Tóm tắt luận văn thạc sĩ triết học thực chất và ý nghĩa của nhận thức luận phật giáo - Pdf 34

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận nhận thức được coi là học thuyết về khả năng nhận
thức của con người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức cũng
như về con đường, phương pháp nhận thức... Từ trước đến nay, nó
luôn là một chủ đề lớn của triết học.
Nhận thức luận hay lý luận nhận thức cũng là một trong những
nội dung cơ bản của nhiều hệ thống triết học lớn. Trong lịch sử triết
học, vấn đề về nhận thức luôn đóng vai trò chủ yếu và thậm chí, có
khi (thời cận đại ở Tây Âu) còn là vấn đề trung tâm của triết học. Vấn
đề này với tính cách là một nội dung quan trọng trong vấn đề cơ bản
của triết học, có thực chất là vấn đề về mối quan hệ giữa chủ thể và
khách thể trong quá trình nhận thức.
Mọi trào lưu triết học trong sự phát triển của mình không thể
không đề cập đến các vấn đề nhận thức luận. Triết học Phật giáo
cũng vậy, có một nội dung quan trọng là bàn về các vấn đề nhận thức
luận. Nhận thức luận Phật giáo không chỉ có tác dụng làm sáng tỏ
những tư tưởng triết học của bản thân trường phái này, mà còn có
những cống hiến nhất định cho sự phát triển của nhận thức luận nói
chung. Vì vậy, sẽ thật là thiếu sót khi chúng ta bàn về nhận thức luận
nói chung mà bỏ qua vấn đề nhận thức luận trong triết học Phật giáo,
bởi nếu không bàn về nhận thức luận Phật giáo thì không thể bàn đến
triết học Phật giáo - một trào lưu triết học đã từng có những ảnh
hưởng nhất định trong lịch sử tư tưởng của loài người ở quá khứ,
hiện tại và trong cả tương lai.
Có thể nhận định rằng, mảng nhận thức luận trong triết học
Phật giáo bên cạnh những hạn chế nhất định còn có những đóng góp
to lớn cho sự phát triển tư duy triết học Phật giáo nói riêng và cho
nền triết học của nhân loại nói chung. Vì thế, bàn về nhận thức luận
Phật giáo là một điều cần thiết đối với những người làm công tác

Trong “Luận thành duy thức” tác giả Thích Thiện Siêu có bàn
rằng: “Nói duy thức chính là đưa ra lời khai thị, thức tỉnh người ta hãy
tự giác, hãy quán tâm mình, nhìn lại các năng lực thiên biến vạn hoá ở
ngay trong mình để gạn lọc nó, trau dồi nó, sữa chữa nó, phải biến hoá
như thế nào để chỉ đem lại lợi lạc, chứ đừng gây ra đau khổ”.
Hòa thượng Thích Nhất Hạnh với tác phẩm “Vấn đề nhận thức
trong duy thức học” đã đưa ra sự phân tích các hình thái nhận thức:
hiện lượng, tỉ lượng và phi lượng. Ông nhấn mạnh: “...điều hệ trọng
nhất là thức bao gồm trong nó cả phần chủ thể và đối tượng. Kiến


3
phần và Tướng phần là hai phần thiết yếu không thể không có của
thức, của nhận thức”.
Trong luận án tiến sĩ “Một số vấn đề lôgíc học Phật giáo”, tác
giả Phạm Quỳnh đã chỉ ra các cấp độ của nhận thức được thể hiện
trong thuyết Tam tự tính của triết học Phật giáo là: Biến kế sở chấp
tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính.
Bên cạnh những công trình nói trên, khi bàn về nhận thức luận
Phật giáo còn có các tác phẩm như: “Lối vào nhân minh học” của
Thích Thiện Siêu, “Duy thức học nhập môn” của Thích Thiện Hoa;
“Tâm lý học Phật giáo” của Thích Tâm Thiện...
Các công trình trên đây đã bàn về Nhân minh luận, Duy thức
học, Lôgic học, Tâm lý học Phật giáo và có gián tiếp đề cập đến một
số khía cạnh nhất định của nhận thức luận có liên quan đến đề tài.
Những công trình đó là tài liệu tham khảo quý giá, đã có nhiều gợi ý
giúp chúng tôi hoàn thành luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ thực chất và ý nghĩa của nhận
thức luận Phật giáo.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn có hai chương (5 tiết).
Chương 1
THỰC CHẤT CỦA NHẬN THỨC LUẬN PHẬT GIÁO
1.1. Những vấn đề của nhận thức luận Phật giáo
Mỗi khi bàn về vấn đề nhận thức, các câu hỏi sau đây thường
được đặt ra. Thứ nhất, làm sao biết rõ tiến trình nhận thức? Thứ hai,
nếu phân loại những gì mình nhận thức được thì có bao nhiêu đối
tượng được lượng biết tất cả? Thứ ba, bằng cách nào mình lượng biết
được những đối tượng ấy (các hình thái của nhận thức)? Những câu
hỏi cứ lần lượt đặt ra song không phải trường phái triết học nào cũng
có thể trả lời và trả lời thấu đáo được. Vậy, triết học Phật giáo thì sao?
Trước hết, chúng ta tìm hiểu những quan niệm khái quát trong
nhận thức luận Phật giáo qua giáo lý Tám thức.
Nhãn căn lấy sắc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhãn
thức. Nhĩ căn lấy thính trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhĩ
thức. Tỷ căn lấy hương trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Tỷ thức.
Thiệt căn lấy vị trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thiệt thức.
Thân căn lấy xúc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thân thức.


5
Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi..., tác dụng thấy, nghe, ngửi ấy là
Thức. Mỗi thức có một tác dụng riêng, thức là một tác dụng vô hình,
vô tướng. Thức ở đâu cũng có và ở đâu có căn và có cảnh thì tác
dụng ấy có thể được biểu hiện. Phân biệt thuần tuý của năm thức ấy
là một phân biệt bằng trực giác, nên không phải là một phân biệt có
tính cách suy tầm, đắn đo.
Phân biệt suy tầm đắn đo là phân biệt của thức thứ sáu tức ý
thức rộng lớn vô cùng. Đối tượng của ý thức là Pháp trần sinh ra các

tại siêu ngôn ngữ, không thể diễn đạt thành lời. Và với triết học Phật
giáo, đối tượng của nhận thức không chỉ là thế giới tự thân ấy mà còn
là thế giới của Đới chất cảnh, thế giới được mang theo từ thực tại
khách quan được nhận thức qua lăng kính chủ quan của con người.
Đối tượng nhận thức ấy còn có cả sự hồi tưởng lại và có cả những
hình ảnh, những ý tưởng tưởng tượng của con người.
Trong triết học Phật giáo, các hình thái của quá trình nhận thức
được trình bày trong thuyết Tam lượng.
Hiện lượng được xem là hình thái đầu tiên của quá trình nhận
thức. Hiện lượng nghĩa là hiểu biết trực tiếp những cảnh vật, đối
tượng đã được hiện bày đầu tiên và sự hiểu biết hiện lượng hoàn toàn
không có ý niệm diễn dịch và suy luận.
Hình thái nhận thức thứ hai là Tỷ lượng. Tỷ lượng là nhận thức
thông qua sự so sánh. Tỷ lượng cũng là xét đoán, tính toán theo sự so
sánh đúng sai, cân nhắc lợi hại, lựa chọn hơn kém... của tâm thức để
hiểu biết.
Hình thái nhận thức thứ ba trong triết học Phật giáo gọi là Phi
lượng, tức là sự nhận thức sai lầm của Hiện lượng và Tỷ lượng.
Các hình thái nhận thức được trình bày như trên trong nhận
thức luận Phật giáo có phần giống và cũng có phần khác với việc
phân chia các giai đoạn, các hình thức của quá trình nhận thức trong
nhận thức luận mácxít. Với nhận thức luận mácxít, nhận thức cảm
tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, có được là nhờ sự
hoạt động của các giác quan nhận biết của con người, giai đoạn này
được tiến hành trong ba hình thức như: cảm giác, tri giác và biểu
tượng. Tương tự, nhận thức luận Phật giáo cũng xem cảm giác, tri
giác là những hình thái nhận thức cảm tính. Riêng biểu tượng, nhận
thức luận Phật giáo coi là hình thức của nhận thức Tỷ lượng.
Trong nhận thức luận mácxít, nhận thức cảm tính chỉ cung cấp
những hiểu biết ban đầu và đó thường là về những vẻ bề ngoài của

tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm
nghiệm. Sự phù hợp ấy không phải có ngay lập tức từ ban đầu, mà đó
là một quá trình lâu dài, chứ không phải chỉ đơn thuần như sự cảm giác
một cách trực tiếp, vô phân biệt, phi kiến tạo, phi ảo giác...và cộng
thêm vào đó là bằng trực giác siêu nghiệm, tâm linh như nhận thức
luận Phật giáo.
1.2. Nội dung của nhận thức luận Phật giáo
Khi khởi đầu thuyết trình về Nhân minh học, để minh định
mục đích và phạm vi của khoa nhận thức và luận lý do mình chủ


8
trương, ngài Thiên Chủ (Dharmakìrti) nói: “Mọi hành động thành
công là nhờ trước đó nhận thức đúng, vì vậy chúng ta bắt đầu khảo
sát điều đó”.
Con người qua sự khảo sát của triết học Phật giáo được chia
thành hai phần khác nhau để tìm hiểu. Hai phần khác nhau ấy là phần
vật chất và phần tâm thức. Thân thể con người mà ai cũng biết là
thuộc về vật chất. Ngoài phần vật chất đó ra, con người còn có tám
loại hiểu biết thuộc về Tâm thức. Tám loại hiểu biết này, Phật giáo
gọi là tám Tâm Thức. Tâm thức mỗi khi sinh hoạt liền phát sinh ra
hiểu biết (Thức). Theo quan điểm của triết học Phật giáo, tri thức
(Thức) chủ yếu là kết quả của sự hòa hợp, ăn nhập giữa lục căn và
lục trần (thuộc về cảnh). Sự hiểu biết (Thức) trong con người mỗi khi
sinh hoạt được minh định thành tám loại khác nhau.
Với năm thức đầu, chúng ta biết rõ, khoa học ngày nay gọi là
Ngũ giác. Đó là các phạm vi thấy biết qua mắt, tai, mũi, lưỡi và thân
thể. Khi mắt chúng ta nhìn, cái mà mắt thấy gọi là Trần hay Cảnh.
Chẳng hạn như khi mắt chúng ta nhìn lọ mực thì mắt chúng ta gọi là
Căn, tức là cơ quan hoạt động để thu hình ảnh. Lọ mực là Trần hay

Thức thứ bảy là Mạt na thức. Thức này chuyên về Chấp ngã. Ví
như con ốc cứ bo bo bám lấy vỏ óc của mình và cho đó là cả cuộc đời,
cả vũ trụ của nó mà không dám rời ra bao giờ. Mạt na cố hữu hay so
sánh, keo kiệt, tư lợi, tư hữu, ích kỷ. Vì thế, cái gốc khổ não, tội lỗi, mê
lầm chính là do thức thứ bảy này. Bát thức quy củ tụng viết: “Đới chất
hữu phú thông tình bản. Tùy duyên chấp ngã lượng vi phi”.
Như vậy, đối tượng của Mạt na thức là đới chất cảnh. Mạt na
liên hệ một đằng với Tình thức (Ý thức) và một đằng với Bổn thức
(Alaya). Nó theo sát Alaya, lấy đó làm đối tượng chấp ngã và do đó,
hình thái nhận thức của nó là phi lượng. Sự nhận thức phân biệt của
Mạt na chủ yếu thuộc về trực giác hơn là tưởng tượng. Do vậy, sự
nhận thức phân biệt này có một phạm vi rất hẹp, chỉ so đo nghĩ ngợi
chấp kiến phần Alaya làm ngã, ngoài ra ít có tác dụng nghĩ ngợi so
đo nào khác.
Thức thứ Tám là Alaya. Thức này chuyên về chứa nhóm, tức là
nó gồm các hạt giống của tất cả các sự vật trong ba cõi. Các hạt giống
này do Huân - Tập mà phát triển. Cảnh ngoài và các thức trước có
huân tập cái gì thì nó giữ cái đó. Nếu được hoàn cảnh tốt, cộng thêm
vào đó có hạt giống phát triển tốt thì nó sẽ phát triển mãi, và một
ngày kia, phật tử sẽ hoàn toàn hiện thành Phật. Về thức này, trong
Bát thức quy củ tụng có viết: “Thọ huân trì chủng căn thân khí. Khứ
hậu lai tiên tác chủ công”.


10
Nghĩa là “tiếp nhận sự huân tập, duy trì các chủng tử, thân thể,
giác quan và môi trường vật lý, Alaya là vị chủ nhân tới trước hết và
bỏ đi sau hết”. Như vậy, Alaya làm nền tảng của mọi thức khác những thức chỉ hiện phát được sau khi Alaya đã được an tập. Hai tác
dụng của Alaya là năng trì và năng biến. Trong đó, năng trì là khả
năng duy trì căn thân và khí giới (thế giới vật lý); còn năng biến là

Chương 2
Ý NGHĨA CỦA NHẬN THỨC LUẬN PHẬT GIÁO
2.1. Lập trường triết học của nhận thức luận Phật giáo
Mặc dù đứng trên lập trường khác nhau và sử dụng các phương
pháp khác nhau, nhưng trong lịch sử triết học, hầu như không có
trường phái hay nhà tư tưởng nào không bàn về khả năng nhận thức
thế giới của con người. Triết học Phật giáo cũng đã bàn nhiều đến khả
năng nhận thức của con người về thế giới. Ở đây, đứng trên lập trường
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chúng tôi muốn có một số nhận
định, đánh về lập trường triết học của nhận thức luận Phật giáo.
Qua sự phân tích nội dung nhận thức luận Phật giáo trên đây,
chúng ta nhận thấy, lập trường xuyên suốt mà trường phái triết học
này thể hiện là khuynh hướng duy tâm chủ quan và có nhiều quan
điểm chứa đựng tinh thần biện chứng; hẳn nhiên, chúng ta cũng thấy
một số quan điểm duy vật ẩn chứa trong nội dung của hệ thống triết
học Phật giáo.
Nếu xét trên quan điểm nhận thức luận, những đại diện của các
tông phái Phật giáo là những nhà duy tâm - tâm lý hay những nhà
duy tâm hiện tượng luận. Tất cả họ nhất trí rằng, thế giới kinh
nghiệm, thế giới bên ngoài cũng như "cái tôi" chỉ là ảo ảnh, không
chỉ vạn vật mà thậm chí cả những con người quanh ta đều như những
con rối - những bóng ma lừa phỉnh chủ thể. Nhận thức luận Phật giáo
chỉ ra rằng, vạn pháp trong vũ trụ đều không có thể chất chân thật, từ
những sự vật thực tại cho đến những khái niệm đều do ý thức tưởng
tượng tạo dựng dưới sự điều khiển của Mạt na thức.
Trước hết, nhận thức luận Phật giáo phân chia đối tượng nhận
thức ra làm ba loại và các cấp độ của quá trình nhận thức tương
ứng. Quan điểm này khác với quan điểm của nhận thức luận
mácxít, nhưng ta thấy ở đây cũng thể hiện một số yếu tố duy vật và
cũng phần nào đó có tính bất khả tri, và có cả những nét của sự

với “Tâm”. Quan hệ này cũng giống với quan hệ giữa bản thể và thế
giới hiện tượng. Thành thử, nếu trong sự phân tích của triết học Phật
giáo có việc tách rời nhận thức luận với bản thể luận và nhân sinh
quan thì cũng chỉ có tính tương đối và nhằm cố gắng rạch ròi hơn
những khía cạnh được bàn đến mà thôi. Việc nghiên cứu về nhận
thức trong triết học Phật giáo, do đó không chỉ có tác dụng làm rõ các
vấn đề nhận thức luận chuyên biệt mà còn góp phần quan trọng làm
sáng tỏ, bổ sung phát triển kinh bổn và giáo lý của cả hệ thống triết lý
của cả trường phái này.
Con người là chủ thể nhận thức, nhưng cái đảm nhiệm vai trò
nhận thức lại chính là Tâm, và hoạt động nhận thức của tâm là Tâm
thức. Thế giới Tâm thức được triết học Phật giáo trình bày trong


14
thuyết Tám thức. Với nhận thức luận Phật giáo, thế giới này không
sinh cũng không diệt, không có cái gì xuất hiện hoàn toàn mới mẻ
cũng không có cái gì biến mất đi hoàn toàn, chỉ là sự biến đổi từ
trạng thái này sang trạng thái khác. Chính cách tiếp cận trên của nhận
thức luận Phật giáo đã quy định tính chất, lập trường và phương pháp
của bản thể luận và nhân sinh quan trong toàn bộ triết lý của nền triết
học này.
Trong bản thể luận, triết học Phật giáo căn cứ vào tính chất
tương liên, tương sinh của vạn vật mà cũng đi đến kết luận rằng, vũ trụ
là tự nó, không sinh và không thể tiêu diệt, không có một thế lực nào
có thể dùng ý muốn của mình mà chi phối sự vận hành của nó. Trong
vũ trụ, vạn Pháp không có tự tính (không có bản tính riêng của mình)
mà chỉ là sự hoà hợp của nhân duyên.
Với triết học Phật giáo, không có Pháp nào là tồn tại vĩnh cữu
mà tất cả tuân theo luật sinh, trụ, dị, diệt (thành, trụ, hoại, không).

mỗi phương pháp ấy.
Nhận thức luận Phật giáo như một sợi dây vô hình liên kết bản
thể luận và nhân sinh quan, tạo nên tính thống nhất và toàn vẹn về
nội dung, tư tưởng và hình thức của trường phái triết học này. Chính
do sự mới mẻ, biện chứng và phần nào mang tính khoa học trong tư
tưởng, nên, mặc dù cho triết học Phật giáo ra đời cách đây hàng mấy
mươi thế kỷ nhưng vẫn có được một chỗ đứng và đã có nhiều đóng
góp cho sự phát triển tư tưởng loài người.
2.3. Ý nghĩa của nhận thức luận Phật giáo đối với sự phát triển
của lý luận nhận thức
Bất kỳ trường phái triết học nào cũng đều hướng đến một mục
tiêu đầu tiên và trực tiếp là sự nhận thức thế giới, nhưng nhận thức của
con người không phải chỉ để nhận thức, mà để nâng cao thực tiễn, cải
tạo thế giới, biến các ý tưởng phi vật chất trong đầu óc thành hiện thực
trực tiếp bên ngoài ý thức. Việc nhận thức hay cải tạo thế giới ấy đều là
phục vụ cho cuộc sống của con người. Đây là một yêu cầu chung của
mọi lý luận về nhận thức. Nhận thức luận Phật giáo cũng đã làm như
thế. Dù cách thức và phương pháp có khác với các trường phái khác
trong lịch sử triết học nhưng nhận thức luận Phật giáo đã làm được cái
công việc giúp con người nhận thức được thế giới, mà quan trọng hơn
là nhận thức và cải tạo chính bản thân mỗi người.


16
Vào thời kỳ triết học Phật giáo ra đời, lịch sử Ấn Độ có sự
chuyển biến mạnh mẽ. Chính vào thời điểm ấy, triết học Phật giáo đã
gióng lên tiếng chuông tiên phong đả phá xiềng xích nô lệ và bức
tường phi lý của sự phân chia đẳng cấp, đả phá sự thống trị về tinh
thần của đạo Bàlamôn và cả những thầy tu của đạo này. Triết học Phật
giáo chỉ ra rằng, mọi chúng sinh đều bình đẳng với nhau từ khi lọt lòng

giác - sự nhận thức mà ở giai đoạn lý tính không thể làm được. Nhận
thức luận mácxít xét nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai
giai đoạn của một quá trình biện chứng, giữa chúng có sự tác động
qua lại, bổ sung và làm tiền đề cho nhau chứ không đề cao thái quá
giai đoạn nào. Tuy còn mang tính siêu hình trong việc phân chia các
hình thái nhận thức nhưng nhận thức luận Phật giáo đã có một cống
hiến to lớn là chỉ ra các cấp độ của quá trình nhận thức.
Khái thác chiều sâu nội tâm để hiểu chính mình và rồi cũng
dùng cái nội tâm ấy để điều chỉnh cuộc sống của con người, đó là
thực chất của nhận thức luận Phật giáo. Đạo Phật khuyên con người
tu tâm dưỡng tính, phải học và thực hành theo những pháp môn Phật
dạy làm cho thân, khẩu, ý... thanh tịnh, để diệt tâm sân hận. Trong
thời đại ngày nay, tham vọng của nhân loại đang khống chế con
người, chiến tranh, khủng bố liên tục xảy ra khắp nơi trên thế giới.
Chính lúc này, tinh thần từ bi, xuất phát từ cái Tâm từ bi của triết học
Phật giáo là chất liệu cần thiết cho cuộc đời.
Theo nhận thức thông thường, chúng ta tưởng chừng như mọi
sự vật đang thực sự hiện hữu và cố định, kỳ thực, tất cả đang chuyển
động mà ta khó nhận rõ được. Nó đã tạo thành một ngộ nhận căn bản
về sự hiện hữu và giá trị của một con người, từ đó tính chấp nhặt, ích
kỷ hình thành, là đầu mối của tình trạng chiến tranh, hận thù lẫn
nhau. Như vậy, ở một mức độ nhất định, nhận thức luận Phật giáo đã
chỉ ra nguồn gốc nỗi khổ của nhân loại. Ta đau khổ không phải vì
vạn vật biến đổi vô thường, mà đau khổ vì chủ quan ta tham đắm.
Thật vậy, với lẽ Vô thường, Vô ngã của cuộc đời con người đã giáo
dục ta nắm bắt được quy luật vận động tất yếu của cuộc sống, thấu
hiểu vị thế của mình để từ đó có phương thức hành xử đúng đắn.
Thế giới chúng ta sống đang sôi sục chiến tranh, mọi bảng giá
trị dường như được con người quy chiếu bằng thước đo đồng tiền.
Thái độ "chấp ngã", "chấp thủ" của từng cá nhân ngày càng tăng lên;

mình tất cả những vấn đề nhận thức luận; xuất phát từ Tâm thức để tìm
ra đối tượng của sự nhận thức, chỉ ra các hình thái, cấp độ và tiến trình
của sự nhận thức. Mọi nhận thức chung quy lại ở Tâm, chính vì vậy
mà triết học Phật giáo trở thành một triết học hướng nội, tức là một sự


19
nghiên cứu hướng vào chủ thể để khám phá những năng lực và thiên
hướng sinh hoạt của con người.
Thứ ba, đối tượng nhận thức trong nhận thức luận Phật giáo
được chia thành Tánh cảnh, Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh. Mặc dù
đối tượng nhận thức được phân thành ba nhưng chỉ thuộc một trong
hai, hoặc thế giới Hữu vi hoặc thế giới Vô vi. Thế giới đối tượng về
thực chất là chỉ có một, song trước con người nó phân thành hai bởi
tư duy kiến tạo của họ.
Thứ tư, tương ứng với đối tượng nhận thức, các hình thái nhận
thức trong triết học Phật giáo cũng được chia làm ba, Hiện lượng, Tỷ
lượng và Phi lượng. Ở đây, phải nhìn nhận một cách khách quan
rằng, nhận thức luận Phật giáo đã có công chỉ ra và làm sáng tỏ các
cấp độ của nhận thức. Nhận thức luận Phật giáo đề cao nhận thức
Hiện lượng, đặc biệt là Chân hiện lượng và xem đây là cái đích cuối
cùng, cao nhất mà chủ thể cần đạt đến. Tuy nhiên, nhận thức luận
Phật giáo cũng cho thấy bản chất và vai trò của nhận thức Tỷ lượng.
Chính những phân tích của nhận thức luận Phật giáo về Tỷ lượng đã
góp phần mở rộng và phát triển nhận thức luận nói chung.
Thứ năm, với việc chỉ ra thuyết Tam tự tính - tức các cấp độ
của quá trình nhận thức (dựa trên cơ sở ba đối tượng và ba hình thái
nhận thức), nhận thức luận Phật giáo đã cho thấy tính thống nhất
trong sự phát triển của triết học Phật giáo. Với cấp độ Biến kế sở
chấp, nhận thức luận Phật giáo chỉ ra rằng, tri thức mà con người có

chuẩn mực nào cũng hàm chứa tinh thần đại bi, đại trí, mang sinh khí
của hòa bình, tự do và bình đẳng cùng với hoài bão giải phóng cho
con người và chúng sinh.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status