Vấn đề nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở thành phố đông hà, quảng trị hiện nay từ góc nhìn của nguyên lý về sự phát triển - Pdf 95

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức cơ sở (TCCS) Đảng là đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng, là hạt
nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị ở cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng với
nhân dân. Đảng bộ cơ sở có trách nhiệm lãnh đạo thực hiện thắng lợi đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị
của địa phương, đơn vị; xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên; làm
công tác vận động quần chúng. TCCS Đảng có mạnh thì nền tảng của Đảng mới
vững chắc.
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, hầu hết các TCCS Đảng đã
và đang thể hiện tốt vai trò lãnh đạo, vững vàng trước những khó khăn, thử
thách, có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn định
chính trị, củng cố quốc phòng an ninh. Nhiều nhân tố mới, tích cực đã xuất hiện
thông qua sự lãnh đạo của các TCCS Đảng và tác động tích cực đến sự lãnh đạo
của Đảng và xã hội.
Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước của nhiều TCCS Đảng vẫn còn
yếu, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở. Có
nơi Đảng bao biện làm thay, có nơi Đảng và Chính quyền chồng chéo trong lãnh
đạo và chỉ đạo, có nơi Đảng bị Chính quyền lấn át dẫn đến vai trò hạt nhân lãnh
đạo chính trị ở các TCCS Đảng vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém, chưa thể hiện rõ
vai trò hạt nhân lãnh đạo, buông lỏng quản lý, chưa tạo được sự chuyển biến cơ
bản để ngăn chặn và đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Nhiều TCCS
Đảng và đảng viên còn sinh hoạt lỏng lẻo, ý thức phê bình và tự phê bình chưa
cao…, làm giảm sút uy tín của Đảng và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của
địa phương.
2
Các TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị là đơn vị cấu
thành hệ thống 4 cấp của tổ chức Đảng, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành
ủy Đông Hà. Trong thời gian qua, các TCCS Đảng đã tích cực tổ chức thực hiện

Là cán bộ làm công tác Đảng chuyên trách ở tỉnh Quảng Trị, từ thực tiễn
công tác trong thời gian qua và quán triệt quan điểm phát triển của triết học
Mác - Lênin, nên tôi chọn đề tài: “Vấn đề nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở
Đảng ở thành phố Đông Hà, Quảng Trị hiện nay từ góc nhìn của nguyên lý
về sự phát triển” để nghiên cứu và làm luận văn Thạc sĩ Khoa học chuyên
ngành Triết học. Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu nhằm giúp cho các cấp
ủy ở thành phố Đông Hà có cái nhìn tương đối toàn diện, có hệ thống về những
vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác xây dựng các TCCS Đảng trong sạch,
vững mạnh, phát huy được vai trò, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức Đảng.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
“Phát triển” là vấn đề đã được nhiều nhà triết học từ trước đến nay quan
tâm nghiên cứu. Tuy vậy, chỉ đến khi triết học Mác ra đời, nguyên lý về sự phát
triển mới được trình bày một cách khoa học. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
đã đưa ra những lý luận khoa học đầy đủ nhất về sự phát triển, kể cả nguồn gốc,
phương thức và khuynh hướng của sự phát triển. Vì thế, nguyên lý về sự phát triển
đã trở thành cơ sở lý luận và được nhiều tác giả nghiên cứu vận dụng vào vấn đề
tổ chức xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, về xây dựng các TCCS
Đảng nói riêng và đã có nhiều công trình đề cập đến. Cho đến nay đã có một số đề
tài, công trình nghiên cứu, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và nhiều bài viết đề
cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng của TCCS Đảng, như:
- “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên”, tập 1, 2, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004.
4
- “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất
nước”, PGS.TS.Nguyễn Trọng Phúc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1999.
- “Mấy vấn đề về xây dựng Đảng vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
mới”, Vũ Oanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1999.
- “Một số quy định chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở”,
Ban Tổ chức Trung ương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004.

