LUẬN VĂN: Phát huy giá trị đạo đức truyền thống của thanh niên trong việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên đại học thái nguyên hiện nay doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

phát huy giá trị đạo đức truyền thống
của thanh niên trong việc xây dựng đạo đức
mới cho sinh viên đại học thái nguyên
hiện nay
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên là lực lượng xó hội to lớn, là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực
lượng xung kích trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đũi hỏi phải cú sự hy
sinh gian khổ, phải cú sức khoẻ và sự sỏng tạo. Thanh niờn là độ tuổi sung sức về thể

văn hoá, lối sống hiện đại của thế giới. Những nhân tố này tác động mạnh mẽ đến mọi
lĩnh vực của đời sống xó hội, trong đó có đạo đức. Các giá trị nói chung, các giá trị đạo
đức nói riêng, đang vận động liên tục và ngày càng phức tạp. Nền kinh tế thị trường đó tỏ
rừ những ưu thế của nó trong đời sống hiện thực, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ
khoa học, công nghệ, đồng thời tạo ra điều kiện để con người bộc lộ khả năng của mỡnh,
con người trở nên năng động hơn, sáng tạo hơn, nhạy bén hơn, tự chủ hơn. Bên cạnh đó,
kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh các phản giá trị, tạo ra một bộ phận dân cư sống
thực dụng, cá nhân hẹp hũi, bất chấp đạo lý, sống gấp, lừa đảo…
Thế hệ thanh niên, trong đó có đội ngũ sinh viên, cũng đang hàng ngày hàng giờ bị
tác động bởi những nhân tố trên. Đáng lưu ý, sinh viờn là lực lượng đặc biệt quan trọng
và trong tương lai gần họ sẽ là lực lượng lao động có trỡnh độ, là bộ phận sẽ tham gia
vào đội ngũ trí thức góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, văn hoá - xó hội của
đất nước. Bên cạnh đó, sinh viên đang phải đối mặt với nhiều áp lực sau khi ra trường về
việc làm, về năng lực chuyên môn, ngoại ngữ, tin học… mà sự phát triển của xó hội hiện
đại đũi hỏi. Trong khi đó, hàng ngày sinh viên đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế, điều
kiện học tập, nhà ở… Một bộ phận sinh viờn thiếu kiờn trỡ, nản chớ, mất niềm tin, mất
phương hướng… đó mắc vào cỏc tệ nạn xó hội, thậm chớ là phạm tội.
Đại học Thái Nguyên là một trường Đại học vùng, có số lượng sinh viên đông (năm
2008 là 69.174 người). Sinh viên của Trường cũng đang đứng trước những thách thức mà
sinh viên cả nước đang phải đối mặt.
Điều đó đặt ra yêu cầu bức thiết là phải nhận thức đúng đắn vai trũ của việc xõy
dựng đạo đức mới và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của thanh niên trong

việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên nói chung và sinh viên Đại học Thái Nguyên
nói riêng.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài
Phát huy giá trị truyền thống, trong đó có giá trị đạo đức và vấn đề xây dựng đạo
đức mới nói chung, xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ nói riêng đó được nhiều nhà
khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Đáng chú ý là cỏc
chuyờn khảo của cỏc nhà triết học, văn hoá học Xô Viết như:“Tính kế thừa trong sự phát

cho thế hệ trẻ hiện nay - thực trạng và giải pháp”, Luận văn tiến sỹ triết học của Trần Sỹ Phán,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 1999 “Giáo dục đạo đức và sự hỡnh
thành phỏt triển nhõn cỏch sinh viờn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Triết
học của Nguyễn Đỡnh Quế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2000 “Quan
hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay (Qua thực
tế ở Tỉnh Kiên Giang)”, Hoàng Chớ Bảo, Tạp chớ Nghiờn cứu lý luận 1/1995 với bài: “Văn hoá
và sự phát triển nhân cách thanh niên”; “Mụ hỡnh nhõn cỏch thanh niờn năm 2000” của Phạm
Hoàng Gia, Hà Nội, 1990.
Vấn đề kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc và xây dựng đạo đức mới ở nước ta
hiện nay đó được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, nhưng vấn đề phát huy giá trị
đạo đức truyền thống của thanh niên trong việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên ở
một Trường Đại học cụ thể như Đại học Thái Nguyên chưa có sự nghiên cứu mang tính
chuyên đề chuyên sâu. Vỡ vậy, tụi chọn đề tài: “Phát huy giá trị đạo đức truyền thống
của thanh niên trong việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Đại học Thái Nguyên
hiện nay” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Triết học.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Qua thực tế ở một số Trường, Khoa thành viên trực thuộc Đại học Thái Nguyên,
phân tích thực trạng của việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống của thanh niên trong
việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên, từ đó đề xuất phương hướng và một số giải

pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trũ của giỏ trị đạo đức truyền thống của thanh niên trong
việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Đại học Thái Nguyên hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rừ giỏ trị đạo đức truyền thống của thanh niên Việt Nam
Thứ hai, phõn tớch vai trũ của giỏ trị đạo đức truyền thống của thanh niên trong
việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Đại học Thái Nguyên hiện nay.
Thứ ba, làm rừ việc phỏt huy giỏ trị đạo đức truyền thống của thanh niên trong xây
dựng đạo đức mới cho sinh viên Đại học Thái Nguyên hiện nay là yêu cầu khách quan.

sinh viên Đại học Thái Nguyên.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức, các đoàn thể trực tiếp
làm công tác thanh niên.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
2 chương, 6 tiết.

Chương 1
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA THANH NIÊN
ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO SINH VIÊN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

1.1. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA THANH NIÊN VIỆT
NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ Lí LUẬN
Khái niệm giá trị xuất hiện từ rất sớm. Thời kỳ cổ đại, khái niệm giá trị gắn chặt
với Triết học. Từ nửa sau thế kỷ XIX, khái niệm giá trị trở thành khái niệm trung tâm của
giá trị học. Hiện nay, khái niệm giá trị được sử dụng trong nhiều bộ môn khoa học xó hội
và nhõn văn khác nhau, như triết học, xó hội học, tõm lý học, đạo đức học, kinh tế học…
Trong kinh tế học, khái niệm giá trị gắn với hàng hoá hay vật phẩm, là sự kết tinh
của lao động xó hội trong hàng hoỏ hay vật phẩm đó. Hàng hoá có giá trị và giá trị sử
dụng. Theo cách tiếp cận triết học, khái niệm giá trị được xác định trong mối quan hệ
giữa khách thể và chủ thể, là bản thân sự vật với những thuộc tính bản chất khách quan
của nó và sự nhận thức (đánh giá) của chủ thể con người với khách thể đó. Giá trị là “giá
trị của đối tượng”, mang tính khách quan, nhưng lại là kết quả của sự đánh giá của chủ
thể về những phẩm chất, thuộc tính, bản chất vốn có của sự vật.
Theo Từ điển Bách khoa Triết học của Liên Xô (cũ) giá trị được định nghĩa là:
“Khái niệm triết học và xó hội học dựng để chỉ, thứ nhất tầm quan trọng có tính khẳng
định hoặc phủ định một khách thể nào đó, khác với đặc tính tồn tại và chất lượng của
khách thể này…; thứ hai, khía cạnh chuẩn mực, mệnh lệnh – đánh giá của các hiện tượng
ý thức của xó hội” [16, tr.7].

Hệ thống giỏ trị xó hội vận động, biến đổi theo trỡnh độ nhận thức, nhu cầu phát
triển của cá nhân và cộng đồng. Mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng xó hội cú
những quan niệm giỏ trị khỏc nhau. Những giỏ trị khi đó trở thành tài sản văn hoá tinh
thần chung của nhân loại và cộng đồng, thỡ cú ý nghĩa trường tồn. Lịch sử phát triển của
loài người là quá trỡnh khụng ngừng tỡm kiếm, nhận thức các chân giá trị, tích luỹ, chọn

