Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Mục lục
Trang
Lời mở đầu
Chơng I: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế Quốc tế của Việt Nam 7
I. Một số vấn đề về toàn cầu hoá 7
1. Toàn cầu hoá và chiến lợc của các nớc đang phát triển 7
1.1. Các nớc đang phát triển trong cơn lốc toàn cầu hoá 7
1.1.1. Bất bình đẳng - mảng tối của bức tranh toàn cầu hoá 10
1.1.2. Giáo dục - Phơng thuốc hữu hiệu làm giảm bất bình đẳng 12
1.2. Toàn cầu hoá mang tính hai mặt 13
1.2.1 Những cơ hội khi tham gia toàn cầu hoá 13
1.2.2 Những thách thức khi tham gia toàn cầu hoá 16
1.3 Toàn cầu hoá gắn liền với xu thế khu vực hoá 17
2. Hội nhập kinh tế Quốc tế của Việt Nam - thuận lợi và khó khăn 19
2.1 Quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế trong những năm gần đây 19
2.2 Một số thuận lợi và khó khăn 21
2.2.1 Thuận lợi 21
2.2.2 Khó khăn, thách thức chủ yếu 23
Chơng II: Công nghiệp ô tô Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá 26
1. Công nghiệp ô tô thế giới 26
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 26
1.2 Nền công nghiệp ô tô thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá 28
1.3. Thị trờng ô tô thế giới hiện tại 30
2. Hiện trạng ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô ở Việt Nam 31
trong bối cảnh toàn cầu hoá
2.1. Hiện trạng ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô ở Việt Nam 31
2.2. Các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô ở Việt Nam 33
3. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp liên doanh sản 38
xuất và lắp ráp ô tô tại Việt Nam
2.3. Chiến lợc giá cả 61
2.4. Chính sách phân phối sản phẩm 63
2.5. Khuyếch trơng sản phẩm 65
2.6. Chích sách hậu mãi 67
3. Khả năng năng cạnh tranh của VMC 68
II. Định hớng sản xuất kinh doanh của xí nghiệp liên doanh VMC 69
1. Phơng hớng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 69
1.1 Những thuận lợi: 69
1.2. Những khó khăn: 70
2. Mục tiêu, phơng hớng sản xuất kinh doanh của VMC 72
III. Giải pháp thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm 73
1. Tăng cờng công tác điều tra nghiên cứu thị trờng 73
2. Nâng cao chất lợng, đa dạng hoá sản phẩm để giữ uy tín với khách hàng 74
3. Xây dựng chính sách giá cả linh hoạt 76
4. Quản lý hiệu quả và phát triển mạng lới tiêu thụ sản phẩm 77
5. Thực hiện các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm 79
5.1. Hoạt động khuyếch trơng sản phẩm 79
5.2. Tổ chức tốt hoạt động bảo hành bảo dỡng sau bán 80
IV. Các điều kiện đảm bảo thực hiện tại Xí nghiệp liên doanh sản 81
xuất ô tô Hoà Bình
1. Điều kiện về công nghệ và kỹ thuật sản xuất 81
2. Điều kiện về vốn kinh doanh 82
3. Điều kiện về tổ chức và nhân sự 82
Trang
2
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Danh mục bảng biểu:
Bảng:
Bảng 1: Tốc độ tăng trởng kinh tế hàng năm và mức độ thay đổi của khối lợng
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang phát triển trong một xu thế chung
của toàn thế giới - đó là xu thế toàn cầu hoá. Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
đang là một vấn đề nóng bỏng buộc các nhà hoạch định chính sách phải dày công
suy nghĩ để làm sao có đợc kết quả tốt nhất, phù hợp nhất. Một trong những bớc đi
đầu tiên trong quá trình hội nhập là những cam kết của khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA/CEPT). Công nghiệp ô tô Vịêt nam cũng phải tìm ra con đờng đi
riêng của mình. Khi những cam kết này đợc thực hiện, ô tô của các nớc ASEAN sẽ
tràn sang Việt Nam. Và với lợi thế của nhũng nớc đi trớc, họ sẽ chiếm u thế so với
ngành công nghiệp ô tô non trẻ của chúng ta.
ở các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình
sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Khi sản phẩm của doanh nghiệp đợc tiêu thụ tức là nó đợc ngời tiêu dùng
chấp nhận. Sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện uy tín của doanh
nghiệp, chất lợng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu ngời tiêu dùng và sự hoàn
thiện các hoạt động dịch vụ. Nói cách khác tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ
những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp đồng thời nó thể hiện cả ba mục
tiêu: lợi nhuận, vị thế và an toàn.
Trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt bắt buộc mỗi
doanh nghiệp phải nỗ lực hết sức để tồn tại và phát triển thì việc tiêu thụ sản phẩm
càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó là cơ sở để hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đợc tiến hành thờng xuyên, liên tục, có hiệu quả nhằm đ-
a doanh nghiệp phát triển hơn nữa. Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự xác
định cho mình phơng hớng, cách thức tiêu thụ thích hợp với khả năng và điều kiện
của doanh nghiệp mình.
Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm, chiếm thị phần lớn luôn là mục tiêu
phấn đấu chung của tất cả các liên doanh ô tô hiện đang hoạt động tại Việt Nam.
Nó có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của các liên doanh và còn đối với sự
phát triển của ngành công nghiệp ô tô non trẻ trong nớc cũng nh sự phát triển của
Trang
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
của Việt Nam
I. Một số vấn đề về toàn cầu hóa
1. Toàn cầu hoá và chiến lợc của các nớc đang phát triển
1.1. Các nớc đang phát triển trong cơn lốc toàn cầu hóa
Chúng ta biết rằng chủ nghĩa t bản đã tạo ra sự phát triển của sản xuất mà
cha nền văn minh nào trớc đó đạt đợc. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa t bản,
các cuộc chiến tranh giành giật thị trờng cũng không ngừng bùng nổ. Chính từ
những cuộc chiến tranh này mà các nớc t bản đã triển khai một sức mạnh kinh tế,
quân sự bao trùm thế giới. Nh vậy, có thể nói thời đại quốc tế hóa đã đợc mở ra
trong vũ lực và bóc lột đối với các vùng thuộc địa. Vào thế kỷ XIX đế quốc Anh có
sự phát triển mạnh, khống chế hầu nh toàn bộ thế giới. Cho đến đầu thế kỷ XX n-
ớc Anh kiểm soát các đờng giao thông hàng hải quốc tế và khống chế nhiều vùng
thuộc địa với 1/5 diện tích trái đất. Sự hội nhập của các thị trờng thuộc địa vào thị
trờng thế giới đã đa đến sự biến động về luồng di dân và giao lu phát triển kinh tế.
Thời kỳ này bên cạnh hoạt động hàng hóa hữu hình là sự gia tăng hoạt động xuất
khẩu vốn dới dạng t bản cho vay. Vào nửa sau thế kỷ XIX, mậu dịch giữa các nớc
mà trung tâm đặt tại Luân Đôn đã trở thành một hệ thống thống nhất sau khi các
quốc gia chính ở Châu Âu đã chính thức công nhận chế độ bản vị vàng.
Một đặc trng nổi bật của các nớc đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu
hoá hiện nay là sự khan hiếm và thiếu sót của tài nguyên con ngời và thể chế cần
thiết cho phát triển. Vì vậy, đặc điểm quan trọng của các nớc này là tăng trởng kinh
tế đôi khi không đồng hành với phát triển kinh tế, do những bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập và do phúc lợi xã hội nh giáo dục, y tế, giao thông, môi tr-
ờng chậm đợc cải thiện.
Tăng trởng kinh tế không đi liền với phát triển là một vấn đề rất đáng lu ý, vì
nó cho thấy toàn cầu hoá không phải là một quá trình tự phát mà là một quá trình
áp đặt, dới nhiều hình thức khác nhau, cái gọi là "chủ nghĩa tự do mới" (neo -
liberalism) của các nớc t bản lớn, lên những nớc phát triển. Để hiểu rõ hơn vấn đề
này, chúng ta hãy cùng quay lại với bối cảnh quan hệ kinh tế quốc tế cuối những
nhất do những khoản tiết kiệm ít ỏi của họ buộc phải đem ra để trả nợ nớc ngoài,
phần còn lại của các khoản tiết kiệm này thì lại bị mất mát lớn do đồng tiền trong
nớc mất giá.
T nhân hoá, nếu thi hành một cách dân chủ, công khai, tôn trọng pháp luật,
có giám sát của chính quyền và nhân dân, thì có thể đem lại lợi ích chung cho nền
kinh tế cũng nh cho nhóm có thu nhập thấp. Nhng ở nhiều nớc, t nhân hoá đã làm
cho phân hoá giàu nghèo thêm sâu sắc. Trờng hợp điển hình là ở Nga, vì vấn đề
tham nhũng đợc "hợp pháp hoá" qua t nhân hoá. Vì thế, nếu chính sách t nhân
hoá không đợc thi hành với mục đích tạo thêm bình đẳng cho xã hội thì về lâu dài
sẽ làm cho bất bình đẳng ngày càng trầm trọng.