Trương Thị Mỹ Trang, tạp chí Xây dựng Đảng, (2, 3), năm 2007
Bên cạnh đó, các bài viết trên các Tạp chí chuyên ngành cũng được nhiều tác
giả cũng đề cập đến một số khía cạnh, vấn đề của ccông tác xây dựng Đảng cũng
như việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào công tác xây dựng Đảng.
Có thể nói, những công trình nghiên cứu khoa học trên đã đề cập tới nhiều
góc độ, trên nhiều phạm vi, nhiều địa phương và có những cách tiếp cận khác
nhau trong việc vận dụng lý luận của triết học Mác - Lênin vào lĩnh vực xây
dựng tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và TCCS Đảng nói riêng. Tuy
nhiên, việc vận dụng quan điểm phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc
nâng cao chất lượng TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị hiện nay
chưa có tác giả nào đề cập tới một cách trực tiếp. Vì vậy, tôi chọn đề tài này để
nghiên cứu đồng thời kết quả nghiên cứu cũng được sử dụng để làm luận văn
Thạc sĩ Khoa học, chuyên ngành Triết học, qua đó nhằm làm rõ những vấn đề lý
luận và thực tiễn mà thành phố Đông Hà đã và đang vận dụng vào việc nâng cao
chất lượng các TCCS Đảng của thành phố hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích
Làm rõ những nội dung của nguyên lý về sự phát triển của triết học Mác -
Lênin, từ đó rút ra quan điểm phát triển và vận dụng quan điểm này vào việc nâng
cao chất luợng TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị hiện nay.
6
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Phân tích và làm rõ những nội dung chủ yếu của nguyên lý về sự phát
triển trên cơ sở của quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể.
- Chỉ ra thực trạng chất lượng của TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnh
Quảng Trị trong những năm gần đây (2005 - 2011).
- Đề xuất một số giải pháp mang tính căn bản nhằm nâng cao chất lượng
TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

2.1. Tổng quan về lịch sử và hình thành các tổ chức cơ sở Đảng ở thành
phố Đông Hà
2.2. Thực trạng của các tổ chức cơ sở Đảng ở thành phố Đông Hà trong
những năm gần đây (2005 - 2011)
2.3. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở
Đảng ở thành phố Đông Hà hiện nay
8
CHƯƠNG 1
NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
1.1. Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về sự phát triển
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học, quan điểm về sự phát triển luôn
được các triết gia, các trường phái triết học quan tâm, nghiên cứu. Vì vậy, khi
xem xét về sự phát triển cũng có những quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập
với nhau.
- Những người theo quan điểm duy tâm hoặc quan điểm tôn giáo thường
tìm nguồn gốc của sự phát triển ở thần linh, Thượng đế, các lực lượng siêu nhiên
hay ở ý thức của con người.
- Quan điểm siêu hình xem xét sự phát triển đơn giản chỉ là sự tăng lên hay
giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật. Những
người theo quan điểm siêu hình coi tất cả chất của sự vật không có sự thay đổi gì
trong quá trình tồn tại của chúng. Sự vật ra đời với những chất như thế nào thì
toàn bộ quá trình tồn tại của nó vẫn được giữ nguyên, hoặc nếu có sự thay đổi nhất
định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra trong một vòng khép kín, coi sự
phát triển chỉ là sự thay đổi về mặt lượng của từng loại mà sự vật đang có chứ
không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới. Những người theo quan
điểm siêu hình còn xem sự phát triển là một quá trình tiến lên liên tục không có
những bước quanh co, thăng trầm, phức tạp.
- Quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ
thấp đến cao. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của

của hệ thống, khái quát và vận dụng một luận điểm nào đó, vào tất cả những hiện
tượng của lĩnh vực mà từ đó nguyên lý ấy được trừu tượng hóa” [77, tr.391].
10
- Phạm trù phát triển: “Là phạm trù triết học dùng để chỉ khái quát quá
trình vận động có định hướng từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ chưa
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn mà kết quả là cái mới tiến bộ ra đời thay thế cái
cũ lạc hậu” [77, tr.233]. Sự phát triển của sự vật mang tính phổ biến vì trong thế
giới khách quan, không có sự vật hiện tượng nào đã đứng im, tĩnh tại mà nó luôn
vận động, phát triển không ngừng. Sự mất đi của một sự vật hiện tượng này là
điều kiện ra đời của sự vật hiện tượng khác.
