Vấn đề 4 : Nội dung nguyên lý
về sự phát triển, từ đó rút ra
quan điểm phát triển và vận
dụng quan điểm đó để phân tích,
phê phán các bệnh : bảo thủ trì
trệ, bệnh giáo điều và để phân
tích nhận định sau đây của Đảng
ta “CNXH trên thế giới từ những
bài học thành công và thất bại
cũng như từ những khát vọng và
sự thức tỉnh của các dân tộc, có
điều kiện và khả năng tạo ra
bước phát triển mới. Theo quy
luật tiến hóa của lịch sử loài
người nhất định sẽ tiến tới chủ
nghĩa xã hội” (Văn kiện Đại hội
IX, trang 65)
Bài làm
Ngay từ khi ra đời, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lấy Chủ
nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư
tưởng và vận dụng tư tưởng, lý
luận đó vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam để đề ra đường lối,
cương lĩnh đúng đắn nhằm lãnh
đạo đất nước tiến lên chủ nghĩa
xã hội. Quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta là một
quá trình lâu dài, khó khăn, nhiều
thử thách và cũng có lúc sự lãnh
đạo của Đảng mắc phải những
thiện hơn mà kết quả là cái mới
tiến bộ ra đời thay thế cái cũ lạc
hậu. Sự phát triển của sự vật
mang tính phổ biến vì trong thế
giới khách quan, không có sự vật
hiện tượng (SVHT) nào đã đứng
im, tĩnh tại mà nó luôn vận động,
phát triển không ngừng. Sự mất
đi của 1 SVHT này là điều kiện
ra đời của SVHT khác. Nguyên lý
này cũng khẳng định rằng nguồn
gốc của sự phát triển là sự thống
nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập trong chính bản thân sự
vật hiện tượng hay nói cách khác
đó là do mâu thuẩn nội tại bên
trong SVHT, nó vạch ra cách
thức của sự phát triển là vừa có
tích lũy dần về lượng, vừa có sự
chuyển hóa về chất, tức là sự
phát triển chẳng qua là sự tăng
giảm về lượng và chất (vừa có
tính liên tục, vừa có tính gián
đoạn). Nguyên lý về sự phát
triển cũng chỉ ra rằng không phải
chỉ có khuynh hướng đi lên mới
được coi là sự phát triển mà quá
trình phát trển thường được diễn
ra quanh co, phức tạp qua
những khâu trung gian mà có lúc
đợi, thậm chí cản trở cái mới,
bằng lòng thỏa mãn với cái đã
có. Đôi khi bệnh bảo thủ biểu
hiện qua những định kiến. Bệnh
bảo thủ trì trệ cũng gắn liền với
bệnh giáo điều, đó là khuynh
hướng tuyệt đối hóa lý luận, coi
thường kinh nghiệm thực tiễn,
coi lý luận là bất di bất dịch, việc
nắm lý luận chỉ dừng lại ở những
nguyên lý chung trừu tượng,
không chú ý đến những hoàn
chỉnh lịch sử cụ thể của sự vận
dụng lý luận. Bệnh giáo điều có 2
dạng : giáo điều lý luận và giáo
điều kinh nghiệm. Bệnh giáo
điều lý luận là việc thuộc lòng lý
luận, cho rằng áp dụng lý luận áp
dụng vào đâu cũng được không
xem xét điều kiện cụ thể của
mình. Ví dụ như theo Mác thì
phải xóa bỏ tư hữu dẫn đến việc
ta tiến hành cải tạo XHCN xóa
tất cả các thành phần kinh tế
nhằm mục đích chỉ còn 2 thành
phần kinh tế quốc doanh và tập
thể mà không thấy được rằng
"Nền kinh tế nhiều thành phần là
một đặc trưng của thời kỳ quá
độ", sự có mặt của nhiều thành
pháp luận để nhận thức sự vật
hoàn toàn đối lập với quan điểm
bảo thủ trì trệ định kiến. và bệnh
giáo điều. Trên cơ sở hiểu rõ quy
luật phát triển của sự vật một
cách biện chứng, ta có thể khắc
phục được bệnh bảo thủ trì trệ
và bệnh giáo điều thông qua việc
từ bỏ lối nghiên cứu áp dụng lý
luận một cách kinh viện, thuần
túy, chống lại tư duy bắt chước,
sao chép rập khuôn; từ bỏ
những định kiến, đấu tranh với
sức ỳ trong nhận thức và hành
động, tăng cường tổng kết thực
tiễn từ quá trình vận động của
các SVHT để bổ sung phát triển
lý luận. Trong quá trình đổi mới
và xây dựng đất nước, Đảng ta
luôn đấu tranh phê phán với
quan điểm bảo thủ, trì trệ, định
kiến. Văn kiện Đại hội Đảng lần
IX có viết : “ Xóa bỏ mặc cảm,
định kiến, phân biệt đối xử về
quá khứ, giai cấp, thành phần,
xây dựng tinh thần cởi mở, tin
tưởng lẫn nhau hướng tới tương
lai” (trang 124)
Xét về khía cạnh tư
tưởng, quan điểm phát triển
sự tất thắng của chủ nghĩa cộng
sản mặc dù trong bối cảnh lịch
sử hiện nay CNXH trên thế giới
đang ở giai đoạn thoái trào và
công cuộc quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội của đất nước ta
cũng như các nước XHCN vẫn
còn nhiều khó khăn, thử thách.
Văn kiện Đại hội Đảng lần IX đã
nhận định : “CNXH trên thế giới
từ những bài học thành công và
thất bại cũng như từ những khát
vọng và sự thức tỉnh của các
dân tộc, có điều kiện và khả
năng tạo ra bước phát triển mới.
Theo quy luật tiến hóa của lịch
sử loài người nhất định sẽ tiến
tới chủ nghĩa xã hội”.
Nhận định này phát xuất
từ tình hình thực tế điều kiện
chính trị thế giới biến đổi một
cách căn bản; phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế đang
tạm thời lâm vào giai đoạn thoái
trào do tác động từ sự tan rã của
Liên Xô và các nước XHCN
Đông Âu, CNTB tỏ ra còn khả
năng phát triển và đang có
những âm mưu, thủ đoạn mới
nhằm xóa bỏ hoàn toàn CNXH,
Xô và các nước XHCN Đông Âu.
Ngược lại với sự thoái trào tạm
thời của CNXH, “trước mắt
CNTB còn có tiềm năng phát
triển kinh tế nhờ ứng dụng
những thành tựu mới của KH và
công nghệ, cải tiến phương
pháp quản lý thay đổi cơ cấu SX,
điều chỉnh các hình thức sở hữu
và chính sách XH” (Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH). Bên cạnh đó,
quá trình toàn cầu hóa kinh tế
đang là một xu thế khách quan,
ngày càng lôi kéo nhiều nước
tham gia và nó vừa có mặt tích
cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có
hợp tác, vừa có đấu tranh.
Tuy nhiên, do bản chất
của CNTB vẫn là một chế độ áp
bức, bóc lột và bất công nên cần
phải thấy rằng mặc dù “CNTB
hiện đại đang nắm ưu thế về
vốn, khoa học và công nghệ, thị
trường song không thể khắc
phục nổi những mâu thuẩn vốn
có, đặc biệt là mâu thuẩn giữa
tính chất XH hóa ngày càng cao
của lực lượng SX với chế độ
chiếm hữu tư nhân TBCN về tư
như Trung Quốc, từ sau Hội nghị
Trung ương 3 khóa XIII (12-
1978) Đảng cộng sản Trung
Quốc đã mở đầu công cuộc cải
cách, mở cửa toàn diện, sâu sắc
theo định hướng XHCN và từ đó
đến nay, trãi qua một phần tư thế
kỷ, Trung quốc đã phát triển
không ngừng và đang đứng vào
hàng ngũ các cường quốc trên
thế giới. Đối với nước ta, “những
thành tựu to lớn và rất quan
trọng của 15 năm đổi mới làm
cho thế và lực của nước ta lớn
mạnh lên nhiều”(VK ĐH Đảng
lần IX, trang 66). Điều này cho
thấy rằng thời đại quá độ từ
CNTB lên CNXH trên phạm vi
toàn thế giới không diễn ra trong
một thời gian ngắn và theo một
con đường thẳng tấp. Cũng như
mọi thời đại khác trong lịch sử,
quá trình quá độ tiến lên XHCN
là một quá trình dài đầy khó
khăn, thử thách có những giai
đoạn phát triển mạnh mẽ nhưng
cũng có lúc thoái trào, có bước
tiến nhưng cũng có bước lùi.nó
có tiến, có thoái, quanh co khúc
khuỷu, nhưng cuối cùng như