Trang
7
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Bảng 1 - Tốc độ tăng trởng kinh tế hàng năm và mức thay đổi của khối lợng mậu
dịch thế giới (%).
Các năm Mức tăng mậu dịch thế
giới (%)
Mức tăng trởng kinh tế
thế giới (%)
1981 - 1990
(tính trung bình trong suốt thời kỳ)
4,7 3,4
1991 4,6 1,8
1992 4,7 2,5
1993 3,9 2,7
1994 9,1 4,0
1995 9,4 3,8
1996 6,8 4,3
1997 9,9 4,2
tranh nhau gay gắt. Kết quả là hình thành những liên minh độc quyền không chỉ
trong phạm vi quốc gia mà trên phạm vi quốc tế.
Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nớc Đông Âu sụp đổ, phạm vi
ảnh hởng của chủ nghĩa t bản đợc mở rộng. Các nớc đế quốc mu toan lợi dụng xu
thế toàn cầu hóa để nhằm xóa bỏ các nớc xã hội chủ nghĩa còn lại. Rõ ràng là xét
về logic và lịch sử thì toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, là kết quả của sự phát
triển lực lợng sản xuất, của kinh tế thị trờng, song cũng cần phải thấy toàn cầu hóa
hiện nay không phải không có tính chất chính trị do việc tham gia vào toàn cầu
hóa xuất phát từ các lợi ích khác nhau, đôi khi đối nghịch nhau giữa các chủ thể
của chính quá trình toàn cầu hóa.
Sự tác động to lớn của Mỹ đối với quá trình toàn cầu hóa bắt nguồn từ sự
chi phối của Mỹ đối với các lĩnh vực quyền lợi cơ bản của thế giới ngày nay, đó là
sức mạnh về kinh tế, khoa học công nghệ và về quân sự. Những điều này khẳng
định vai trò siêu cờng số một, chi phối phần quan trọng đối với quan hệ kinh tế
quốc tế.
Thừa nhận sự chi phối của chủ nghĩa t bản đối với quá trình toàn cầu hóa
hiện nay, thừa nhận tính chính trị của quá trình toàn cầu hóa không có nghĩa là
chúng ta tẩy chay, từ chối tham gia toàn cầu hóa mà ngợc lại phải đấu tranh vì
toàn cầu hóa hớng tới sự tiến bộ và phát triển của nhân loại. Tham gia vào toàn
cầu hóa không chỉ có Mỹ và các nớc t bản mà còn có hàng loạt các quốc gia trên
thế giới trong đó có các quốc gia đang trên con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội. Do
vậy quá trình toàn cầu hóa không phải đơn giản là sự phổ biến các giá trị của chủ
nghĩa t bản mà là quá trình đấu tranh sàng lọc mà trong đó các giá trị văn minh
nhân đạo của loài ngời sẽ đợc chấp nhận và trong quá trình ấy những gì là tiến bộ sớm
muộn sẽ đợc phát huy. Đây cũng là quy luật phát triển chung của xã hội.
Từ những năm cuối thập kỷ 70 đến nay, chúng ta đã đợc chứng kiến sự tăng
trởng kinh tế ngoạn mục của các nớc Đông á và một số nớc Mỹ La tinh nh Braxin,
Mêhicô Sự tăng trởng này, bên cạnh những yếu tố trong nớc, còn dựa trên chiến
lợc toàn cầu hoá mà Mỹ vừa viết kịch bản vừa làm tổng đạo diễn. Việc khuyến
khích kinh tế thị trờng phát triển trên quy mô toàn thế giới đã giúp một số nhóm
tiết kiệm và đầu t. Bên cạnh đó, bất bình đẳng còn gây cho ngời dân cảm giác về
một thể chế bất công, phi hiệu qủa, ảnh hởng đến tiến trình phát triển kinh tế dài
hạn.
1.1.2. Giáo dục - Phơng thuốc hữu hiệu giảm bất bình đẳng.
Trong thời đại kinh tế toàn cầu hoá dựa trên tri thức và thông tin, thì giáo
dục là tài sản còn quý hơn đất đai vì nó giúp con ngời cải thiện thu nhập nhanh
chóng. Đối với một nớc ít đất nhng gần 80% dân số là nông dân nh Việt Nam thì
giáo dục là tài sản quý báu mà Nhà nớc có thể phân phối công bằng cho họ đợc.
Chất lợng giáo dục của nớc ta ít nhất phải bằng các nớc trong khu vực thì mới có khả
Trang
10
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
năng cải thiện thu nhập cho ngời dân. Giáo dục là một trong những việc có hiệu quả
nhất để xoá đói giảm nghèo và giảm bớt phân hoá giàu nghèo.