Theo quan điểm đó, phát triển vừa là sự vận động biến đổi nói chung, vừa
là sự biến đổi đặc thù, đây là sự biến đổi gắn với quá trình nảy sinh cái mới, cái
tiến bộ, cái cao hơn về chất. Do vậy, sự phát triển bao hàm trong nó tính phức
tạp, tính khách quan vốn có, tính đa dạng và tính kế thừa.
- Khái niệm “Vận động” được các nhà triết học trước Mác tập trung
nghiên cứu và đưa ra những hình thức, các dạng vận động của vật chất. Nhưng
chỉ đến Ăngghen khái niệm vận động mới được trình bày một cách đầy đủ. Vận
động theo Ăngghen là: “Mọi sự biến đổi nói chung”, “Tức được hiểu là một
phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, nó bao
gồm tất cả mọi sự thay đổi và quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả sự thay đổi vị
trí đơn giản cho đến tư duy” [57, tr.519].
Nguyên lý về sự phát triển khẳng định sự thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập trong chính bản thân sự vật hiện tượng chính là nguồn gốc của
sự phát triển, hay nói cách khác đó là do mâu thuẫn nội tại bên trong sự vật
hiện tượng, nó vạch ra cách thức của sự phát triển: Vừa có tích lũy dần về
lượng, vừa có sự chuyển hóa về chất và nói đến sự phát triển tức là sự tăng
giảm về lượng và chất. Nguyên lý về sự phát triển cũng chỉ ra rằng không
phải chỉ có khuynh hướng đi lên mới được coi là sự phát triển mà quá trình
phát triển thường được diễn ra quanh co, phức tạp qua những khâu trung gian
và có lúc bao hàm cả sự thụt lùi đi xuống tạm thời: Đó là khuynh hướng tiến

xã hội; những trào lưu triết học tôn giáo có tính hệ thống chặt chẽ như
Lokayata, Sankhya, Nyada, Vaisesika, Mimansa… nghiên cứu hầu hết các lĩnh
vực khác nhau của triết học, vừa đấu tranh với nhau trên quan điểm triết lý,
phương pháp tu luyện và địa bàn ảnh hưởng, vừa kế thừa lẫn nhau trong quá
trình phát triển.
Triết học Ấn Độ có một hệ thống quan điểm được đặt ra từ thời cổ đại. Vì
vậy, các quan điểm phát triển của các nhà triết học Ấn Độ cổ đại chỉ trong khuôn
khổ theo một hướng đã đặt ra. Yếu tố quy định đặc điểm triết học trên là do sự
tồn tại dai dẳng của chế độ xã hội nô lệ mang nặng tính chất gia trưởng, bị kìm
hãm bởi chế độ công xã nông thôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội hết sức
nghiệt ngã ở Ấn Độ.
Dưới sự tác động, chi phối, thống trị của triết lý Veda, Upanishad và
giáo lý Balamon được mệnh danh là tư tưởng truyền thông chính thống, người
Ấn Độ đã gom các hệ thống triết học của họ thành hai loại lớn: Các hệ thống
chính thống (Astika) và hệ thống không chính thống (Nastika).
Các trường phái triết học được gọi là chính thống đều thừa nhận ưu thế tối
cao của Veda và triết lý về tinh thần sáng tạo vũ trụ tuyệt đối, tối cao Brahman,
trong Upanishad biện hộ cho giáo lý của đạo Balamon, bảo vệ chế độ phân biệt
đẳng cấp. Hệ thống triết học chính thống gồm 6 trường phái (gọi là 6 darshanas):
Samkhya, Nyaya, Vaisesika, Mimansa, Yoga, Vedanta.
Các trường phái triết học không chính thống là các trường phái có tư
tưởng phủ nhận uy thế tối cao của kinh Veda và Upanishad, phê phán giáo lý của
đạo Balamon, đả phá chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội. Gồm các trường phái:
Triết học Jaina, Phật giáo và các trường phái triết học duy vật vô thần trong
phong trào mới về tự do tư tưởng ở Đông Ấn, trong đó nổi bật nhất là trường
phái triết học Lokayata hay còn gọi là Charvaka.
