ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Chuyên đề khoa học
PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY
Nhóm 12: Bùi Thị Lý
Vũ Minh Quang
Nguyễn Thị Phương Thanh
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS Kim Ngọc
Hà Nội, 01/2014
MỤC LỤC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ 1
PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU
HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY 1
Nhóm 12: Bùi Thị Lý 1
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS Kim Ngọc 1
Hà Nội, 01/2014 1
DANH MỤC CÁC HÌNH 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Dự kiến đóng góp của chuyên đề 3
7. Kết cấu của chuyên đề 3
1.1. Khái quát chung về toàn cầu hóa kinh tế 4
1.1.1. Khái niệm về toàn cầu hóa 4
1.1.2. Những nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hóa kinh tế 5
1.1.3. Bản chất của toàn cầu hóa 5
1.1.4. Đặc điểm của toàn cầu hóa kinh tế 6
1.2. Khát quát chung về hội nhập kinh tế quốc tế 8
tranh thủ được kỹ thuật, công nghệ tiên tiến thông qua đầu tư trực tiếp, nhờ đó sẽ tạo ra công ăn
việc làm, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, học tập được trình độ và kinh nghiệm quản lý Đây
chính là lý do đầu tiên mà một quốc gia hội nhập kinh tế quốc tế 9
1.2.3. Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế 10
Về bản chất, hội nhập kinh tế quốc tế được xem xét ở một số mặt sau đây: 10
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế tế
quốc gia với nhau và với nền kinh tế thế giới. Nó vừa là quá trình hộp tác cùng phát triển, vừa
là quán trình đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ
lợi ích của mình vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lí của các cường quốc
kinh tế và các công ty xuyên quốc gia 10
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xóa bỏ từng bước và từng phần các rào cản về thương mại
và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóa kinh tế; Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuát kinh doanh, mặt khác buộc
các doanh nghiệp phải có những đổi mới để nâng cao cạnh tranh trên thương trường 10
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho công cuộc cải cách ở các quốc gia nhưng đồng thời
cũng là yêu cầu, sức ép đối với mỗi nước trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, đặc
biệt là các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô 10
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự tạo dựng các nhân tố và điều kiện mới cho sự phát triển
của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ phát triển ngày càng cao và hiện đại
của lực lượng sản xuất 10
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong và ngoài nước,
tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và các kinh nghiệm quản lý 10
Chương 2: PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU
HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 11
2.1. Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế quốc tế 11
2.1.1. Về bối cảnh quốc tế và trong nước trước năm 1986 11
2.1.2. Chính sách chủ động hội nhập KTQT của Việt Nam từ 1986 đến nay 12
2.2. Tái cơ cấu nền kinh tế 25
2.2.1. Khái niệm tái cơ cấu nền kinh tế 26
2.2.2. Các giai đoạn của tái cơ cấu nền kinh tế của nước ta từ năm 1986 đến nay 27
AJCEP ASEAN-Japan
Comprehensive Economic
Partnership Agreement
Hiệp định đối tác kinh tế toàn
diện ASEAN - Nhật Bản
7
CPI Consumer price index Chỉ số giá tiêu dùng
8
EPA Economic Partnership
Agreements
Hiệp định Đối tác Kinh tế
9
EU European Union Liên minh châu Âu
11
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
12 FTA Free Trade Agreements Hiệp định Thương mại Tự do
14
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
15
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
16 KTQT Kinh tế quốc tế
17
ODA Official Development
Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
18
RCEP Regional Comprehensive
Economic Partnership
Quan hệ đối tác kinh tế toàn diện
khu vực
38
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Số hiệu Tên hình Trang
1
1.1
Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam trong các năm
1986 - 1990
16
2
1.2
Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam trong các năm
1991 - 1995
18
3
1.3
Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam trong các năm
1996 - 2000
19
4
1.4
Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam trong các năm
2001 - 2006
21
5
1.5
Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam trong các năm
2007 - 2013
25
6
1.6
nhập kinh tế quốc tế đối với các nền kinh tế đang phát triển, trên cơ sở đó làm rõ mối quan
hệ hội nhập kinh tế với công nghiệp hóa, xác định rõ con đường và quá trình công nghiệp
1
hóa của các nước này, mà cụ thể là làm rõ hơn con đường và bước đi của tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
PGS.TS. Vũ Thị Bạch Tuyết chủ nhiệm (2012), đề tài Nghiên cứu khoa học cấp học
viện “Chính sách tài chính thúc đẩy xuất khẩu trong điều kiện hội nhập KTQT - thực trạng
và giải pháp đối với Việt Nam”, Học viện Tài chính Hà Nội. Các tác giả đã hệ thống hóa
những kiến thức lý luận về những chính sách tài chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu
hàng hóa; tìm hiểu những vấn đề thực tiễn trong nước và quốc tế để rút ra những kết luận về
cơ hội, thách thức, những thành công, hạn chế và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở đó đề xuất
hoàn thiện các chính sách tài chính của Việt Nam trong thời gian tới nhằm thúc đẩy xuất
khẩu hàng hóa của Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2002, khóa luận tốt nghiệp “Điều chỉnh chính sách thương
mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Đại học Ngoại thương Hà Nội.
