toàn cầu
hoá đã giúp nâng cao dân trí, làm cho con người có nhiều điều kiện để phát triển về vật
chất lẫn tinh thần.
Những cơ hội do toàn cầu hoá tạo ra là rất lớn. Sự nhất thể hoá, khu vực hoá và toàn
cầu hoá kinh tế, một mặt, thu hút tất cả các nước vào guồng máy kinh tế chung của khu
vực hay thế giới, nhờ vậy mà các nước nhỏ có cơ hội sử dụng các khả năng để phát triển
và mở rộng các quan hệ kinh tế.
Tuy nhiên, cũng chính trong quá trình toàn cầu hoá này cũng chứa đựng những
thách thức và một loạt nguy cơ lớn.
Toàn cầu hoá làm trầm trọng thêm sự bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách giàu
nghèo trong từng nước và giữa các nước. Hội nhập quốc tế càng sâu rộng, các nền kinh
tế phải đối mặt với những khác biệt về thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân trong một
nước và cả giữa các nước với nhau. Từ đó, một từng lớp dân nghèo xuất hiện và ngày
càng tăng. Xu hướng này chính là nguyên nhân quan trọng dẫn đến chủ nghĩa bảo hộ
trên thế giới ngày càng gia tăng. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông
tin và khả năng ứng dụng của nó trong việc liên kết các thị trường, sức ép giảm tiền
lương ngày càng tăng, mặc dù nhóm những người có vị trí cao trong thị trường lao động
ít bị tác động dưới sức ép này. Trên thực tế, người giàu ngày càng trở nên giàu hơn
trong khi phần còn lại của lực lượng lao động thì không. Điều này làm cho khoảng cách
thu nhập tại các nước đang phát triển và các nước phát triển ngày càng tăng.

Toàn cầu hoá gây bất ổn định về mọi mặt hoạt động và đời sống con người nhất là: về
việc làm, an ninh quốc gia, hệ thống kinh tế - tài chính. Toàn cầu hoá làm gia tăng tỷ lệ
thất nghiệp: sự canh tranh khốc liệt trong quá trình toàn cầu hoá làm cho hàng loạt các

làm tăng nguy cơ trầm trọng về vấn đề môi trường ở nhiều nước, đặc biệt là các nước
đang phát triển. Sự phát triển kinh tế và công nghiệp hoá ở các nước này đã và đang làm
cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, rừng bị tàn phá, không khí và các nguồn
nước bị ô nhiễm. Tình trạng này đe doạ đến an toàn cuộc sống của con người và làm
ảnh hưởng xấu đến các hoạt động kinh tế - xã hội. Ngày càng có nhiều nước đặt vấn đề
bảo vệ môi trường lên vị trí quan trọng trong chính sách và gắn với an ninh quốc gia.
Mọi vấn đề toàn cầu nảy sinh như: chủ nghĩa khủng bố, nạn dịch AIDS, hiện tượng En-
ni-nô…đều trở thành mối quan tâm chung của toàn nhân loại. Các nước cần phải nhận
thức rằng: những khiếm khuyết của toàn cầu hoá hiện nay là tất nhiên, song cũng góp
phần vào việc đặt ra hoặc cảnh báo những vấn đề tương lai và thậm chí hé mở cả giải
pháp.
Thực tế đã chứng minh, toàn cầu hoá là xu thế khách quan, là quá trình hợp với quy
luật không thể đảo ngược được của thời đại ngày nay. Các dân tộc không thể đi ngược
với xu thế của thời đại, dẫu biết đó là xu thế phức tạp, chứa đựng cả âm mưu đen tối của
các siêu cường. Nếu cho rằng, tiến hành toàn cầu hoá: là mất đi tính “tự lực, tự cường”
thì thật là sai lầm bởi sự thật hoàn toàn ngược lại. Làm như vậy là tước đi khả năng tự
vệ và chống trả những tiêu cực hàng ngày, hàng giờ chi phối và ảnh hưởng đến nền kinh
tế nước mình. Như thế là chúng ta chấp nhận thua ngay khi chưa phát huy phòng vệ,
nghĩa là vẫn bị xu thế toàn cầu hoá chi phối, vẫn bị loại trừ và cô lập.
Sớm nhận thức được xu thế khách quan của quá trình toàn cầu hoá, Đảng và
Nhà nước ta đã đề ra chủ trương hội nhập kinh tế thế giới và mở rộng giao lưu, hợp tác
quốc tế trên các lĩnh vực: chính trị, văn hoá, xã hội…Tại Đại hội X, Đảng ta đã khẳng
định:
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp
tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá

các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời
mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, là đối tác
tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình
hợp tác quốc tế và khu vực [17, tr.112].

tốt đẹp và có ý chí vươn lên trong cuộc sống. Thực tế cho chúng ta thấy, những sinh
viên có kết quả học tập xuất sắc thường chủ động tích cực, sáng tạo, tìm tòi những tri
thức mới, tích cực hoạt động nhận thức, khám phá tri thức và sống đúng mực với mọi
người và luôn muốn khẳng định nhân cách của mình .
Năng lực tự đánh giá của sinh viên, góp phần quan trọng trong việc tham gia các
hoạt động xã hội và tự rèn luyện bản thân. Tự đánh giá là thể hiện thái độ đối với bản
thân và kết quả sự biểu hiện các thuộc tính nhân cách và năng lực hoạt động, giao tiếp
và tự giáo dục. Sinh viên hoạt động trong môi trường lao động trí tuệ căng thẳng, luôn
phải tìm tòi khám phá những tri thức khoa học về thế giới xung quanh. Trong môi
trường đó, sinh viên không chỉ lớn lên về mặt tri thức, mà còn phát triển các chức năng
tâm lý: tư duy, trí nhớ, tình cảm…Bên cạnh học tập, sinh viên còn tham gia vào các
hoạt động xã hội: hiến máu nhân đạo, chiến dịch mùa hè xanh, tư vấn mùa thi…đã làm
khả năng tự đánh giá của sinh viên có những bước phát triển mới về mặt nhận thức và
kinh nghiệm.
Biểu hiện thứ hai của tính đặc thù ở sinh viên chính là việc xây dựng kế hoạch để
thực hiện nghề nghiệp mà mình đã chọn:
Nét đặc trưng của sinh viên là sự hình thành kế hoạch trên cơ sở do kết quả của quá
trình học tập và mục tiêu mà cá nhân đặt ra. Trong quá trình học tập, sinh viên tiếp thu
những tri thức từ các môn khoa học và tham gia các hoạt động khác nhau của đời sống
xã hội nên xu hướng nghề nghiệp của sinh viên được hình thành và phát triển. Đó là ý
định của cá nhân muốn sử dụng những tri thức, kinh nghiệm, năng lực của mình vào
nghề nghiệp đã chọn.
Sự hình thành xu hướng nghề nghiệp ở sinh viên được xác định bởi tính ổn định
hay không ổn định, bởi ưu thế của các động cơ xã hội và triển vọng phát triển ở từng cá
nhân. Nội dung xu hướng nghề nghiệp được biểu hiện ở: các động cơ liên quan đến

nghề nghiệp trong tương lai; mong muốn thực hiện tốt trách nhiệm công việc; tăng
cường khả năng giải quyết các vấn đề, những nhiệm vụ học tập phức tạp; có tình cảm
nghề nghiệp và mong muốn đạt thành tích trong hoạt động nghề nghiệp, những biểu
hiện này liên quan đến thái độ, sự thích ứng nghề nghiệp của sinh viên. Đó là sự chuẩn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status