Để tìm hiểu quan điểm phát triển trong triết học Ấn Độ cổ đại, có thể xem
xét tư tưởng của một số trường phái triết học sau:
13
- Triết học Samkhuya - một trường phái triết học thuộc hệ thống chính

Sự tác động của ba yếu tố “Sativa, Rajas, Tamas” đã phá vở sự cân bằng
vốn có của thế giới vật chất, tạo nên sự biến đổi và phát triển. Triết học
Samkhuya đã gắn kết được các sự vật trong thế giới vật chất với hình thức tồn tại
của các vật thể là không gian và thời gian. Mặc dù quan niệm về vấn đề này còn
đơn giản, nhưng đã diễn tả được thế giới của sự vật tồn tại và biến đổi trong
không gian và thời gian.
- Trường phái triết học Jaina xuất hiện cũng là lúc phong trào tự do tư
tưởng thịnh hành. Cơ sở triết lý căn bản của triết học Jaina là học thuyết về
những bản chất, những bản nguyên là chất liệu ban đầu để tạo dựng nên thế giới
và đồng thời chân lý cơ bản đó xây dựng nên tri thức. Hai bản chất đó là: Jiva,
tức linh hồn hay sinh mệnh và Adjiva, tức là tất cả những gì không phải linh hồn.
Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới dù thiên hình vạn trạng đều do các loại
thực thể đó cấu thành. Tính thực tại của thực thể được đặc trưng bởi ba yếu tố
sau: Tính biến đổi, sự sinh ra và sự tiêu tan. Thế giới gồm có các thực thể thường
xuyên xuất hiện, tồn tại và tiêu hủy, còn bản thân thế giới thì không có khởi đầu
hay kết thúc.
Thực thể có hai loại thuộc tính, thuộc tính căn bản và thuộc tính ngẫu
nhiên. Các thuộc tính căn bản tồn tại trong các thực thể chừng nào thực thể còn
tồn tại. Ngoài ra, thực thể còn có những thuộc tính ngẫu nhiên, các thuộc tính
này xuất hiện rồi mất đi và chính nó đã giải thích tại sao thực thể luôn có tính
chất thường xuyên biến đổi và luôn biến dạng. Tính không biến đổi tồn tại thực
tế chừng nào thực thể còn tồn tại như cũ và sự biến đổi cùng tồn tại thực tế, khi
xét bề ngoài, thực thể biến đổi theo các điều kiện khác nhau.
Vật chất là thực thể vĩnh viễn. Các đối tượng tự nhiên như: Đất, nước, lửa,
không khí và cả thân thể, trí óc, lời nói, hơi thở của con người… tất cả đều là sản
phẩm của vật chất. Vật chất được chia làm hai loại: Vật chất thô sơ, là những cái
15
mà cảm giác chúng ta nhận thức được, nghĩa là các vật thể thông thường đều là
vật chất thô sơ; còn những cái mà chúng ta không thể nhận thức được bằng cảm
giác thì đó là loại vật chất tinh tế. Các vật thể vật chất xuất hiện do sự kết hợp

bắt nguồn và liên hệ với những yếu tố kia và đất là yếu tố xuất phát của sự chuyển
hóa đó. Sự tiến hóa cao nhất của sự kết hợp các yếu tố cơ bản của thế giới là khi
các yếu tố này liên kết với nhau theo một cách thức và số lượng nhất định sẽ tạo ra
cơ thể sống có cảm giác và ý thức. Khi những yếu tố đó phân rã thì chúng trở về
điểm xuất phát của chúng, đó là cái chết của một cơ thể. Như thế, sự biến hóa của
các yếu tố vật chất cơ bản đầu tiên mang tính tuần hoàn, khép kín.