Tác giả đã nghiên cứu về một số điều chỉnh trong chính sách thương mại của Việt Nam
những năm 1990 nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc, trên cơ sở đó đề xuất một
số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại của Việt Nam trong thời gian tới.
Tất cả các công trình nghiên cứu liên quan trên đã đề cập tới chủ đề Toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế của Việt Nam ở những góc độ nhất định tuy nhiên đến nay ở Việt Nam chưa
có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ có hệ thống về lý luận và thực tiễn về đề tài Phản
ứng chính sách của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế từ năm
1986 đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: chuyên đề được tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích phân tích
phân tích phản ứng chính sách của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế như hiện nay, đồng thời đánh giá những thành công và hạn chế trong quá trình thực
hiện những chính sách trên.
Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được những mục tiêu đề ra, chuyên đề cần phải làm rõ
ba vấn đề:
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
1.1. Khái quát chung về toàn cầu hóa kinh tế
1.1.1. Khái niệm về toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền
kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ
chức hay cá nhân ở góc độ văn hóa kinh tế….trên quy mô toàn cầu.
Theo nghĩa rộng, toàn cầu hoá là một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết
trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội (từ
kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá đến môi trường, v.v…) giữa các quốc gia. Nói một cách
khác,“Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động
lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới,
làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt
điều kiện mới.”.
Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ quá trình hình thành thị
trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia.
Biểu hiện của toàn cầu hoá có thể dưới dạng khu vực hoá – việc liên kết khu vực và các định
chế, các tổ chức khu vực, hay cụ thể, toàn cầu hoá là “quá trình hình thành và phát triển các
thị trường toàn cầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau, trước hết về
kinh tế, giữa các nước thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hoá và nguồn lực
(resources) qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các định chế, tổ chức
quốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế.”
Hay có thể hiểu: “Toàn cầu hóa kinh tế chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt
động kinh tế vượt qua mọi biến giới quốc gia khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất. Sự
gia tăng các xu thế này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch thế giới, sự
lưu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu”.
4
1.1.2. Những nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hóa kinh tế
Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu trong lịch sử phát triển của nhân loại. Trong suốt
hiểu bản chất đó, không chỉ đơn thuần cảm tính hay ý muốn chủ quan hoặc xem xét chi dựa
trên một vài biểu hiện của toàn cầu hóa. Cần thiết phải hiểu bản chất của toàn cầu hóa dựa
tên những nội dung cốt lõi của nó là quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất, giữa kinh tế và chính trị, về giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Trên cơ sở đó, có thế thấy rằng toàn cầu hóa có bản chất hai mặt. Một mặt, nó là xu
thế khách quan như kết quả của sự phát triển cao của lực lượng sản xuất và các yếu tố vật
chất khác. Mặt khác toàn cầu hóa kinh tế cũng là một quá trình kinh tế - xã hội, chính trị - xã
hội bị một số thế lực tư bản chi phối. Chính sự đan xen giữa hai mặt, giữa cái chủ quan và
khách quan đã khiến cho toàn cầu hóa về bản chất trở thành một quá trình chứa đựng đầy
mấu thuẫn, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn tiêu cực.