lọc thành giá trị truyền thống, giá trị phổ quát, từ đó nó kế thừa và tỡm ra cỏc giỏ trị mới
phự hợp hơn với sự phát triển của con người và xó hội.
Từ đó, có thể nhấn mạnh các nội dung chủ yếu của phạm trù giá trị trên các khía
cạnh:
- Giỏ trị là ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh thần, có khả năng thoả
món nhu cầu tớch cực của con người, là tất cả những gỡ đem lại sự phát triển, sự tiến bộ,
sự tốt đẹp cho con người và xó hội. Nội dung này của giỏ trị bao hàm trong nó sự phân
biệt với cái “phản giá trị”, “vô giá trị” đi ngược lại xu thế phát triển của lịch sử, ngăn cản
sự tiến bộ của xó hội.
- Giá trị có tính lịch sử, tính khách quan, nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi
của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, mà do yêu
cầu của từng thời đại lịch sử, trong đó con người sống và hoạt động. Ở mọi thời đại, mọi
giai đoạn lịch sử, con người không ngừng tỡm kiếm, nhận thức cỏc chõn giỏ trị, tớch luỹ,
chọn lọc tỡm ra cỏc giỏ trị mới phù hợp hơn cho sự phát triển của con người và xó hội.
Do đó, bên cạnh hệ giá trị truyền thống luôn song hành các hệ giá trị mới.
- Giá trị chứa đựng các yếu tố nhận thức, tỡnh cảm, hành vi của chủ thể (cỏ nhõn, giai
cấp, tộc người, cộng đồng quốc gia dân tộc…) trong quan hệ với các sự vật hiện tượng mang
giá trị, thể hiện sự đánh giá, lựa chọn của chủ thể.
- Giá trị được xác định trong mối quan hệ thực tiễn của con người, được xác định bởi
sự đánh giá đúng đắn của con người xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm.
Thực tiễn “vừa là tiêu chuẩn của chân lý về bản chất của khỏch thể, vừa là tiờu chuẩn của
chõn lý về giỏ trị của khỏch thể” [8, tr.129]. V.I.Lênin viết: "… Toàn bộ thực tiễn của con
người - thực tiễn này vừa với tính cách là tiờu chuẩn của chõn lý vừa với tớnh cỏch là kẻ
xỏc định một cách thực tế mối liên hệ giữa sự vật với những điều cần thiết đối với con

trong suốt quá trỡnh lịch sử dõn tộc [23, tr.8-11].
Truyền thống là sản phẩm của lịch sử, nên không thể ngay lập tức thay đổi, xoá bỏ.
Nhận thức này sẽ quy định thái độ của hiện tại đối với truyền thống. Sùng bái truyền
thống hoặc coi thường truyền thống đều dẫn đến những hậu quả tai hại. Sùng bái một

cách mù quáng đối với truyền thống, khụng phõn biệt những giỏ tớch cực với những gỡ
là lạc hậu, tiờu cực trong truyền thống, khụng tớnh đến những biến đổi khách quan trong
hiện đại mà đề cao thái quá truyền thống sẽ dẫn đến trỡ trệ, bảo thủ, cản trở tiến bộ.
Ngược lại, nếu coi thường truyền thống trong giải quyết các vấn đề của hiện tại và tương
lai, đoạn tuyệt với truyền thống sẽ dẫn đến sự phá huỷ tính kế thừa, tính liên tục trong sự
phát triển của xó hội. Thực tiễn lịch sử cho thấy, dõn tộc nào dung hoà được các giá trị
truyền thống với các giá trị hiện đại, tỡm được phương thức biểu hiện mới của giá trị
truyền thống trong thời hiện đại thỡ sẽ phỏt triển. Nghĩa là cỏc giỏ trị truyền thống phải
được biến đổi phù hợp với tinh thần thời đại. Trong quá trỡnh đó, các giá trị truyền thống
được gạn lọc, được kết hợp với các giá trị mới để tao nên hệ giá trị mới mang tinh thần
thời đại, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống nhưng lại có đặc điểm dân tộc.
Trong lịch sử dân tộc ta, giá trị truyền thống đó cú những lần đối mặt với thách thức
của những hệ giá trị khác. Trong thời kỳ Bắc thuộc, phong kiến phương Bắc đó thực hiện
chớnh sỏch ỏp đặt hệ giá trị nhằm đồng hoá văn hoá, nô dịch nhân dân ta. Khi thực dân
Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, hệ giá trị truyền thống lại bị thách thức bởi hệ giá
trị của nền văn minh kỹ thuật phương Tây. Do yêu cầu đấu tranh giành lại và bảo vệ độc
lập dân tộc, các giá trị truyền thống đó cú sự biến đổi sâu sắc. Tuy vậy, vẫn có những giá
trị tiếp tục được thừa nhận và phát huy, kết hợp với những giá trị mới phù hợp với yêu
cầu phỏt triển xó hội. Từ khi lónh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xó hội, Đảng chủ trương xây dựng nền văn hoá dân tộc, đại chúng,
hiện đại, tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Khi bàn đến các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, giáo sư Nguyễn Hồng
Phong cho rằng: "tính cách dân tộc gần như là tất cả nội dung của giá trị đạo đức truyền
thống bao gồm: tính thập thể - cộng đồng, trọng đạo đức, cần kiệm, giản dị, thực tiễn;
tinh thần yêu nước bất khuất và lũng yờu chuộng hũa bỡnh, nhõn đạo, lạc quan” [45,