Sinh mệnh, linh hồn, ý thức và cảm giác của con người chỉ xuất hiện khi
các đại nguyên tố kết hợp hay phân tán ra theo một thể thức đặc biệt. Vậy, không
có linh hồn trong các yếu tố riêng rẽ. Từ quan điểm trên trường phái này đã cho
rằng ý thức, linh hồn là một thuộc tính của cơ thể. Mặc dù họ đã phản đối thuyết
luân hồi, nghiệp, giải thoát nhưng họ chưa có phương pháp luận đúng đắn và
khoa học.
- Triết học phật giáo quan niệm bản chất của sự tồn tại là sự biến chuyển
liên tục (vô thường), không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, do vậy không có ai
tạo ra thế giới và cũng không có cái gọi là vĩnh hằng. Thế giới được cấu tạo bởi
các yếu tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh), nhưng danh và sắc chỉ hội tụ trong
một thời gian ngắn rồi chuyển sang trạng thái khác. Sự vật, hiện tượng luôn biến
chuyển theo chu trình nhân - quả, kết quả của quá trình cũ có thể là nguyên nhân
của quá trình sau và nó tiếp tục theo một chu trình như vậy. Tất cả các sự vật
trong vũ trụ luôn biến đổi không ngừng, bị chi phối và tuân theo quy luật nhân -
quả. Cái nhân nhờ có duyên trợ mà trở thành quả; quả mới lại nhờ duyên mới trợ
giúp mà tạo thành quả mới…. Cứ như vậy, thế giới sự vật, hiện tượng cứ sinh
hóa, biến hiện không ngừng. Quá trình đó có thể diễn ra trong nháy mắt hay
trong từng giai đoạn có sự biến đổi về chất. Từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng
17
lớn, từ cái đơn giản đến cái phức tạp đều chịu sự chi phối, tác động của luật nhân
- quả mà tồn tại, biến hiện.
Ngay chính bản thân con người cũng do nguyên nhân kết hợp mà thành,
nó được cấu tạo bởi thể xác và tinh thần, con người phát triển theo chu kỳ sinh -
lão - bệnh - tử, bất cứ ai cũng phải trải qua chu kỳ này, nói tử là kết quả cuối

Trung Quốc, là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa đối với sự
sản sinh, biến hoá của vũ trụ. Đó là cội nguồn của quan điểm duy vật và biện
chứng trong tư tưởng triết học của người Trung Quốc và đã có ảnh hưởng to lớn
đến thế giới quan triết học sau này của người Trung Quốc nói riêng và đối với
những quốc gia chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Quốc nói chung.
Khi nói đến quan điểm về sự phát triển trong tư tưởng triết học Trung
Quốc, chúng ta có thể xem xét thuyết Âm Dương, Ngũ Hành với tư cách là tư
tưởng triết học tiêu biểu bàn về sự phát sinh, phát triển của mọi sự vật, hiện
tượng trong vũ trụ.
- Tư tưởng triết học về Âm - Dương: “Dương” nguyên nghĩa là ánh sáng
mặt trời hay những gì thuộc về ánh sáng mặt trời và ánh sáng; “Âm” có nghĩa là
thiếu ánh sáng mặt trời, tức là bóng râm hay bóng tối. Về sau, Âm - Dương được
coi như hai khí; hai nguyên lý hay hai thế lực vũ trụ. Chính do sự tác động qua
lại giữa chúng mà sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất. Thuyết Âm -
Dương cho rằng sự vận động và biến đổi bắt nguồn từ hai thế lực đối lập là Âm
và Dương, chúng đối lập trong sự thống nhất và chuyển hóa lẫn nhau, chúng vừa
khẳng định vừa phủ định trong quá trình tồn tại. Hai thế lực Âm - Dương không
tồn tại biệt lập mà thống nhất, chế ước lẫn nhau theo các nguyên lý:
Âm - Dương thống nhất thành Thái cực. Nguyên lý này nói lên tính toàn
vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư
tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi.
19
Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả
năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực.
Hai nguyên lý trên được khái quát bằng vòng tròn khép kín, có hai hình
đen trắng tượng trưng cho Âm - Dương, hai hình này tuy cách biệt hẳn nhau, đối
lập nhau nhưng ôm lấy nhau, xoắn lấy nhau, không tách rời nhau trong chỉnh thể
vòng tròn khép kín bao bên ngoài. Mặt khác, chổ hình đen phồng ra có điểm
trắng và ngược lại, trong hình trắng lại có một điểm đen.
Để giải thích lịch trình biến hoá trong vũ trụ, người Trung Quốc đã khái

chế ước lẫn nhau.
Về sau, thuyết Âm Dương và Ngũ Hành được kết hợp với nhau làm một.
Hệ thống lý luận Âm Dương - Ngũ Hành “Tương sinh, tương khắc” đã được vận
dụng để giải thích mọi sự biến đổi của vạn vật trong trời đất và trong nhân gian.
Như vậy, thuyết Âm Dương - Ngũ Hành đã thừa nhận tính vật chất của thế giới,
giải thích quy luật phát triển khách quan của thế giới, mặc dù còn chất phác và
máy móc nhưng nó đã có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm
về thế giới.
Có thể thấy, các nhà triết học Trung Quốc cổ đại đã có quan niệm về sự
vận động không ngừng của sự vật, hiện tượng, nhưng đó chỉ là sự vận động biến
đổi theo một vòng tuần hoàn nhất định nào đó. Họ chưa chỉ ra được nguồn gốc,
phương thức, khuynh hướng của sự phát triển mà chỉ đưa ra những vận động đơn
thuần, chưa đầy đủ.
1.1.2. Quan niệm về sự phát triển trong triết học Phương Tây:
1.1.2.1. Triết học Hy Lạp cổ đại
Tư tưởng triết học ra đời ở xã hội Hy lạp cổ đại, xã hội chiếm hữu nô lệ
với những mâu thuẫn gay gắt giữ tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc.
21
Chính điều này đã dẫn đến cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
duy tâm biểu hiện qua cuộc đấu tranh giữa đường lối triết học của Đêmôcrít và
đường lối triết học của Platôn là đại diện cho hai tầng lớp chủ nô dân chủ và
quý tộc. Bên cạnh đó, sự ra đời và phát triển của Triết học Hy Lạp cổ đại có
một số đặc điểm: Là kết quả tất yếu của việc kế thừa những di sản tinh tuý của
truyền thống trong sáng tác dân gian, trong thần thoại, trong các hình thái sinh
hoạt tôn giáo; gắn kết hửu cơ với khoa học tự nhiên (điều này giải thích tại sao
hầu hết các nhà triết học duy vật thời Hy Lạp cổ đại đều là nhà khoa học tự
nhiên); sự ra đời rất sớm của chủ nghĩa duy vật mộc mạc, thô sơ và phép biện
chứng tự phát.
Trong triết học Hy Lạp phép biện chứng chỉ mới sơ khai, giải thích sự vật,
hiện tượng trong một khối thống nhất nên tư duy về sự phát triển cũng hình thành

mức độ đo của những cái đang lụi tàn” [22, tr.26]. Lửa không chỉ là hiện thân và
sức mạnh của vũ trụ, của vật lý mà còn là sức mạnh của lý trí. Lửa là logos -
khái niệm dùng để chỉ sự thống nhất giữa ngôn ngữ và tư tưởng, được hiểu theo
nhiều nghĩa khác nhau.
Logos là cái tồn tại vĩnh viễn, phổ biến và thực chất là quy luật của sự tồn
tại, là cái tạo nên sự hài hoà, cân đối của thế giới. Logos tồn tại dưới cả dạng
khách quan, nhưng về nguyên tắc thì logos chủ quan phải phù hợp với logos
khách quan, sự phù hợp ở đây là logos khách quan đó là những quy luật vận
động khách quan của thế giới được coi là tiêu chuẩn đánh giá mọi hoạt động, suy
nghĩ của con người. Theo Hêraclít, sự vận động của sự vật gắn liền với sự thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Ông đã khẳng định rằng các mặt đối lập
vừa đấu tranh với nhau, vừa thống nhất với nhau, chúng là tiền đề, chổ dựa cho
nhau và coi đó là nguồn gốc của sự phát triển vạn vật.
Hêraclít đã xây dựng nên học thuyết về sự vận động hay còn được gọi là
học thuyết về dòng chảy vì người ta thường liên tưởng đến câu nói nổi tiếng của
23
ông: “Chúng ta không thể lội xuống hai lần trên cùng một dòng sông”, đây là sự
triển khai quan điểm về thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, mà cụ thể là
hai mặt đối lập vận động và đứng im, là những mặt đối lập không thể thiếu nhau
để tạo thành một dòng chảy. Ông cho rằng, không có gì ổn định và bất biến hơn
là dòng sông luôn chảy, hay nói theo một cách khác là tính biển đổi của dòng
sông không loại trừ đứng im, tức là cái mà nhờ đó dòng sông là xác định, ổn
định và bất biến. Nhờ chảy mới là sông, cái biến đổi biểu hiện cái xác định và vì
là sông nên mới chảy, cái xác định biểu hiện cái biến đổi.
Trái với quan điểm xem đấu tranh như một hiện tượng hoàn toàn tiêu cực,
như là sự xung đột giữa các lực lượng mù quáng bất động mang tính chất phá
huỷ hay quan điểm hài hoà là bất biến, Hêraclít đã khẳng định đấu tranh sẽ tạo
ra một trật tự hài hoà về thống nhất, ông cho rằng cái vốn có ở trong sự hài hoà
là đấu tranh và đó là điều kiện để hài hoà. Ở đâu không có sự khác biệt thì ở đó
không có sự thống nhất. Đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang hiện hữu, là

mất. Dựa vào thuyết nguyên tử luận Đêmôcrít đã giải thích được sự vận động và
phát triển của vạn vật có nguồn gốc từ bên trong sự vật và sự vận động không
phụ thuộc vào quyền lực thần bí bên ngoài.
Tuy nhiên, Đêmôcrít vẫn không thoát khỏi những hạn chế khi đã lẫn lộn
vật chất và ý thức, coi ý thức và linh hồn không phải là hiện tượng tinh thần và
hiện tượng vật chất, đồng nhất linh hồn của con người như là tổng thể của
nguyên tử. Đồng thời ông cũng cho rằng linh hồn cũng chết cùng thể xác.
Bên cạnh những nhà triết học theo quan điểm duy vật, triết học Hy Lạp cổ
đại còn có những triết gia theo quan điểm duy tâm cũng bàn về sự tồn tại và phát
triển, trong đó tiêu biểu có học thuyết về ý niệm của nhà triết học Platôn và
thuyết hình dạng của nhà triết học Arixtốt.
- Nhà triết học Platôn (khoảng 427 - 347 TCN), là một trong những nhà
triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất nhất thời cổ đại. Học thuyết ý niệm là vấn đề
25
trung tâm của triết học Platôn, đó không chỉ là nền tảng của thế giới quan mà còn
là cơ sở của lý luận nhận thức. Theo Platôn, thế giới hiện thực chỉ là cái bóng
của thế giới ý niệm, vì thế tự nhiên và con người phụ thuộc vào thế lực huyền bí;
các sự vật chỉ là hiện thân của ý niệm, thế giới ý niệm là thế giới bản nguyên tồn
tại độc lập với thế giới hiện thực và nó chi phối thế giới hiện thực. Chính vì vậy,
ý niệm là cái có trước là bản chất của mọi sự vật; mọi sự vật đều là sự mô phỏng
của ý niệm, luôn hướng tới cái ý niệm như là bản chất chung, là nền tảng nội tại
của mình.
Trong quan niệm về thế giới của Platôn, ông đã theo lập trường duy tâm
khách quan, coi mọi sự vật, hiện tượng là hiện thân của các ý niệm, là cái bóng
của ý niệm. Điều này cũng đã chi phối quan niệm về xã hội và con người của
Platôn, ông cho rằng: Tương ứng với ba phần của linh hồn con người (lý tính,
cảm xúc, tình cảm), mà chia xã hội thành ba hạng người đó là kẻ thống trị, tầng
lớp võ sĩ và tầng lớp những người lao động. Quan điểm này đã phủ nhận sự vận
động sự phát triển của sự vật, bất kỳ sự vật nào cũng chỉ là sự thể hiện đặc thù
các ý niệm tương ứng dưới dạng vật chất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status