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã nhận định: “Toàn
cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích
cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh. Xu thế này là kết quả tất yếu của
sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng”.
1.1.4. Đặc điểm của toàn cầu hóa kinh tế
Sự ra đời của toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế tất yếu, khách quan, không thể đảo
ngược, nhưng không thuận buồm xuôi gió mà đầy mâu thuẫn. Toàn cầu hóa kinh tế mở rộng
biên giới kinh tế vượt biên giới lãnh thổ quốc gia, mỗi nước tham gia toàn cầu hóa kinh tế;
một mặt, phải thích nghi với những quy tắc chung, phải từ bỏ một số quyền dân tộc nào đó;
mặt khác vẫn phải bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích chính đáng của dân tộc. Toàn cầu
hóa kinh tế thúc đẩy nền kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh nhưng phân phối lợi ích lại ngày
càng chênh lệch. Các nước phát triển muốn dựa vào ưu thế về nhiều mặt để duy trì trật tự
kinh tế thế giới hiện tồn trong khi các nước đang phát triển lại muốn thiết lập một trật tự kinh
tế quốc tế mới công bằng, cùng có lợi. Toàn cầu hóa kinh tế đi cùng với khu vực hóa, tự do
hóa xen lẫn với xu hướng bảo hộ, nên cạnh tranh toàn cầu lại diễn ra cùng với cạnh tranh
giữa các tổ chức kinh tế khu vực, tổ khu vực với quốc gia ngoài khu vực.
Các chủ thể cùng hợp tác và đấu tranh, cùng tham gia hoạch định các thể chế về toàn
cầu hóa kinh tế. Đó là các quốc gia có chủ quyền, các tổ chức kinh tế khu vực, các tổ chức
kinh tế quốc tế và TNCs. Mặc dù ưu thế thuộc về các nước phát triển nhất và TNCs lớn nhất,
6
7
khi trật tự thế giới hiện nay chưa thay đổi căn bản thì sự phân hóa hai cực Bắc – Nam vẫn
tiếp diễn, thậm chí có thể tăng thêm khi toàn cầu hóa kinh tế phát triển mạnh.
Sự phân hóa giữa các nước đang phát triển vẫn tiếp diễn. Những năm qua các giao
dịch kinh tế giữa các nước đang phát triển không ngừng tăng lên, góp phần giảm bớt sự lệ
thuộc vào các nước phát triển, nhưng sự phân hóa giữa các nước đang phát triển vẫn tiếp
diễn.
Cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, kinh tế tri thức xuất hiện ở
các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao sẽ thúc đẩy nhanh hơn toàn cầu hóa kinh tế và tác
động mạnh các lĩnh vực xã hội, văn hóa, chính trị. Những thành tựu khoa học, công nghệ
mới ngày càng thúc đẩy nhanh sự phát triển và nâng cao trình độ quốc tế lực lượng sản xuất
đồng thời tác động mạnh xu thế phát triển trong các kĩnh vực khác của đời sống xã hội, tăng
sự tùy thuộc giữa các nước và tăng xu thế toàn cầu hóa, nhưng cũng đặt những nước không
tiếp thu kịp các thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức trước nguy
cơ tụt hậu xa hơn.
Toàn cầu hóa kinh tế là một khái niệm rộng lớn và ngay cả bản thân nó cũng chưa
đựng nhiều vấn đề, nhiều mâu thuẫn. Việc nghiên cứu toàn cầu hóa nói chung và toàn cầu
hóa kinh tế nói riêng và vấn đề tất yếu và cần kíp đối với các quốc gia và vùng lãnh thổ. Mỗi
quốc gia, vùng lãnh thổ phải có những hiểu biết của riêng mình để đưa ra đường hướng phát
triển và phương thức hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa cho phù hợp, tận dụng và phát huy
tối đa lợi ích cũng như hạn chế những tác hại mà nó gây ra.