Từ những quan điểm của Đảng ta và kết quả nghiên cứu của những nhà khoa học,
có thể rút ra một số nhận xét về giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc như sau:

Một là, trong hệ thống các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc ta, giá trị đạo
đức chiếm vị trí nổi bật. Khi đề cập đến các giá trị văn hóa, giá trị tinh thần truyền thống,
hầu hết các ý kiến đều nhấn mạnh giá trị đạo đức.
Hai là, trong các giá trị đạo đức truyền thống, chủ nghĩa yêu nước được khẳng định
là cốt lừi, là giỏ trị định hướng cho các giá trị khác.
Ba là, một số phẩm chất đạo đức như tinh thần đoàn kết, lũng nhõn ỏi, đức tính cần
cù, tinh thần lạc quan…cũng thường được đề cập và coi đó là những giá trị đạo đức
truyền thống quý bỏu của dõn tộc ta.
Có thể khẳng định, các giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc ta bao gồm
chủ nghĩa yêu nước; tinh thần đoàn kết và ý thức cộng động sâu sắc; lũng thương người
sâu sắc; đức tính cần kiệm; lũng dũng cảm, tinh thần bất khuất, tớnh khiờm tốn, giản dị,
trung thực, thủy chung, lạc quan
Trong hệ thống các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, chủ nghĩa yêu nước là
"tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị" [19, tr.94], là động lực tỡnh cảm lớn
nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức
của dân tộc ta [24, tr.74].
Yêu nước là tỉnh cảm phổ biến của các dân tộc trên thế giới. Yêu nước biểu hiện ở
sự hy vọng đối với đất nước, lũng trung thành với Tổ quốc, khát vọng hành động tích
cực để phục vụ và đem lại những lợi ích cho tổ quốc và nhân dân. V.I.Lênin đó từng
khẳng định: "Chủ nghĩa yêu nước là một trong những tỡnh cảm sõu sắc nhất đó được
củng cố qua hàng trăm, hàng nghỡn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập" [27, tr.226].
Song sự hỡnh thành sớm hay muộn, nội dung cụ thể, hỡnh thức và mức độ biểu hiện của
nó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc.
Đối với dân tộc Việt Nam, truyền thống yêu nước thấm sâu trong nhân dân như
mạch nước ngầm trong lũng đất, nó bắt nguồn từ mỗi con người, từ mỗi làng xóm tạo
thành truyền thống của cả cộng đồng, tạo thành chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam khác biệt với tư tưởng yêu nước của dân tộc khác, nó được đúc kết bằng xương

thúc đẩy quá trỡnh phỏt triển của lịch sử dõn tộc. Từ thực tiễn đấu tranh chống ngoại xâm và
chống thiên tai của dân tộc, bài học được cha ông ta rút ra là phải coi trọng sức mạnh cộng