Trong thập kỷ vừa qua, nhiều nghiên cứu về phát triển trên thế giới đã
chứng minh rằng nguồn lực con ngời, với chất lợng và số lợng giáo dục, là một
trong những nhân tố quan trọng nhất giúp tăng trởng kinh tế đợc lâu dài. Giáo dục
làm tăng kỹ năng nhận thức và những kỹ năng khác, qua đó làm tăng năng suất
lao động. Hơn thế nữa, phân bố giáo dục một cách công bằng cũng giúp làm giảm
bớt sự bất bình đẳng trong thu nhập một cách hữu hiệu nhất. Thực tế đã chứng
minh, cùng số lợng nguồn lực con ngời ban đầu, nớc nghèo tăng trởng kinh tế
nhanh hơn nớc giàu và do đó qua một thời gian, mức thu nhập của các nớc có mức
giáo dục giống nhau sẽ bằng nhau.
Nghiên cứu của một nhóm các nhà kinh tế do Nancy Birdsall làm chủ nhiệm
đã cho thấy, các nớc có thu nhập cao thì hai phần ba của tổng số bất bình đẳng
trong lơng bổng gây ra. Bất bình đẳng cao trong thu nhập gia đình làm cho những
hộ nghèo không đủ phơng tiện đầu t cho giáo dục con cái, dù họ biết rằng đầu t
vào giáo dục sẽ thu lợi nhuận lớn trong tơng lai. Những gia đình nghèo cần phải
dùng thu nhập của họ để sống qua ngày đoạn tháng nên họ không thể đầu t vào
sách cho giáo dục phổ thông, trong khi ở châu Mỹ Latinh, số lợng nhỏ các con cái
nhà giàu đợc lợi. Đây là lý do tại sao trẻ em nghèo ở châu Mỹ Latinh ít có cơ hội
học phổ thông hơn và chất lợng giáo dục thấp hơn khu vực Đông á.
Tóm lại toàn cầu hoá đang tạo một sân chơi bình đẳng cho các nớc nghèo.
Và để giảm bớt sự bất bình đẳng này, bên cạnh việc kêu gọi xây dựng luật chơi
mới bình đẳng hơn cho toàn cầu hoá, các nớc đang phát triển phải nỗ lực nhiều
hơn nữa trong phát triển kinh tế, trong đó cải cách giáo dục và vấn đề quan trọng
hàng đầu.
1.2. Toàn cầu hoá mang tính hai mặt
Việc tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế sẽ tạo ra cho các bên tham gia
những cơ hội, đồng thời nó cũng đặt ra những thách thức. Có ý kiến cho rằng toàn
cầu hóa là "con dao hai lỡi" có thể tạo ra những xung lực làm tăng tốc độ phát triển
kinh tế, góp phần nâng cao đời sống của ngời dân nhng nó cũng có thể làm xói
mòn nền văn hóa và chủ quyền quốc gia, đe dọa sự ổn định kinh tế xã hội.
1.2.1. Những cơ hội của tham gia toàn cầu hóa
Đề cập đến những cơ hội của tham gia toàn cầu hóa có rất nhiều ý kiến,
thậm chí có nhiều ngời tuyệt đối hóa những u thế do toàn cầu hóa mang lại. Tuy
nhiên vận dụng nó nh thế nào còn phụ thuộc vào năng lực và thực trạng của mỗi
quốc gia. Có thể nêu ra một số cơ hội sau:
- Toàn cầu hóa nền kinh tế phá bỏ những cản trở, những rào ngăn cách
giữa các quốc gia, mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế quốc
tế, từ đó các quốc gia có thể tận dụng cơ hội phát triển cho thị trờng bên ngoài.
Một thực tế hiển nhiên là không một quốc gia nào có đủ các điều kiện xây dựng
một nền kinh tế nội địa hiệu quả mà không xét đến thị trờng bên ngoài, cho dù đó
Trang
12
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
là những nớc khổng lồ nh Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật bản. Chính Nga và Trung
Quốc trớc kia đã chủ trơng tạo lập một nền kinh tế tự chủ bao gồm tất cả các
Các nớc châu á khác 94 2,6
Châu Phi 60 1,7
Các nớc đang phát triển khác 11 0,3
Trang
13
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
* Đông á gồm: Inđônêxia, Hàn Quốc, Malaixia, Philipines, Singapore, Đài
Loan, Thái Lan
Nguồn: UNCTAD , World Investment Report, 2002
- Hội nhập vào các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực cho phép các quốc
gia thành viên đợc hởng những u đãi về thuế quan, hàng hóa có thể nhanh chóng
tiếp cận đợc thị trờng thế giới. Đối với các nớc đang phát triển thì hội nhập vào các
tổ chức kinh tế quốc tế cũng chính là tham gia vào diễn đàn cho phép mình bình
đẳng bày tỏ quan điểm bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Việc hội nhập vào các
tổ chức khu vực và toàn cầu, về thực chất là sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.