1.2. Khát quát chung về hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ đã xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây. Nhưng cho
đến nay vẫn đang tồn tại các cách hiểu khác nhau về hội nhập kinh tế quốc tế. Có loại ý kiến
cho rằng: Hội nhập kinh tế là tiến trình nhất thể hóa nền kinh tế thế giới, tức là xóa bỏ những
khác biệt về kinh tế giữa các quốc gia và khu vực. Theo đó, các quốc gia, khu vực tiến hành
xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phương, đa phương và toàn
cầu. Loại ý kiến khác cho rằng, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình loại bỏ dần các hàng rào
thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước.
triển, sự hợp tác giữa các quốc gia, các tập đoàn kinh doanh có thể mở rộng từ sản xuất đến
9
phân phối trên phạm vi toàn cầu, những quan hệ này tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát
triển.
Cuối cùng, những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều, trở nên bức xúc
và càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu của các quốc gia. Ngoài các căn cứ trên đây
thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá phát triển còn có thể có những căn cứ khác như: chiến tranh
lạnh chấm dứt vào đầu thập kỷ 90 đã kết thúc sự đối đầu giữa các siêu cường, tạo ra một thời
kỳ hoà bình, hợp tác và phát triển mới
1.2.3. Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế
Về bản chất, hội nhập kinh tế quốc tế được xem xét ở một số mặt sau đây:
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế tế
quốc gia với nhau và với nền kinh tế thế giới. Nó vừa là quá trình hộp tác cùng phát triển,
vừa là quán trình đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển để
bảo vệ lợi ích của mình vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lí của các cường
quốc kinh tế và các công ty xuyên quốc gia.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xóa bỏ từng bước và từng phần các rào cản về thương
mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóa kinh tế; Hội nhập kinh tế quốc tế một
mặt tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuát kinh doanh, mặt
khác buộc các doanh nghiệp phải có những đổi mới để nâng cao cạnh tranh trên thương
trường.
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho công cuộc cải cách ở các quốc gia nhưng đồng
thời cũng là yêu cầu, sức ép đối với mỗi nước trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh
tế, đặc biệt là các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô.
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự tạo dựng các nhân tố và điều kiện mới cho sự phát triển
của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ phát triển ngày càng cao và hiện
đại của lực lượng sản xuất.
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong và ngoài
nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và các kinh nghiệm quản lý.
10
11
trường. Cải cách kinh tế Trung Quốc từ năm 1978 đã đạt được những thành tựu to lớn và là
tấm gương cho Việt Nam tham khảo.
Như vậy, có thể thấy làn sóng cải cách kinh tế rộng khắp trên thế giới cùng với quá
trình toàn cầu hoá, cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 đã tạo áp lực mạnh mẽ cho
công cuộc đổi mới về kinh tế ở Việt Nam.
- Bối cảnh trong nước
Sau khi đất nước giải phóng cho tới năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung
quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xô viết đã được áp
dụng rộng rãi trên cả nước. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế, nhất
là tập trung cho công nghiệp hoá, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Nhưng nền kinh tế nói
chung và sản xuất công nghiệp vẫn tăng chậm, hơn nữa, có xu hướng giảm sút và rơi vào
khủng khoảng. Trong khi nguồn viện trợ của bên ngoài, các nguồn vốn và hàng hoá vật tư,
nguyên liệu và hàng hoá tiêu dùng đã bị cắt giảm đáng kể, lại thêm bao vây cấm vận của đế
quốc Hoa Kỳ ngăn cản Việt Nam bình thường hoá quan hệ với thế giới.
Trước những khó khăn, nhiều địa phương đã tìm lối thoát và đổi mới kinh tế từ cơ sở.
Từ việc tổng kết thực tiễn này, năm 1979, tại Hội nghị trung ương 6 (khoá IV), Đảng ta đã
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cơ chế quản lý nền kinh tế, nhằm “cởi trói” và để cho
sản xuất “bung ra”. Tiếp theo, những cải tiến quản lý thử nghiệm được bắt đầu từ năm 1981
với khoán trong nông nghiệp, điều chỉnh kế hoạch và mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp
công nghiệp quốc doanh. Có thể coi những cải tiến quản lý trong các năm 1979-1985 là các
tìm tòi thể nghiệm chuẩn bị cho cải cách toàn diện (đổi mới) nền kinh tế. Song, các cải tiến
cục bộ này vẫn chưa làm thay đổi căn bản thực trạng nền kinh tế, khủng khoảng kinh tế vẫn
rất trầm trọng. Vì vậy đổi mới toàn diện nền kinh tế trở thành yêu cầu cấp bách ở nước ta.