đồng. Đoàn kết là điều kiện tất yếu để bảo tồn dân tộc mỗi khi đất nước có họa xâm lăng.
Tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng, bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước, đó tạo nờn sức
mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhờ có tinh thần
đoàn kết và ý thức cộng đồng mà cha ông ta đó sỏng tạo ra nền văn minh Sông Hồng - cơ sở
của tiến trỡnh phỏt triển của dõn tộc. Tinh thần này luụn được nhân dân phát huy trong quá
trỡnh sản xuất, chống thiờn tai, chinh phục thiên nhiên.
Trong những cuộc chiến tranh giữ nước, cả dân tộc ta đó kết lại thành một khối
vững chắc, người Lạc Việt và người Âu Việt đoàn kết dưới sự lónh đạo của An Dương
Vương. Nhân dân khắp Giao Chỉ, Cửu Chân nô nức hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của hai
Bà Trưng. Dựa vào tinh thần đoàn kết, sáng tạo, quyết chiến, quyết thắng, Ngô Quyền
cùng nhân dân đó dỡm xuống sụng Bạch Đằng cả đội quân xâm lược Nam Hán, Hội nghị
Diên Hồng mói mói nổi bật lờn ý chớ “Sỏt thỏt” muụn người như một của nhân dân đời
Trần. Cuộc chiến đấu gian khổ của Lê Lợi chỉ có thể thắng được nhờ vào sự thu hút hết
thảy sức lực và nhân tài cả nước quy tụ về dưới ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn. Quang
Trung đó huy động được lực lượng toàn dân từ Bắc đến Nam để có “thế chẻ tre” trong
cuộc đại phá quân Thanh. Sau khi xâm lược, thực dân Pháp đó chia nước ta thành ba kỳ,
đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt hai miền đất nước, nhưng người Việt Nam khắp Bắc,
Trung, Nam đều chung một mối căm hờn quân cướp nước, đoàn kết dưới sự lónh đạo của
Đảng làm lên thắng lợi của các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất
nước.
Truyền thống yêu nước của dân tộc ta bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với lũng yờu
thương quý trọng con người, nhất là người lao động.
Lũng thương người của cha ông ta bắt nguồn từ trong sinh hoạt cộng đồng công xó nụng
thụn, được củng cố phát triển qua quá trỡnh cựng nhau khai phỏ giang sơn, gỡn giữ đất nước,
bắt nguồn từ hoàn cảnh khổ đau của nhân dân, từ lũng căm thù sâu sắc kẻ áp bức, bóc lột, kiên
cường gan góc vượt lên muôn vàn gian khổ. Nhà thơ Tố Hữu đó từng viết “khổ đau nhiều mới
yêu thương lắm”.


Lũng thương người của dân tộc ta cũn bao hàm cả lũng vị tha, với những kẻ lầm
đường lạc lối, biết lập công chuộc tội, trở về với chính nghĩa, "mở đường hiếu sinh" với
kẻ thù một khi chúng bị thất bại.
Lũng thương người truyền thống của dân tộc ta là cơ sở của lũng yờu chuộng hũa
bỡnh và tỡnh hữu nghị giữa cỏc quốc gia, dõn tộc. Trong quan hệ với các nước láng
giềng, bao giờ chúng ta cũng trọng tỡnh hũa hiếu, cố gắng trỏnh xảy ra những xung đột
dẫn đến cảnh "máu chảy đầu rơi", tận dụng mọi cơ hội để giải quyết hũa bỡnh cỏc cuộc
xung đột giữa nước mỡnh với cỏc nước láng giềng, cho dù nguyên nhân là từ phía kẻ thù
bên ngoài.
Lũng thương người truyền thống của dân tộc ta thấm nhuần tinh thần lạc quan, tin
tưởng ở sức mạnh của con người và sự thắng lợi của chính nghĩa, của cái đẹp, cái thiện,
cái đúng. Đó chính là nguồn động lực tinh thần to lớn giúp nhân dân ta vượt qua mọi khó
khăn thử thách, từng bước vươn lên làm chủ cuộc sống, mở ra tiền đồ tươi sáng cho dân
tộc.
Tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng là nhân tố tinh thần hợp thành động lực
thúc đẩy quá trỡnh phỏt triển của lịch sử dõn tộc. Nú bắt nguồn từ chủ nghĩa yờu nước và
là biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước. Nhờ có tinh thần đoàn kết mà cha ông ta đó tạo nờn
sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Thấy rừ vai
trũ của tinh thần đoàn kết, ông cha ta luụn cú ý thức chống chớnh sỏch chia rẽ của cỏc thế
lực ngoại bang. Cỏc chớnh sỏch dựng người Việt đánh người Việt của các thế lực phong
kiến phía Bắc, chính sách chia rẽ đoàn kết dân tộc của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đều
lần lượt thất bại trước sức mạnh đoàn kết của nhân dân ta.
Từ thực tiễn lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đoàn kết là một truyền
thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta", "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
thành công, thành công đại thành công" [37, tr.350]. Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng
viên “…phải giữ gỡn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gỡn con ngươi của mắt
mỡnh” [41, tr.510].
Đức tính cần kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, được hỡnh
thành trong lao động sản xuất, đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Cần cù là biểu hiện thái