Điều này vô hình chung tạo ra cơ chế đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh
doanh. Với thực tế đó toàn cầu hóa cũng sẽ góp phần gia tăng xu thế hòa bình
hợp tác và phát triển. Tham gia hội nhập cũng đòi hỏi phải mở cửa thị trờng, phá
bỏ các rào cản. Nh vậy muốn hội nhập phải nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng
năng suất lao động.
-Toàn cầu hóa kinh tế thực chất là quá trình mở cửa hội nhập của quốc gia.
Trong quá trình hội nhập, các quốc gia đều nhanh chóng đợc tiếp nhận những
thông tin tri thức mới góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở nền tảng cho
dân chủ phát triển. Trong môi trờng bảo hộ, đặc biệt với nền kinh tế "khép kín" khó
có thể tiếp nhận và áp dụng những thông tin tri thức mới. Ngày nay, sự hiện diện
của mạng Internet đã nhanh chóng lan truyền thông tin toàn cầu, sự ngăn cách
không gian hầu nh không còn ý nghĩa. Với các phơng tiện thông tin và giao thông
hiện đại, con ngòi ở các vùng xa xôi hẻo lánh cũng tiếp cận đợc những tri thức văn
hóa thế giới. Toàn cầu hóa đa lại điều kiện giao lu hội nhập của con ngời giữa các
ở đây gắn liền với vai trò của doanh nghiệp là vai trò của nhà nớc trong việc hỗ trợ
cho các doanh nghiệp.
- Toàn cầu hóa mở ra cơ hội tranh thủ nguồn lực bên ngoài, song chính điều
đó lại bao hàm khả năng phụ thuộc vào hệ thống phân công lao động quốc tế, nếu
nh không xác định đợc một chiến lợc phát triển phù hợp dựa trên cơ sở phát huy
nội lực là chính.
- Toàn cầu hóa cho phép tận dụng các nguồn lực để rút ngắn quá trình phát
triển, song nó bao hàm khả năng không bền vững trong phát triển. Có thể có tăng
trởng nhng lại kèm theo những hậu quả về mặt môi trờng xã hội. Điều này phụ
thuộc rất lớn vào chính sách phát triển và hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nớc.
Thực trạng của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, việc mở cửa du nhập các
thành tựu công nghệ, nguồn vốn v.v để phát triển, song công nghệ lạc hậu, ô
nhiễm môi trờng, vốn thất thoát cùng các tệ nạn xã hội khác gia tăng. Do vậy, nếu
không có sự kiểm soát, nguy cơ trở thành bãi thải công nghệ đối với các nớc tiếp
nhận công nghệ không phải xa vời. Ngay Việt Nam theo thống kê gần đây việc
nhập khẩu máy móc công nghệ trong những năm vừa qua có đến 50% thuộc loại
đã lạc hậu, có những máy móc đã hết khấu hao, thậm chí có loại đợc sản xuất từ
những năm 20. Với tình trạng nhập công nghệ nh vậy các quốc gia đi sau đã chịu
thua thiệt lớn, nguy cơ tụt hậu ngày càng tăng.
Trang
15
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
- Toàn cầu hóa còn đặt ra những hậu quả phi kinh tế. Đó là vấn đề phổ biến
lan tràn nhanh các dịch bệnh, đặc biệt HIV/ AIDS. Do toàn cầu hóa luồng di
chuyển lao động, du lịch giao lu gia tăng mạnh, theo đó dịch bệnh cũng có khả
năng lây lan nhanh. Đồng thời đó cũng còn là sự phổ biến của các loại hình văn
hóa ngoại lai với lối sống trái ngợc thuần phong mỹ tục, làm băng hoại đạo đức con
ngời. Mạng Internet là phơng tiện thông tin tuyệt vời và nó cũng là con đờng xâm
thực về mặt văn hóa khá nguy hiểm nếu không có cách quản lý hiệu quả.