2.1.2. Chính sách chủ động hội nhập KTQT của Việt Nam từ 1986 đến nay
- Giai đoạn 1986 - 1991:
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới và
quyết tâm thực hiện chính sách đối ngoại theo hướng độc lập, tự chủ và rộng mở. Đại hội VI
là mốc lịch sử quan trọng trên con đường đổi mới toàn diện ở nước ta. Sau khi phân tích phê
phán nghiêm túc sai lầm, thiếu sót trong thời gian qua, Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới
căn bản thị trường. (3) Hợp lý hoá các suất thuế xuất khẩu và nhập khẩu (hạ thấp suất thuế
trên xuất khẩu và nhập khẩu). (4) Điều chỉnh suất hối đoái (hạ thấp giá trị đồng Việt Nam
13
đến mức giá thị trường). Đường lối cải cách hệ thống phân phối hàng hoá và vật giá hiện rõ
trong thay đổi chức năng của Uỷ Ban Vật Giá Nhà Nước từ các năm đầu thập niên 1990.
Trước năm 1986 cơ quan này quyết định mức giá của hầu hết sản phẩm, nhưng bước vào
thời kỳ đổi mới phạm vi hoạt động của cơ quan này được giới hạn vào việc điều chỉnh giá cả
của một vài mục hàng hoá căn bản như xi măng. Ngày nay tất cả các tổ chức và chức năng
của Uỷ Ban Vật Giá Nhà Nước đã được giải tán hoặc thu hút vào Bộ Tài Chính.
(iii) Cải cách hệ thống tài chính và ngân hàng, thi hành các phương sách vĩ mô nhằm
mục đích bài trừ lạm phát. Hệ thống ngân hàng cũng đã được cải cách để thích hợp với nền
kinh tế thị trường. Cải cách liên quan đến hệ thống tiền tệ, tài chính và ngân hàng nhằm vào
mục đích giải quyết vấn đề lạm phát (thuyên giảm hoặc bãi bỏ chi xuất của ngân hàng quốc
gia nhắm vào mục đích bao cấp các xí nghiệp quốc doanh, cường hoá vai trò của ngân hàng
quốc gia trong chức vụ thiết lập và thi hành chính sách kinh tế vĩ mô), cường hoá vai trò của
hệ thống ngân hàng trong các hoạt động kinh tế tư nhân (thiết lập ngân hàng nông nghiệp,
ngân hàng thương mại…), khích lệ tiết kiệm trong nước (duy trì suất lãi dương…) và chấn
hưng và khích lệ mậu dịch quốc tế và đầu tư từ nước ngoài (thi hành một chính sách hối đoái
thích hợp ). Sau đây là một vài biện pháp cải cách hệ thống tiền tệ, tài chính và ngân hàng
thực thi trong các năm 1986-89: (1) Giảm giá đồng bạc Việt Nam (tháng 7, 10, 12 năm 1987,
tháng 2, 11, 12 năm 1988, tháng 1, 2, 3 năm 1989). (2) Chỉnh đốn hệ thống ngân hàng (tháng
7 năm 1987), thiết lập ngân hàng nông nghiệp và ngân hàng thương mại (tháng 7 năm 1988).
(3) Công bố Luật Đầu Tư Nước Ngoài mới (tháng 10 năm 1988). (4) Công bố lãi suất mới
(cao hơn suất lạm phát, tháng 3 năm 1989). Trong các biện pháp cải cách hệ thống ngân
hàng quan trọng nhất là quyết định bãi bỏ chế độ bao cấp xí nghiệp quốc doanh và thay đổi
chức năng của ngân hàng quốc gia và thiết lập ngần hàng thương mại và ngân hàng nông
nghiệp. Chế độ bao cấp xí nghiệp quốc doanh đã gây ra tinh thần nương tựa vào trợ cấp nhà
nước và làm sút giảm năng suất trong các xí nghiệp quốc doanh, và nâng cao suất lạm phát.