tham nhũng, lười nhác, phải “lấy nhiệm vụ quốc gia làm nhiệm vụ của mỡnh, lấy điều lo
của dân làm điều lo của mỡnh” [45, tr.210].
Đức tính cần kiệm là một trong những giá trị đạo đức truyền thống có từ bao đời
của dân tộc ta. Nó vừa là điều kiện bảo đảm cho nhu cầu cuộc sống của con người, vừa
thể hiện ý thức trách nhiệm của người Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
của mỡnh.
Lũng dũng cảm, bất khuất, tinh thần tự tụn dõn tộc và tự tin ở sức mỡnh là những
phẩm chất khỏ nổi bật trong hệ giỏ trị văn hóa truyền thống. Nhờ có những phẩm chất đó,
mà dân tộc ta mới dám đương đầu và giành thắng lợi trước mọi thiên tai, định họa tưởng
chừng như không vượt qua nổi.
Người Việt Nam khiêm tốn nhưng không hạ thấp mỡnh, giản dị, ghột thúi xa hoa hỡnh
thức, trung thực, thủy chung, ghột kẻ "lỏ mặt lỏ trỏi", "tiền hậu bất nhất".
Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, được hỡnh thành, bổ sung và phỏt
triển trong suốt chiều dài của lịch sử, đó chứng tỏ vai trũ to lớn và sức sống bền bỉ của nú
với sự phỏt triển của dõn tộc ta. Giỏo sư Vũ Khiêu đó từng khẳng định: Đạo đức truyền
thống "đó được gỡn giữ và nâng cao từ đời này qua đời khác trở thành một tỡnh cảm sõu
sắc, một lẽ sống của toàn thể nhõn dõn, một niềm tự hào cao quý ở mỗi người" [24,
tr.71].
Thanh niên là thành viên của dân tộc, sinh thành và tồn tại trong dõn tộc. Ở Việt
nam, thanh niờn là một nhúm nhõn khẩu xó hội cú độ tuổi cũn trẻ, từ 14, 15 đến trên dưới
30 tuổi (do đó thuật ngữ thế hệ trẻ được dùng tương đương với thuật ngữ thanh niên).
Thanh niên có những nét đặc trưng về nhu cầu, sở thích, phong cách sống, lối sống, quan
niệm về cuộc sống. Lứa tuổi này chịu ảnh hưởng và tác động lớn của các điều kiện kinh
tế, chế độ chính trị xó hội, sự giỏo dục và nuụi dưỡng của gia đỡnh, ảnh hưởng của môi
trường học tập và bạn bè. Đây là tầng lớp nhạy cảm với các biến động của xó hội.
Thanh niên sống và làm việc trong các môi trường xó hội khỏc nhau, theo đó có thể chia
thành các nhóm: thanh niên học sinh, sinh viên, thanh niên công nhân, thanh niên trí thức,
thanh niên nông thôn, thanh niên thành thị, thanh niên các lực lượng vũ trang Mỗi nhúm xó

hội của thanh niờn đều có những đặc điểm riêng biệt mang tính đặc thù, có những sở thích,

thanh niên trong cộng đồng xó hội - những giỏ trị đạo đức này làm thành giá trị đạo đức
truyền thống của thanh niên.
Mối quan hệ giữa giá trị đạo đức truyền của dân tộc và giá trị đạo đức truyền thống
của thanh niên là biểu hiện mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận, do đó đương
nhiên, trong đạo đức truyền thống của thanh niên sẽ có những điểm tương đồng, “trùng
lặp”, “nhắc lại” những đặc trưng của giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, đồng thời
có những “miền mới” khác biệt.
Trong lịch sử Việt Nam, các thế hệ thanh niên đó thể hiện rừ vai trũ quan trọng
trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh chống thiên tai, phát triển kinh tế -
xó hội. Chớnh sức trẻ của thanh niờn cỏc thời đại đó gúp phần mang lại sức mạnh giỳp
cho dõn tộc ta vượt qua mọi khó khăn thử thách trong lịch sử. Trong quá trỡnh đó, giá trị
đạo đức truyền thống vẻ vang của thanh niên được hỡnh thành, được nối tiếp qua các thời
đại lịch sử. Đó cũng là quá trỡnh khụng ngừng chắt lọc, lưu giữ những giá trị tinh túy phù
hợp của giai đoạn đó qua, bổ xung những giỏ trị mới do yờu cầu thực tiễn mới của xó hội
đặt ra. Trong thời đại ngày nay, giá trị đạo đức truyền thống của thanh niên bao gồm các
nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, yêu nước nồng nàn, gắn bó thiết tha với độc lập dân tộc, trung thành tuyệt
đối với Đảng, với nhân dân, với chế độ xó hội chủ nghĩa.
Yêu nước nồng nàn, gắn bó thiết tha với độc lập dân tộc là giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc ta, là giá trị đạo đức truyền thống của các thế hệ thanh niên mọi thời
đại nước ta, trong đó có thế hệ thanh niên hiện nay. Tuy nhiên, giá trị đạo đức truyền
thống của thanh niên trong chế độ xó hội mới gắn với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hũa cũn mang phẩm chất chớnh trị mới là trung thành tuyệt đối với Đảng,
với nhân dân, với chế độ xó hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đó lựa chọn.
Giá trị đạo đức truyền thống yêu nước của thanh niên cũng mang đậm sắc thái, nội
dung của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, như biểu hiện trong cuộc sống là ý thức về cội
nguồn, tự hào về văn hóa dân tộc, về chủ quyền quốc gia, ý chí tự lực tự cường, ý thực tự
tôn dân tộc, đặt lợi ích của Tổ quốc của nhân dân lên trên hết, chăm lo xây dựng quê

hương đất nước; yêu thương những người thân trong gia đỡnh, làng xúm, gắn bú với quờ

loạn Mười hai xứ quân, rồi tự mỡnh cầm quõn đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của
nhà Tống bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
Thời nhà Trần, với hào khí Đông A, yêu nước đó hun đúc thành tinh thần "sát thát"
được viết thành chữ khắc trên tay những người chiến binh trẻ tuổi cùng chung ý chớ của
cỏc bậc lóo thành tại Hội nghị Diờn Hồng "Quyết đánh". Sức mạnh ấy cũn được biểu
hiện bằng đường lối trị nước của các nhà lónh đạo quốc gia luôn coi trọng thế hệ trẻ. Khi
giặc Nguyên Mông lần đầu tiên tiến đánh Thăng Long, đó cú những vị tướng đầy tài
năng tuổi cũn rất trẻ, như Trần Quốc Tuấn mới 20 tuổi, nhưng đó được vua Trần tin cẩn
giao cho việc cầm quân đánh giặc. Câu truyện truyền kỳ về người thiếu niên Trần Quốc
Toản bóp nát quả cam bởi quyết tâm đánh giặc lập công, dựng lá cờ thêu sáu chữ vàng
"Phá cường địch, báo Hoàng Ân" tập hợp đội quân trai trẻ theo cha anh đánh giặc cứu
nước đó trở thành một biểu tượng về truyền thống "Tuổi nhỏ chí lớn" của thế hệ trẻ.
Người anh hùng nông dân Nam bộ Nguyễn Trung Trực mới 24 tuổi đó mộ nghĩa
binh nổi dậy đánh phá các đồn binh của giặc Pháp, hiên ngang bước lên đoạn đầu đài với
lời cảnh báo quân cưới nước: "Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh
Tây". Khi đó ông mới 31 tuổi. Nhà vua Hàm Nghi, ra chiếu Cần Vương (năm 1885) khi
mới ở tuổi thiếu niên. Phan Bội Châu, 17 tuổi đó hưởng ứng Chiếu Cần Vương và ông
cũng là người khởi xướng và trở thành linh hồn của nhiều phong trào yêu nước đầu thế
kỷ XX. Phan Bội Châu từng viết "nếu ai nói rằng thanh niên lay trời, trời phải rung, thanh
niên xoay đất, đất phải chuyển cũng không phải là quá đáng vậy". Khi phát động phong
trào Đông Du, Phan Bội Châu đó từng đặt hy vọng chỉ sau vài năm "thỡ những thiếu niờn
nước ta sẽ bay nhảy hô vang, khua cá sấu mà chống lại rồng trời, non sông gấm vóc của
ta sẽ rực rỡ tốt tươi, uy sấm sét sẽ đuổi hết lũ quỷ ma …” [6, tr.79].
Bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với tên tuổi nhà hoạt động cách
mạng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. "Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi được nghe những
từ ngữ tiếng Pháp: Tự do, Bỡnh đẳng, Bác ái – đối với chúng tôi lúc ấy, mọi người da trắng
được coi là người Pháp – thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tỡm xem những gỡ
ẩn dấu đằng sau những chữ ấy” [59, tr.18]. Và Nguyễn Ái Quốc đó trở thành một chiến sĩ

cộng sản (năm 1920), bắt tay vào cuộc vận động cách mạng, tập hợp những thanh niên tiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status