động. Các hoạt động của ASEAN đang tập trung chú ý soạn thảo các chơng trình
giúp đỡ các quốc gia còn kém phát triển nhằm bố trí lại cơ cấu kinh tế, đào tạo
nguồn nhân lực; tạo lập các tam giác phát triển giữa các quốc gia có vị trí gần
nhau; thực hiện thúc đẩy tự do hóa tài chính gắn với tự do hoá về đầu t, thơng mại;
đa ra ý tởng về đồng tiền chung của khu vực làm cơ sở thanh toán nội bộ, giảm lệ
thuộc vào đồng USD; tạo lập cơ sở cho sự phát triển bền vững, hớng tới một mô
hình phát triển phù hợp với điều kiện trong mỗi nớc cũng nh điều kiện khu vực và
thế giới đầu thế kỷ 21.
Động lực gia tăng xu thế khu vực hoá trong giai đoạn hiện nay xuất phát từ
mục đích phát huy những lợi ích so sánh, những nét tơng đồng của các quốc gia
trong mỗi nhóm khu vực. Đồng thời xu thế khu vực hoá còn đợc đẩy mạnh bởi xu
thế toàn cầu hoá còn đợc đẩy mạnh bởi chính xu thế toàn cầu hoá gia tăng mạnh
mẽ vợt trớc cả việc hoàn thiện những định chế toàn cầu để quản lý quá trình này.
Toàn cầu hoá kinh tế về bản chất là đi đến tự do hoá các yếu tố sản xuất
trên phạm vi toàn cầu nhằm phục vụ lợi ích của các dân tộc. Tuy vậy do những
khác biệt về trình độ phát triển, về nguồn lực sản xuất đã đa lại những lợi ích khác
nhau khi tham gia vào quá trình này. Để khắc phục điều đó các quốc gia có những
điểm tơng đồng tìm đến nhau tạo lập các tổ chức kinh tế, tạo cho nhau những điều
kiện thuận lợi hơn các quy định quốc tế hiện hành. Nh vậy về trình độ hợp tác hoá
khu vực hiện nay cao hơn so với toàn cầu hoá. Tuy vậy khu vực hoá chỉ là tạm
thời, nó ra đời trên cơ sở một trình độ phát triển nhất định của toàn cầu hoá, là bớc
tất yếu trên đờng đi tới toàn cầu hoá. Hợp tác hoá kinh tế khu vực càng phát triển
sẽ là điều kiện và động lực cho toàn cầu hoá kinh tế.
Thực trạng phát triển hiện nay cho thấy toàn cầu hoá mới chỉ ở giai đoạn
đầu. Để tiến tới một thế giới toàn cầu hoá, loài ngời còn phải phấn đấu lâu dài để
loại bỏ những khác biệt trên những bình diện khác nhau. Toàn cầu hoá và khu vực
hoá là xu hớng tất yếu, nó xuất hiện và gia tăng gắn liền với sự phát triển của lực l-
ợng sản xuất, đặc biệt là khoa học công nghệ. Điều này cũng có nghĩa hội nhập
quốc tế và khu vực là yêu cầu tất yếu của phát triển. Vấn đề là hội nhập ra sao?
Tiến trình và cách thức thế nào để tận dụng đợc những mặt tích cực, hạn chế tác
kinh tế thế giới. Tiếp tục tinh thần đổi mới đó, các Đại hội Đảng VII và VIII cùng các
Nghị quyết của Hội nghị Trung ơng đều có chú ý đến các vấn đề hội nhập quốc tế.
Trải qua hơn một thập kỷ từng bớc hội nhập chúng ta đã có đợc những kết
quả bớc đầu trên các mặt thơng mại, đầu t, ngoại giao , phá bỏ thế cô lập, tạo ra
môi trờng cùng hợp tác phát triển với các đối tác trên thế giới. Về ngoại thơng,
chúng ta đã mở quan hệ kinh tế với 150 quốc gia và lãnh thố trên thế giới. Từ 1990
đến 2000 tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng gần 5 lần, trong khi đó tổng giá
trị nhập khẩu tăng hơn 4 lần. Trên thực tế kết thúc năm 2000 kim ngạch xuất khẩu
và nhập khẩu gần nh ngang bằng. Trong cơ cấu hàng hoá cũng có chuyển biến
Trang
18
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
tích cực, tăng dần những hàng hoá đã qua chế biến. Trong lĩnh vực thu hút vốn n-
ớc ngoài chúng ta cũng đạt đợc những kết quả đáng khích lệ. Tính đến tháng
9/2000 chúng ta đã thu hút gần 36 tỷ USD FDI của hơn 70 quốc gia và lãnh thổ
trên thế giới, trong đó đầu t vào công nghiệp xây dựng đạt gần 53%. Cùng với vốn
FDI chúng ta còn tiếp nhận một lợng không nhỏ nguồn vốn ODA thực sự có ý
nghĩa quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng. Tính ra mức vốn nớc ngoài hiện
nay chiếm khoảng 32% tổng vốn đầu t xã hội. Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn
đầu t nớc ngoài trong GDP đều tăng lên qua các năm.
Cùng với việc mở cửa thu hút vốn nớc ngoài, gia tăng xuất khẩu, các doanh
nghiệp Việt Nam cũng đã mạnh dạn đầu t ra nớc ngoài, kể cả vào những nớc phát
triển nh Nhật Bản. Tính cho đến nay các doanh nghiệp Việt Nam đã có 27 dự án
đầu t ra nớc ngoài với tổng số khoảng 8 triệu USD, tập trung chủ yếu trong lĩnh
vực chế biến thực phẩm, thơng mại, dịch vụ và xây dựng. Đồng thời những năm 90
chúng ta đã ký các hợp đồng lao động đa hơn 8 vạn lao động ra nớc ngoài làm
việc.
Thực ra để đạt đợc những kết quả nh trên trong những năm qua Việt Nam
đã có nhiều đổi mới cải thiện môi trờng đầu t, đặc biệt là Luật đầu t, mặc dù còn
tế để khai thác các tiềm năng kinh tế nớc nhà, phục vụ cho việc nâng cao đời sống
nhân dân. Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhng
cha đợc khai thác hiệu quả. Nguồn tài nguyên này còn là sức thu hút đối với các
công ty nớc ngoài. Trên cơ sở các nguồn tài nguyên, chúng ta có thể xác lập cơ
cấu ngành kinh tế với những sản phẩm có tính cạnh tranh đáp ứng nhu cầu thị tr-
ờng thế giới.
- Việt Nam hiện nay tuy là quốc gia đang phát triển, là một trong những nớc
nghèo nhất thế giới, song nớc ta đợc đánh giá cao về chỉ số nguồn nhân lực. Với
thị trờng gần 80 triệu dân, trong đó tỷ lệ ngời trong tuổi lao động khá cao, có trình
độ văn hoá, cần cù lao động và đặc biệt là giá lao động rẻ. Đó là lợi thế so sánh có
ý nghĩa trong quá trình tham gia hội nhập. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới
đang chuyển sang nền kinh tế trí tuệ, khoa học - công nghệ phát triển mạnh, trở
thành lực lợng sản xuất trực tiếp chi phối mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, nhng cũng
không thể thay thế đợc vai trò của nguồn nhân lực lao động. Trong thực tế nhiều
công ty nớc ngoài vào Việt Nam, một trong những lý do quan trọng là tận dụng
nguồn nhân lực lao động dồi dào, rẻ và có khả năng tiếp thu công nghệ mới.
- Chúng ta đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện đất
nớc hoà bình, chính trị xã hội ổn định. Đây là điều kiện quan trọng tiên quyết để
phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại. Hơn nữa, nó đảm bảo vai trò định h-
ớng trong hội nhập quốc tế. Sự ổn định về kinh tế xã hội cho phép tập trung toàn
thể sức lực của nhân dân cho phát triển đất nớc. Trong những năm qua chúng ta
không những phát huy tốt nguồn nhân lực trong nớc mà còn thu hút đợc sự đóng
góp không nhỏ của kiều bào ta ở nớc ngoài cùng với một lợng vốn lớn của nớc
Trang
20
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
ngoài đổ vào Việt Nam. Sự ổn định chính trị xã hội thực sự là yếu tố quan trọng tạo
ra môi trờng kinh doanh lành mạnh tăng thu hút đối với đầu t.
Trong những năm qua Việt Nam cũng đã gia tăng quan hệ với Liên Hiệp
Trang
21
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
GDP, khu vực dịch vụ thì đặc biệt phát triển, nhất là lĩnh vực thông tin. Nhìn chung
trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, công nghệ là vô cùng lạc hậu, chậm hơn so
với thế giới từ 50 - 100 năm. Hệ thống thiết bị kỹ thuật ở hầu hết các doanh nghiệp
lạc hậu hơn so với mức trung bình của thế giới từ 2 - 3 thế hệ, thậm chí có những
lĩnh vực từ 5 - 6 thế hệ. Chính vì vậy năng suất lao động của ta thấp, sản phẩm sẽ
có giá thành cao, không có sức cạnh tranh. Sự yếu kém còn thể hiện ở chỗ cơ cấu
mặt hàng xuất khẩu cũng không có tính cạnh tranh. Hiện chúng ta chủ yếu xuất
khẩu nguyên liệu và các sản phẩm sơ chế nh dầu thô, gạo, cao su, chè, cà
phê .Các sản phẩm công nghiệp, nhất là những sản phẩm có hàm lợng công
nghệ cao ít, sức cạnh tranh yếu.