Thiết lập các ngân hàng thương mại và nông nghiệp có tác dung xúc tiến đầu tư của tư nhân
vào các ngành hoạt động kinh tế của quốc gia.
Việt Nam rút quân ra khỏi lãnh thổ Cam-pu-chia, cải thiện lại bang giao với Trung Quốc đã
có một tác dụng rất lớn trên phương diện cường hoá liên hệ kinh tế với các quốc gia trong và
ngoài khu vực châu Á.
Trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế
15
dần dần khắc phục được những yếu kém và có những bước phát triển. Kết thúc kế hoạch 5
năm (1986 - 1990), công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng:
GDP tăng 4,4%/năm; tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3,8 - 4%/năm; công
nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm, trong đó sản xuất hàng tiêu dùng tăng 13 -14%/năm; giá
trị kim ngạch xuất khẩu tăng 28%/năm (1). Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát
triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu đã phục hồi được sản
xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,… Đây được đánh giá là thành công bước đầu
cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên. Điều
quan trọng nhất, đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý
mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và bước đầu giải phóng
được lực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới.
Đơn vị tính: %
Hình 1.1: Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam trong các năm 1986 - 1990
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
- Giai đoạn 1991 - 1996:
Đại hội Đảng lần thứ VII (tháng 6/1991) xác định rõ chủ trương “độc lập tự chủ, đa
phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại”, với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với
tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, đánh
dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới của nước ta. Nghị quyết Trung
ương 3 (Khoá VII) về chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại cụ thể hoá hơn nữa chính
16
sách đối ngoại của Việt Nam, nhấn mạnh việc “phát huy những điểm đồng thuận, hạn chế
những điểm bất đồng” và nêu rõ chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế.
Năm 1992, Việt Nam khôi phục quan hệ bình thường vốn bị gián đoạn từ năm 1976
2010”, để phát triển mạnh hơn nữa thương mại trong nước, qua đó tạo cơ sở cho phát triển
xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng,
tạo tiền đề cho chủ động hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, Thủ tướng Chính
phủ chỉ đạo Bộ Thương mại xây dựng và triển khai thực hiện Đề án “Phát triển thương mại
trong nước giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020”.
Một số hoạt động hội nhập KTQT Việt Nam giai đoạn này:
Năm 2000, ký kết Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA).
Tháng 3/1996, Việt Nam đã tham gia sáng lập ASEM.
Tháng 11/1998, Việt Nam được kết nạp vào APEC.
Đây là giai đoạn đánh dấu bước phát triển quan trọng của kinh tế thời kỳ mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng
tài chính - kinh tế khu vực (giai đoạn 1997 - 1999) và thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp,
18
đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách khốc liệt, tuy nhiên, Việt Nam vẫn duy trì
được tốc độ tăng trưởng khá. GDP bình quân của cả giai đoạn 1996 - 2000 đạt 7%; trong đó,
nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,1%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,5%; các ngành dịch vụ
tăng 5,2%. “Nếu tính cả giai đoạn 1991 - 2000 thì nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân là
7,5%. So với năm 1990, GDP năm 2000 tăng hơn hai lần”.
Đơn vị tính: %
Hình 1.3: Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam trong các năm 1996 - 2000
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
- Giai đoạn 2001 - 2006:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định tính tất yếu của toàn cầu hoá, chỉ rõ
ràng khả năng tận dụng những cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại để tránh khỏi
nguy cơ tụt hậu, thực hiện phương châm đối ngoại “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin
cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Nghị
quyết 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị nêu mục tiêu, quan điểm chỉ đạo của
quá trình hội nhập. Nghị quyết cũng nêu rõ 9 nhiệm vụ liên quan tới các công tác tư tưởng,
tuyên truyền, xây dựng chiến lược tổng thể với lộ trình cụ thể, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy