Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
MỤC LỤC
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
LỜI MỞ ĐẦU
Nguyên lý về sự phát triển là một trong hai nguyên lý quan trọng của phép
biện chứng duy vật, là cơ sở khoa học cho sự hình thành quan điểm toàn diện.
Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặc
trưng phổ quát nhất của thế giới, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách
quan đều có sự vận động và phát triển; sự vận động phát triển ấy là không
ngừng, có khi nhanh, khi chậm, khi tuần tự, có khi nhảy vọt, có lúc có những
bước thụt lùi, nhưng nếu nhìn ở cả một chặng đường thì tất cả đều là phát
triển. Phát triển là những cái mới ra đời thay thế cái cũ, nhưng vẫn trên cơ sở
kế thừa những hạt nhân hợp lý của cái cũ, cải tạo và phát triển những hạt nhân
hợp lý ấy để nó trở thành điều kiện, tiền đề vững chắc cho cái mới phát triển
nhanh, mạnh, vững hơn. Phát triển là đặc trưng phổ biến, phát triển là một tất
yếu khách quan.
Nhận thấy vai trò, ý nghĩa quan trọng của nguyên lý về sự phát triển trong
triết học Mác – Lênin; em đã chọn đề tài: “ Nguyên lý về “sự phát triển” trong
triết học Mác – Lênin và ý nghĩa của việc nghiên cứu trong nghiên cứu đối
với việc tìm hiểu xu thế vận động của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay”
Kết cấu của tiểu luận: gồm 2 chương
Chương 1: Lý luận chung về nguyên lý về “sự phát triển” trong triết
học Mác – Lê nin
Chương 2: Ý nghĩa của việc nghiên cứu trong nghiên cứu đối với
việc tìm hiểu xu thế vận động của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay
Do kiến thức lý luận còn hạn hẹp, kinh nghiệm và sự hiểu biết thực tế
chưa nhiều; thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên tiểu luận của em không
tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để
tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của TS. Lê Ngọc Thông đã
về sự phát triển.
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
2
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật,
hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động,
ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự
vật, của một hiện tượng trong thế giới. Nguyên lý này biểu hiện thông qua 06
cặp phạm trù cơ bản.
Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi
xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn
luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật). Nguyên lý
này biểu hiện thông qua ba quy luật cơ bản.
Chính vì vậy. Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng phép biện chứng là lý
luận về mối liên hệ phổ biến, là môn khoa học về những quy luật phổ biến của
sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.
Lênin nhấn mạnh thêm: Phép biện chứng là học thuyết sâu sắc nhất, không
phiến diện về sự phát triển.
1.2. Nguyên lý về sự phát triển
1.2.1. Nội dung nguyên lý về sự phát triển
Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
thống nhất hữu cơ với nguyên lý về sự phát triển, bởi vì liên hệ tức là vận
động, mà không có vận động thì không có sự phát triển. Nhưng “vận động”
và “phát triển” là hai khái niệm khác nhau. Khái niệm “vận động” khái quát
mọi sự biến đổi nói chung, không tính đến xu hướng và kết quả của những
biến đổi ấy như thế nào. Sự vận động diễn ra không ngừng trong thế giới và
có nhiều xu hướng.
Nguyên lý về sự phát triển bao gồm: Quy luật mâu thuẫn, quy luật
lượng - chất và quy luật phủ định. Trong đó:
niệm biện chứng là sinh động, mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động” của
tất thảy mọi cái đang tồn tại, của những “bước nhảy vọt” và “sự gián đoạn của
tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hóa thành mặt đối lập”, của “sự tiêu diệt cái
cũ và sự nảy sinh ra cái mới”. Cũng vì vậy mà ông nhấn mạnh rằng, phép biện
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
4
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
chứng là học thuyết “hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện về sự
phát triển”.
Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng xem xét sự phát
triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Quá trình đó diễn ra vừa dần
dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Dù trong hiện
thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào
cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những
bước lùi tạm thời.
Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay
đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo
đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu
nhưng ở cấp độ cao hơn.
Quan điểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn
giáo về nguồn gốc của sự phát triển. Quan điểm duy vật biện chứng khẳng
định nguồn gốc sự phát triển nằm trong bản thân sự vật. Đó là do mâu thuẫn
trong chính sụ vật quy định. Quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản
thân sự vật, do đó cũng là quá trình tự thân phát triển của mọi sự vật.
Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng sự phát triển, đổi mới là hiện
tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy, mà
nguồn gốc của nó là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật
và hiện tượng. Nhưng không nên hiểu sự phát triển bao giờ cũng diễn ra một
cách đơn giản, theo đường thẳng. Xét từng trường hợp cá biệt, thì có những
vận động đi lên, tuần hoàn, thậm chí đi xuống, nhưng xét cả quá trình, trong
luôn phát triển, Vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc
vào ý thức của con người.
b) Sự phát triển có tính phổ biến
Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực:
tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách
quan. Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm
trong quá trình vận động và phát triển; chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
6
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới có thể phản
ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và phát triển.
Sự phát triển diễn ra trong tất cả các mặt, các lĩnh vực của xã hội, tư duy và
con người, diễn ra trong tự nhiên, trong bản thân của tất thảy sự vật, hiện
tượng của thế giới khách quan. Quá trình phát triển ở mỗi sự vật, hiện tượng
là không giống nhau và ngay trong bản thân của sự vật, hiện tượng đó, quá
trình phát triển cũng không giống nhau. Quá trình sinh trưởng và phát triển
của cây lúa khác với cây ngô (hình thức phát triển, thời gian phát triển, điều
kiện phát triển…); sinh trưởng và phát triển của con người khác với những
loài động vật khác. Và ngay trong bản thân của con người, các loài động, thực
vật cũng khác nhau trong từng giai đoạn phát triển, chu kỳ phát triển. Nhưng
dù bước phát triển của các sự vật, hiện tượng có tuần tự hay nhảy vọt thì nhìn
chung tất cả đều nằm trong trạng thái phát triển, kể cả tư duy, ý thức của con
người cũng vậy.
Trong tư duy, ý thức của con người, ta thấy sự phát triển của con người
là không ngừng. Đứa trẻ sinh ra từ chỗ biết khóc, biết cười, dần dần qua thời
gian, không gian sống, với những dưỡng chất nuôi bé lớn khôn, bé đã biết nói,
rồi nhận biết đồ vật, định hình đồ vật giản đơn trong những trò chơi, kế đến là
những sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên, xã hội như: mưa, nắng,
buồn, vui…sự phát triển đó là không ngừng hoàn thiện, từ giản đơn đến phức
quả, những điều kiện thuận lợi mà xã hội mang lại. Trong thời đại hiện nay,
thời gian công nghiệp hoá và hiện đại hoá của các quốc gia chậm và kém phát
triển sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia đã thừa hưởng kinh nghiệm và sự
hỗ trợ của các quốc gia đi trước. Song vấn đề còn ở chỗ, sự vận dụng kinh
nghiệm và tận dụng sự hỗ trợ đó như thế nào lại phụ thuộc rất lớn vào những
nhà lãnh đạo và nhân dân của các nước chậm phát triển và kém phát triển.
1.2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Tự nhiên, xã hội và tư duy đều nằm trong quá trình vận động và phát
triển không ngừng. Bản chất khách quan đó của quá trình đòi hỏi chúng ta, để
phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, cần có “quan điểm phát triển”. Điều
đó có nghĩa là, khi xem xét các sự vật và hiện tượng phải đặt nó trong sự vận
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
8
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
động, trong sự phát triển; và phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hoá
của chung. Liên quan đến vấn đề này, V.I. Lênin đã viết: “Logic biện chứng
đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”, trong
sự biến đổi của nó”
Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn
tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của
chung, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính
chất thụt lùi. Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra
khuynh hướng biến đổi chính của sự vật.
Quan điểm phát triển đúng đắn về sự vật chỉ có được khi bằng tư duy
khoa học của mình, chủ thể khái quát để làm sáng tỏ xu hướng chủ đạo của tất
cả các biên đổi khác nhau đó.
Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá
trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn. Trên cơ sở ấy để tìm ra
phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến
triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tuy theo sự phát triển đó
điều kiện ra đời của sự vật hiện tượng khác.
Nguyên lý này cũng khẳng định rằng nguồn gốc của sự phát triển là sự
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong chính bản thân sự vật hiện
tượng hay nói cách khác đó là do mâu thuẩn nội tại bên trong sự vật hiện
tượng, nó vạch ra cách thức của sự phát triển là vừa có tích lũy dần về lượng,
vừa có sự chuyển hóa về chất, tức là sự phát triển chẳng qua là sự tăng giảm
về lượng và chất (vừa có tính liên tục, vừa có tính gián đoạn). Nguyên lý về
sự phát triển cũng chỉ ra rằng không phải chỉ có khuynh hướng đi lên mới
được coi là sự phát triển mà quá trình phát trển thường được diễn ra quanh co,
phức tạp qua những khâu trung gian mà có lúc bao hàm cả sự thụt lùi đi
xuống tạm thời : đó là khuynh hướng tiến lên của đường “xoáy tròn ốc”.
Trong xu hướng của sự phát triển luôn có tính kế thừa và sự đi lên này là một
quá trình có tính lặp lại.
Sự phát triển của các sự vật và hiện tượng trong thực tế là quá trình biện
chứng đầy mâu thuẫn. Do vậy, quan điểm phát triển được vận dụng vào quá
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
10
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
trình nhận thức cũng đòi hỏi chúng ta phải thấy rõ tính quanh co, phức tạp của
quá trình phát triển như là một hiện tượng phổ biến. Thiếu quan điểm khoa
học như vậy người ta rất dễ bi quan, dao động khi tiến trình cách mạng nói
chung và sự tiến triển của từng lĩnh vực xã hội cũng như của cá nhân nói
riêng tạm thời gặp khó khăn, trắc trở.
Tuân theo những đòi hỏi đó của quan điểm phát triển sẽ góp phần khắc
phục bệnh bảo thủ trì trệ và bệnh giáo điều trong tư duy cũng như trong hành
động thực tiễn. Bệnh bảo thủ trì trệ là tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay
đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái
đã có. Đôi khi bệnh bảo thủ biểu hiện qua những định kiến. Bệnh bảo thủ trì
trệ cũng gắn liền với bệnh giáo điều, đó là khuynh hướng tuyệt đối hóa lý
luận, coi thường kinh nghiệm thực tiễn, coi lý luận là bất di bất dịch, việc nắm
chứng trên cơ sở tin tưởng vào sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản mặc dù
trong bối cảnh lịch sử hiện nay CNXH trên thế giới đang ở giai đoạn thoái
trào và công cuộc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta cũng như các
nước XHCN.
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
12
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
CHƯƠNG 2
Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TRONG NGHIÊN CỨU
ĐỐI VỚI VIỆC TÌM HIỂU XU THẾ VẬN ĐỘNG CỦA ĐỜI SỐNG
KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY
2.1. Thực trạng kinh tế - xã hội hiện nay
Qua 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đang đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống
chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường.
Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước
ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc
gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với
triển vọng tốt đẹp. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc
đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nền kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ
những điểm yếu cần khắc phục. Nguyên nhân bao trùm là sự quá chậm chạp
trong việc loại bỏ các thói quen của một nền quản lý bao cấp. Điều này chẳng
những tạo ra sự trì trệ, kém năng động trong sản xuất kinh doanh mà còn gây
cản trở cho việc điều hành, triển khai đầu tư. Điều đầu tiên, với sự gia nhập
WTO, chúng ta đã quá nôn nóng muốn xây dựng một nền kinh tế hiện đại,
phát triển của kinh tế Việt Nam.
Nắm chắc phép biện chứng duy vật khoa học về sự phát triển chính là
nắm chắc cơ sở khách quan và nguyên lý vận động của sự phát triển, cho
phép những chủ thể xã hội (các đảng chính trị, nhà nước, ) chủ động xây
dựng các lý thuyết (triết lý) phát triển xã hội một cách đúng đắn, khoa học,
phù hợp; tích cực hoạt động xây dựng xã hội, thúc đẩy xã hội tiến nhanh theo
mục đích của chủ thể, của loài người đặt ra.
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
14
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
Hiểu sâu sắc biện chứng phát triển thế giới nói chung, của xã hội nói
riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo phép biện chứng
phát triển đó vào công cuộc xây dựng và phát triển xã hội ở Việt Nam. Người
đã xác lập những quan điểm và gắn liền với chúng là hành động thực tiễn (vì
ở Hồ Chí Minh, tư tưởng và hành động gắn liền với nhau) có tính hệ thống và
tính nguyên lý của triết lý phát triển xã hội Viêt Nam - từ cách tiếp cận chủ
nghĩa xã hội cho đến nội dung và phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội
Việt Nam.
Coi xã hội là trình độ phát triển cao nhất của giới tự nhiên; quốc gia là
một thực thể trọn vẹn của xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, để một đất nước có
thể phát triển thì điều tiên quyết, đất nước đó phải được độc lập, dân tộc đó
phải được tự do. Độc lập, tự do, theo Hồ Chí Minh có nghĩa rất rộng - không
chỉ độc lập, tự do cho dân tộc, quốc gia, mà cho cả con người; không chỉ
mang tính không gian, mà cả phẩm giá con người; không chỉ ở hiện tại mà cả
trong tương lai. Nhưng đối với một đất nước còn nô lệ, phụ thuộc, bị áp bức,
thì độc lập và tự do là điều kiện đầu tiên để dân tộc đó tự do quyết định vận
mệnh và tương lai của minh, đồng thời có thể tự do phát huy toàn bộ nội lực,
sức mạnh, tài năng của chính mình cho sự phát triển đất nước.
Có độc lập, tự do rồi thì vấn đề quyết định để bảo đảm cho một đất nước
có thể phát triển là việc xác định con đường đi đúng đắn của cách mạng. Tin
của xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã trở thành tư tưởng nhân lõi
xuyên suốt lý tưởng xây dựng xã hội mới; và đó cũng là một nội dung quan
trọng, mà Hồ Chí Minh nâng lên thành nguyên lý của triết lý phát triển xã hội.
Xã hội xã hội chủ nghĩa tuy chứa đựng bản chất và sức sống khách quan,
tất yếu của nó, song theo Hồ Chí Minh, nó chỉ được thực hiện trên cơ sở một
nhà nước vững mạnh của dân, do dân, vì dân. Đó là một nhà nước do nhân
dân làm chủ. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân
dựng nên, đại diện cho ý chí của nhân dân. Chính phủ là nơi thừa hành quyền
lực của nhân dân, vận hành theo cơ chế pháp quyền, thực hiện nghĩa vụ và
trách nhiệm vì lợi ích của nhân dân. Cán bộ là người đại diện cho ý chí của
nhân dân, đồng thời là công bộc (đầy tớ) trung thành của nhân dân. Nhà nước
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
16
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
phải thực hiện đầy đủ bản chất, chức năng, trách nhiệm của mình: bao nhiêu
quyền lợi đều thuộc về nhân dân.
Một nhà nước như vậy sẽ là nơi tập trung ý chí, do đó thể hiện toàn bộ
sức mạnh của nhân dân, tạo ra sức mạnh xã hội. Điều đó cho thấy, ở Hồ chí
Minh, động lực thúc đẩy xã hội, sức phát triển của một xã hội được tạo ra từ
chế độ dân chủ thực sự: "Mọi sức mạnh đều ở nơi dân"; "Dễ mười lần không
dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong". Dân chủ, như vậy không chỉ
đơn thuần là yếu tố tinh thần, là cơ chế, mà là lực lượng vật chất, nó tạo ra sức
mạnh xã hội ngay trong hoạt động của các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội của một quốc gia.
Từ nhận thức sâu sắc rằng, kinh tế quyết định chính trị, chính trị tập
trung ở kinh tế (V.I. Lênin), Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng một nền kinh tế
vững mạnh theo hướng xã hội chủ nghĩa. Logic phát triển thường trực ở Hồ
Chí Minh là trước hết phải làm cho người dân được "ăn no, mặc ấm", rồi mới
đến "học hành tiến bộ". Ngay từ những ngày đầu xây dựng đất nưức, Người
đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế. Đó là
Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con
người xã hội chủ nghĩa", - những con người "vừa hồng vừa chuyên". Theo Hồ
Chí Minh, sức mạnh của một dân tộc trước hết là tri thức, là trí tuệ. "Một dân
tộc dốt là dân tộc yếu". Phải diệt giặc dốt, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân
lực, đào tạo nhân tài. Dân trí là điều kiện để thực hiện phát triển văn hoá - xã
hội, tạo tiềm năng trí tuệ và sức vươn lên một xã hội giàu mạnh và văn minh.
Văn hoá, theo Hồ Chí Minh, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển
xã hội. Người sớm nhận thấy rằng, "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống,
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật và những công cụ phục vụ cuộc
sống hàng ngày như ăn mặc ở và những phương thức sử dụng chúng ". Như
vậy, văn hoá một mặt là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu phấn đấu
của xã hội, mặt khác là yếu tố bên trong như là nguồn nội lực thúc đẩy xã hội
tiến lên. Người nói: "Muốn phát triển xã hội, nền văn hoá dân tộc phải: xây
dựng tâm lý, lý cách; tinh thần độc lập tự lực tự cường; xây dựng luân lý; biết
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
18
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
hy sinh cho lợi ích quần chúng; xây dựng xã hội", và "Văn hoá phải vạch
đường cho quốc dân đi"
Ngay từ ngày đầu của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hồ Chí
Minh đã đề ra tư tưởng xây dựng nền văn hoá Việt Nam theo nguyên tắc dân
tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính
chất dân tộc. Vì theo Người, đó là những nguyên tắc giải phóng năng lượng
lớn lao của tuyệt đại bộ phận nhân dân lao động trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Tính chất đó của nền văn hoá sẽ phát huy cao độ nội lực
trong việc tiếp thu, tiếp biến các giá trị phổ biến của nhân loại, làm sâu sắc và
đậm đà thêm bản sắc văn hoá Việt Nam, tạo sức mạnh to lớn cho sự phát triển
xã hội.
Sự phát triển xã hội và một xã hội phát triển, theo Hồ chí Minh, tất cả
Việt Nam, góp vào sự nghiệp phát triểễpã hội - con người trên toàn thế giới.
Sức sống của phát triển lâu bền chỉ có được khi một xã hội phát huy cao
độ các yếu tố sức mạnh truyền thống và cái mới hiện đại, Sự gắn bó hài hoà
truyền thống - hiện đại, theo Hồ Chí Minh là nguyên tắc của sự phát triển. Bởi
ở đó, tương lai được tiếp sức từ nguồn sống của quá khứ và của hiện tại.
Truyền thống là tinh hoa và sức mạnh được kết tụ, chưng cất, thăng hoa từ
lịch sử ngàn đời của một dân tộc, nó là hành trang vật chất - tinh thần từ định
hướng cho đến lực lượng phát triển xã hội. Nó làm cơ sở cho xã hội truyền
thống đi vào hiện đại. Hiện đại nâng cao truyền thống - đó là sức mạnh và sức
bền của phát triển.
Cũng tương tự, yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế được thể hiện qua quan
hệ riêng - chung trong triết lý phát triển xã hội Hồ Chí Minh. Người luôn luôn
nhận thức rằng, dân tộc là một bộ phận của quốc tế; một dân tộc phải tồn tại
trong quan hệ nhiều dân tộc và dựa vào nhiều dân tộc khác như là quan hệ tất
yếu tự nhiên mới có thể cùng tồn tại và trưởng thành. Cho nên, Người chủ
trương và hành động một cách hiệu quả theo phương châm: cách mạng dân
tộc không thể tách rời cách mạng thế gới; hai cuộc cách mạng đó như hai
cánh của một con chim, tạo ra lực cho con chim bay lên cao. Xu thế và hoàn
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
20
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
cảnh quốc tế là điều kiện quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của một quốc
gia; cho sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam.
Ngay từ giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã có cái nhìn khoa học và hiện
đại về phát triển, trong đó có những vấn đề mà nhiều lý thuyết phát triển ngày
nay đang đặt ra như phát triển bền vững, phát triển nhân văn Những vấn đề
về tăng trưởng và phát triển, nội sinh và ngoại lực, kịnh tế và xã hội, vật chất
và tinh thần, hiện tại và tương lai , những vấn đề mà trong thế giới ngày nay
các lý thuyết và các mô hình phát triển trên thế giới đang phải gải quyết, đã
được Hồ Chí Minh đề cập sâu sắc trong quan niệm của Người về bản chất,
nhiên - con người trong quá trình xây dựng và phát triển xã hội bền vững,
đồng thời thể hiện ẩn ý sâu xa của Người về mối quan hệ con người - thiên
nhiên trong sự hài hoà và trường tồn của vũ trụ.
Trong hệ thống các yếu tố của phát triển, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm
đến chủ thể của quá trình phát triển - Đảng cộng sản. Sự lãnh đạo của một
đảng cộng sản chân chính, trí tuệ và sáng tạo là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu
tố cuối cùng có tính quyết định đối với sự định hướng và xây dựng một xã hội
mới. Bởi theo Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam là đảng của nhân dân,
của cách mạng; mục đích của Đảng không có gì khác là đem lại cuộc sống ấm
no, tự do, hành phúc cho nhân dân. Đó cũng thực sự là mục tiêu của bất kỳ
một triết lý phát triển nào nhằm mục tiêu phát triển xã hội bền vững.
Toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh được thực hiện ở Việt
Nam chính là triết lý phát triển xã hội của Người. Do hoàn cảnh khó khăn và
điều kiện hết sức thiếu thốn của thời kỳ đầu trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chưa thể thực hiện được toàn vẹn các vấn đề cụ
thể, song nội dung cơ bản của triết lý phát triển Hồ Chí Minh, đặc biệt là
nguyên lý, linh hồn của triết lý phát triển theo đúng nghĩa của nó, - phát triển
bền vững, phát triển theo hướng nhân văn, - là nguyên lý, là triết lý phát triển
đúng đắn, khoa học, phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay; nó góp phần
quan trọng và mở hướng đúng đắn, đầy triển vọng cho quá trình loài người
trong thế giới hiện đại tiếp tục tìm tòi, khám phá, xây dựng một triết lý phát
triển bền vững, một triết lý phát triển thích hợp nhất với con người./.
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
22
Tiểu luận triết học GVHD: TS Lê Ngọc Thông
2.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu trong nghiên cứu đối với việc tìm hiểu
xu thế vận động của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay
Trong xã hội, phát triển thể hiện ở khả năng chinh phục tự nhiên, cải tạo
xã hội, phục vụ con người.
Trong tư duy, phát triển thể hiện ở việc nhận thức vấn đề gì đó ngày càng
nay đã trải qua 25 năm. Hoạt động thương mại của Việt Nam đã vận động
đúng định hướng mà Nhà nước và Chính phủ đã xác định, đó là:
Phát triển thương mại nhiều thành phần với nhiều loại hình sở hữu và
hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Quan hệ kinh tế và thương mại nói riêng với các nước được mở rộng và
phát triển không ngừng theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá. Việt Nam đã
gia nhập ASEAN, APEC, đã ký nhiều Hiệp định thương mại tự do song
phương (FTA) và hiện nay đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương
mại thế giới được vài năm và đang triển khai áp dụng các quy định theo lộ
trình.
Hoạt động thương mại đã gắn liền với ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao
chất lượng trong công tác củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh và trật tự an
toàn xã hội.
Thực trạng hoạt động thương mại trong thời gian qua đã góp phần tích
cực vào ổn định nền kinh tế, khắc phục tình trạng lạm phát, thúc đẩy sản xuất
phát triển và phân công lại lao động xã hội, đổi mới công nghệ và nâng cao
chất lượng sản phẩm, gắn sản xuất với thị trường, bước đầu phát huy được lợi
thế so sánh của các vùng trong nước và giữa thương trường trong nước với thị
trường ở các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả to
lớn đó, quá trình phát triển thương mại của Việt Nam trong 25 năm qua cũng
bộc lộ những mặt hạn chế và những tồn tại cần nhanh chóng khắc phục, đó là:
Cơ chế bao cấp và độc quyền Nhà nước trong kinh doanh vẫn còn tồn
tại; tình trạng phát triển thị trường giữa các địa bàn còn quá nhiều chênh lệch;
xuất nhập khẩu của Việt Nam và đầu tư từ nước ngoài vàoViệt Nam tuy phát
triển nhanh nhưng cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch còn chậm và hiệu quả xuất
HV: Vũ Thị Thuấn Lớp: CH21V
24