Chúng ta biết rằng chủ thể tham gia thực sự vào hội nhập là các doanh
nghiệp. Trong khi đó các doanh nghiệp của ta còn nhỏ và yếu. Yếu cả về khả
năng quản lý kinh doanh lẫn năng lực sản xuất. Hiện nay trong 6000 doanh nghiệp
Nhà nớc chỉ có khoảng 5% làm ăn thực sự có hiệu quả hơn, nhng phần tuyệt đại
bộ phận cũng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng về vốn và công nghệ cũng bị
hạn chế. Trong khi đó, cơ chế chính sách khuyến khích bộ phận kinh tế này cũng
cha tạo ra cho họ môi trờng thuận lợi. Đó là cha kể hệ thống thuế của ta, nhiều
doanh nghiệp còn kêu quá cao dẫn đến giá thành sản phẩm của họ cao, giảm
năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh kém là nguy cơ lớn khi đẩy nhanh nhịp độ hội nhập.
Để hội nhập có hiệu quả vấn đề là làm sao phải nâng cao đợc năng lực cạnh
tranh thì các doanh nghiệp mới có thể đứng vững đợc trớc sự xâm nhập của hàng
hoá bên ngoài và từ đó mới có thể vơn ra đợc thị trờng thế giới. Vì vậy, nhà nớc
cũng nh các doanh nghiệp cần có chính sách để nâng cao hiệu quả kinh doanh,
tăng năng lực cạnh tranh, xem đó là nhiệm vụ hàng đầu hiện nay nếu không sẽ
không thể chạy kịp với lịch trình hội nhập vào AFTA.
- Nền kinh tế thị trờng thế giới hiện nay đã phát triển trong khi đó chúng ta
về lộ trình tự do hoá. Chúng ta trong những năm vừa qua vừa hội nhập vừa nghe
ngóng đề điều chỉnh các cam kết. Đành rằng ta cha có kinh nghiệm cùng với nhiều
ràng buộc khác về an ninh chính trị song cũng phải có chiến lợc tổng thể về hội
nhập để các cấp, các ngành, các doanh nghiệp có phơng hớng xác định, chủ động
tham gia hội nhập.
- Phải thấy rằng trong quá trình hội nhập vừa qua không phải mọi ngời đều
đã hiểu và nhận thức đợc yêu cầu phải mở cửa hội nhập. Trong những năm qua
hàng hóa ngoại tràn vào Việt Nam đã phần nào kéo theo cả nếp sống "sùng
ngoại". Khoảng cách phân hoá giầu nghèo ngày càng tăng đi liền với tệ nạn xã hội
nổi lên cha từng thấy làm ảnh hởng sâu sắc đến thuần phong mỹ tục, đến bản sắc
dân tộc. Có thể nói những hậu quả kéo theo quá trình hội nhập đang là thách thức
lớn của nớc ta hiện nay. Nếu đẩy nhanh hội nhập mà không có cơ chế chính sách
đi kèm để giải quyết các hiện tợng này thì hội nhập không hẳn đã hiệu quả, đã
thành công.
Trang
23
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trong thời đại ngày nay không thể phát triển nếu không hội nhập, không
tham gia vào quá trình toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá đã, đang và sẽ diễn ra từng giờ
từng phút không chỉ trên phạm vi toàn thế giới mà trong khuôn khổ hạn hẹp của
bản khoá luận này chúng ta không thể đề cập hết mọi khía cạnh đợc. ở chơng
sau, chúng ta sẽ đi sâu vào một ngành cụ thể đang đặt ra khá nhiều vấn đề cần
phải giải quyết và một phần nào đó chúng ta sẽ đứng trên góc độ của toàn cầu
hóa, của quá trình hội nhập kinh tế để xem xét ngành nghề này - đó là ngành
Công nghiệp Ô tô Việt Nam. Để có thể hiểu và phân tích cặn kẽ về ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam, thiết nghĩ chúng ta cũng nên điểm qua đôi nét về lịch sử
hình thành và phát triển của nền công nghiệp ô tô thế giới trong bối cảnh toàn cầu
hoá hiện nay.
nổi tiếng BMW (Bayerische Motoren Werke) đã ra đời tại thành phố Munich (Đức)
từ liên doanh giữa một công ty sản xuất động cơ với hãng sản xuất máy bay của
Gustav Otto.
Ngày nay, ngành công nghiệp ô tô đang đóng một vai trò rất quan trọng
trong phát triển kinh tế. ở các nớc công nghiệp phát triển, công nghiệp ô tô là
nguồn động lực phát triển của các ngành công nghiệp khác. Một nớc công nghiệp
Trang
25