LỤÂN VĂN:
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở
đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) cấp xã là cầu nối liền giữa Đảng với nhân dân, nơi
trực tiếp tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi nắm mọi tâm tư nguyện vọng và những yêu cầu
chính đáng của nhân dân, thực hiện đổi mới và phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội ở
nông thôn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) xây dựng nông thôn mới.
Từ khi đổi mới và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ
3 khóa VII và Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đến nay, chất lượng của tổ chức
cơ sở đảng nói chung - TCCSĐ ở nông thôn nói riêng được nâng lên về mọi mặt, TCCSĐ
trong sạch vững mạnh được củng cố và phát triển về số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, TCCSĐ ở nhiều nơi còn yếu kém, phương thức lãnh đạo và sinh hoạt
còn lúng túng, có tình trạng vừa thiếu dân chủ vừa thiếu kỷ luật, kỷ cương. Một số cán bộ
và cấp ủy chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, bệnh quan liêu,
độc đoán chuyên quyền, cục bộ địa phương, kèn cựa địa vị, cá nhân chủ nghĩa còn nặng
nề. Không ít nơi nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng, nhiều nơi còn là "điểm nóng" chưa
được giải quyết dứt điểm. Sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của một bộ phận TCCSĐ
chưa theo kịp đòi hỏi của tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở. Số TCCSĐ và số
Các bài nói, bài viết đã tạo tiền đề cho tác giả kế thừa về tư tưởng, nội dung và
phương pháp.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ
thống về "Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay".
Vì vậy, tác giả chọn vấn đề này làm đề tài luận văn của mình nhằm đáp ứng phần nhỏ sự
đòi hỏi đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Góp phần nâng cao chất lượng các Đảng bộ cấp xã tỉnh Vĩnh Long trong giai
đoạn cách mạng mới.
3.2. Nhiệm vụ
+ Làm rõ vị trí, vai trò của TCCSĐ nông thôn, từ đó khẳng định việc nâng cao
chất lượng TCCSĐ nông thôn là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, góp phần thắng lợi
của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
+ Phân tích thực trạng chất lượng của các Đảng bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long, xác
định rõ nguyên nhân của mặt mạnh, thiếu sót tồn tại trong công tác lãnh đạo của các
Đảng bộ trong thời gian từ năm 1996 đến nay.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để giải quyết một số vấn đề cấp thiết đang đặt ra
nhằm nâng cao chất lượng các Đảng bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long.
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các Đảng bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long. Thời gian nghiên cứu, khảo sát thực tế
chủ yếu từ năm 1996 đến năm nay.
4. Cơ sở lý luận - thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận - thực tiễn
+ Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về xây dựng TCCSĐ.
+ Các văn bản nghị quyết, tổng kết chuyên đề, đề tài khoa học.
+ Thực tiễn xây dựng TCCSĐ ở tỉnh Vĩnh Long từ năm 1996 đến nay.
chỉnh thể thống nhất, không có TCCSĐ thì không có Đảng, sự vững chắc từ nền tảng của
Đảng để bảo đảm sự vững chắc của toàn Đảng.
Điều lệ Liên đoàn của những người Cộng sản xác định: "Về cơ cấu liên đoàn
gồm những chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban chấp hành Trung ương và Đại hội" [36, tr.
132].
Từ những kinh nghiệm của cuộc cách mạng 1848-1849, C.Mác - Ph.Ăngghen kết
luận:
Để khỏi một lần nữa bị tụt xuống làm vai trò của kẻ vỗ tay hoan
nghênh bọn dân chủ tư sản, công nhân và trước hết là Liên đoàn phải cố gắng
thành lập song song với phái dân chủ chính thức một tổ chức đảng riêng biệt,
bí mật và công khai của công nhân và biến mỗi chi bộ thành trung tâm và hạt
nhân của các hội Liên hiệp công nhân [37, tr. 348].
Như vậy, tuy C.Mác Ph.Ăngghen chưa dùng thuật ngữ TCCSĐ, song những tư
tưởng và quan điểm của hai ông về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của TCCSĐ đã được
nêu ra.
V.I. Lênin trung thành kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen về
Đảng trong quá trình xây dựng và lãnh đạo Đảng Bônsêvích Nga - Đảng kiểu mới của
giai cấp công nhân. Khi chuẩn bị thành lập Đảng dân chủ - xã hội Nga. V.I. Lênin đã chỉ
rõ: "Xây dựng các tiểu tổ, các nhóm cộng tác trong công nhân công xưởng, nhà máy ở
thành thị là nhiệm vụ đầu tiên và cấp bách của những người dân chủ xã hội" [29, tr. 557].
V.I. Lênin coi trọng TCCSĐ là nơi giáo dục, rèn luyện; phân công công tác, quản
lý, sàng lọc đảng viên để họ luôn luôn là chiến sĩ tiên phong của giai cấp. V.I.
Lênin đưa ra nguyên tắc mỗi đảng viên phải liên hệ chặt chẽ với Đảng bằng việc tự mình
tham gia sinh hoạt và hoạt động trong một tổ chức của Đảng, là điều kiện cho mỗi đảng
viên trau dồi tính chiến đấu và chấp hành tốt điều lệ của Đảng.
Thuật ngữ TCCSĐ được V.I. Lênin chính thức dùng trong bài báo viết về "Cải tổ
Đảng" [29, tr. 108], Người chỉ rõ các chi bộ lúc ấy là TCCSĐ; V.I. Lênin coi các TCCSĐ là
nền tảng của Đảng, nơi liên hệ chặt chẽ với quần chúng lao động, là hạt nhân chính trị
của các tập thể lao động, giáo dục dẫn dắt quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương,
Khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo,
Đảng ta chỉ rõ: "Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những
kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà
hạt nhân lãnh đạo là TCCSĐ. Nhưng mặt khác, sự yếu kém của nhiều TCCSĐ đã hạn chế
những thành tựu của cách mạng" [8, tr. 141]. Như vậy, rõ ràng chất lượng của TCCSĐ là
yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với quá trình lãnh đạo cách
mạng. Trong mối quan hệ này, chất lượng của TCCSĐ là nguyên nhân quan trọng trực
tiếp, còn chất lượng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng tại cơ sở là kết quả và cũng
là chuẩn mực, thước đo để đánh giá chất lượng của TCCSĐ. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt
Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: "Tổ chức cơ sở Đảng (chi bộ
cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở" [23, tr. 31].
Khi cách mạng đã chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước, đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với TCCSĐ. Những quan điểm,
chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trên mọi lĩnh vực đời sống của xã hội, theo
hướng dân chủ hóa mở rộng phát huy vai trò sáng tạo, chủ động của đơn vị cơ sở, để khai
thác tốt mọi tiềm năng, lao động nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời tiếp tục
khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH mà Đảng và nhân dân
ta đã lựa chọn. Sự nghiệp đó càng đề cao vị trí, nền tảng của TCCSĐ trong hệ thống tổ
chức và trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi TCCSĐ phải thật sự là hạt nhân lãnh
đạo ở cơ sở. Với vị trí vai trò đó, TCCSĐ phải được nâng cao chất lượng trong hoạt động
của mình, bảo đảm cho công cuộc đổi mới được thực hiện trên thực tế ở đơn vị cơ sở;
trên cơ sở đó, qua thực tế cuộc sống đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước để nhằm tiếp
tục bổ sung đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng hoàn
thiện, góp phần vào công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu to lớn hơn.
Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng: Dù ở giai đoạn cách
mạng nào dưới sự lãnh đạo của Đảng, với vị trí nền tảng của mình các TCCSĐ luôn có vai
trò là hạt nhân lãnh đạo chính trị, bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng được tổ
chức thực hiện trôi chảy và đạt kết quả ở đơn vị cơ sở và là cấp tổ chức trực tiếp tiến
hành xây dựng nội bộ Đảng.
bằng sông Cửu Long, có nhiều tiềm năng trong nuôi trồng thủy sản, gia súc, gia cầm,
vườn cây ăn trái, cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Những tiềm năng sẵn có của Vĩnh
Long có được khai thác hiệu quả và giữ vững sự ổn định chính trị, xây dựng cuộc sống
mới hay không, điều ấy phụ thuộc vào chất lượng các TCCSĐ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long.
Do vậy, việc nâng cao chất lượng các TCCSĐ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long là nhằm bảo đảm
sự lãnh đạo của các TCCSĐ là cần thiết, cấp bách trong giai đoạn cách mạng mới về
trước mắt cũng như lâu dài trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc trên địa
bàn, góp phần thắng lợi vào công cuộc đổi mới ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả
nước.
1.1.2. Đặc điểm của các tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long
Vĩnh Long là tỉnh nằm trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, dân số 1.010.555
người, trong đó, người Kinh 978.893 người, người Khơ-me 20.204 người, còn lại là các
dân tộc khác. Tỉnh có 5 tôn giáo với 252.498 tín đồ sống xen kẽ ở các vùng nông thôn và
thành thị. Đảng viên là người dân tộc Khơ-me và có đạo chiếm khoảng 0,2% so với tổng
số đảng viên toàn tỉnh.
Hiện nay trình độ năng lực của đảng viên cấp xã đều được nâng cao lên về mọi
mặt, nhưng so với yêu cầu và nhiệm vụ mới chưa đáp ứng ngang tầm; đảng viên người
dân tộc, đảng viên có đạo trình độ năng lực, hiểu biết về chính trị còn nhiều hạn chế so
với đảng viên người Kinh, nhưng đảng viên người dân tộc và đảng viên có đạo là những
người đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục người dân tộc, tín đồ
hiểu và làm theo chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước dễ hơn
đảng viên người Kinh trong thực tế thời gian qua.
Do điều kiện lịch sử, tự nhiên của từng vùng trong tỉnh mà các đảng bộ cấp xã ở
Vĩnh Long xác định nhiệm vụ chính trị khác nhau. Đối với các đảng bộ cấp xã vùng sâu,
vùng xa thì lãnh đạo chuyển đổi giống, cây trồng, vật nuôi các loại, gắn với các ngành nghề
thủ công truyền thống; đối với các đảng bộ cấp xã ở vùng ven đô thị chủ yếu vừa phát
triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng của
nhân dân.
Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và các mặt công tác khác.
Trên cơ sở chức năng cơ bản và căn cứ vào yêu cầu lãnh đạo của Đảng bộ trong
tình hình mới, các Đảng bộ cấp xã cần thực hiện đúng các nhiệm vụ mà Đảng ta đã xác
định trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: "Tất cả
các Đảng bộ, chi bộ đều phải phấn đấu thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo
chính trị ở cơ sở" [22, tr. 55], vì vậy các TCCSĐ cần thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Xác định chủ trương, nhiệm vụ về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh quốc phòng và lãnh đạo các chủ trương nhiệm vụ đó ở nông thôn.
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đẩy mạnh CNH,
HĐH; phát triển nông thôn, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Chuyển
đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho thích hợp với tiềm năng, thế mạnh của
từng địa bàn cơ sở, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sự nghiệp văn hóa,
giáo dục, y tế, thông tin, dân số kế hoạch hóa gia đình; thực hiện tốt các chính sách xã
hội, tăng hộ giàu, xóa hộ đói, giảm hộ nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân; động viên nhân dân hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước, xây dựng nông thôn
giàu đẹp, văn minh.
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn, nhằm phát
huy vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, thực hiện công khai về tài
chính và phân phối, chống tham nhũng, hà lạm công quỹ, ức hiếp nhân dân, lấn chiếm
ruộng đất, cho vay nặng lãi
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ quốc phòng an toàn xã
hội, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ tài sản nhà nước, của tập
thể, tính mạng và tài sản của nhân dân.
Đây là nhiệm vụ trọng tâm, là nội dung chủ yếu trong quá trình thực hiện vai trò
lãnh đạo ở các Đảng bộ cấp xã trong tình hình hiện nay.
Thứ hai: Lãnh đạo công tác tư tưởng.
Làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền vận động trong các tầng lớp nhân dân,
phát huy truyền thống yêu nước, yêu CNXH, tin tưởng vào con đường đi lên CNXH mà
Thứ năm: Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh.
Đề ra những chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong
sạch vững mạnh; sắp xếp các tổ chức Đảng, thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và
sinh hoạt Đảng, duy trì thường xuyên nề nếp sinh hoạt Đảng, tự phê và phê bình, thực
hiện tốt các nội dung của công tác đảng viên, tổ chức và kiểm tra việc học tập nâng cao
trình độ của đảng viên, chăm lo tạo nguồn phát triển Đảng, xây dựng cấp ủy và bí thư cấp
ủy có đủ phẩm chất, năng lực, là người tiêu biểu của Đảng bộ, được đảng viên và nhân
dân tín nhiệm. Kiểm tra các chi bộ và đảng viên thực hiện đường lối của Đảng, nghị
quyết của cấp trên và của TCCSĐ, chấp hành điều lệ Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước.
Các nhiệm vụ nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ và không mâu thuẫn với nhau,
thể hiện đầy đủ chức năng của các Đảng bộ cấp xã; đòi hỏi các Đảng bộ nói chung, các
Đảng bộ cấp xã ở Vĩnh Long nói riêng cần thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ trên.
1.1.4. Quan niệm và những tiêu chí để đánh giá chất lượng các tổ chức cơ sở
đảng cấp xã
1.1.4.1. Quan niệm về chất lượng của các TCCSĐ cấp xã
Trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, ở từng loại hình TCCSĐ
có những đặc điểm khác nhau, song khi nói đến chất lượng TCCSĐ cần phải đề cập một
cách đồng bộ, toàn diện trên hai lĩnh vực là vai trò lãnh đạo và công tác xây dựng nội bộ
Đảng của TCCSĐ. Bởi lẽ, trong hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở thì
các TCCSĐ có vai trò đặc biệt quan trọng, vì chất lượng của TCCSĐ là yếu tố tạo nên
chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng và uy tín của Đảng với nhân
dân. Vì vậy, nâng cao chất lượng của TCCSĐ không thể thiếu được trong quá trình lãnh
đạo của Đảng. Sự nghiệp CNH, HĐH theo định hướng XHCN, xây dựng đất nước Việt
Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng XHCN
là việc làm khó khăn, phức tạp, lâu dài, trải qua nhiều thử thách đòi hỏi sự lãnh đạo của
Đảng phải ngang tầm với thời kỳ mới. Do đó, Đảng cần phải nâng cao chất lượng hoạt
động lãnh đạo của mình.
kết quả phát triển kinh tế, xã hội làm mục tiêu và thước đo chủ yếu" [14, tr. 54].
1.1.4.2. Những tiêu chí để đánh giá việc nâng cao chất lượng các TCCSĐ cấp
xã
Từ cơ sở quan niệm về chất lượng các TCCSĐ cấp xã nêu trên, những tiêu chí
đánh giá việc nâng cao chất lượng các TCCSĐ cấp xã có thể đưa ra các nội dung sau:
- Lãnh đạo hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế, xã hội.
Quán triệt và thực hiện đường lối CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn của
Đảng, lãnh đạo và thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng CNH, HĐH: Phát triển nông nghiệp toàn diện, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng trưởng kinh tế đạt và vượt hàng năm theo
chỉ tiêu đề ra, thu nhập đầu người ngày càng tăng, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn,
phục vụ cho sản xuất và đời sống, phát huy vai trò kinh tế hợp tác ở nông thôn.
Hoàn thành nghĩa vụ của cơ sở đối với nhà nước, các chỉ tiêu thu thuế, trả nợ và
các nghĩa vụ khác.
Thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tạo thêm ngành nghề, giải quyết việc
làm cho người lao động theo kế hoạch của Đảng bộ. Phát triển sự nghiệp văn hóa, xây
dựng đời sống văn hóa mới, dân chủ công bằng, văn minh, gia đình hạnh phúc; giáo dục
đấu tranh ngăn chặn và bài trừ có hiệu quả các tệ nạn xã hội, thực hiện các chỉ tiêu về kế
hoạch hóa gia đình.
Thực hiện xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học theo quy định của Nhà nước.
Có nhà trẻ, lớp mẫu giáo, có đủ trường học bảo đảm cho các cháu đến độ tuổi đều được
đến trường học.
Cơ sở y tế, thực hiện các chương trình y tế cộng đồng, bảo đảm phòng, chống
bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
- Lãnh đạo tốt các nhiệm vụ an ninh quốc phòng.
Làm tốt việc giáo dục nhân dân thi hành đúng pháp luật; hoàn thành tốt các chỉ
tiêu tuyển quân, làm tốt các chính sách hậu phương quân đội và các nhiệm vụ quân sự địa
phương, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn ở cơ sở.
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các đoàn thể chính trị, xã hội vững mạnh, xây
1.2.1. Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở tỉnh Vĩnh Long
Vĩnh Long là một trong 12 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa hai
nhánh chính của sông Cửu Long (sông Tiền và sông Hậu); phía Bắc giáp sông Tiền, phía
Đông giáp hai tỉnh Bến Tre và Trà Vinh, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ, phía Tây giáp tỉnh
Đồng Tháp.
Vĩnh Long không có biển và núi đồi, địa hình chia cắt bởi nhiều sông rạch, có cù
lao An Bình, Bình Hòa Phước, Đông Phú, Quới Thiện.
Tên Vĩnh Long ra đời khá sớm trong lịch sử khẩn hoang Nam Bộ (năm 1698).
Hiện nay Vĩnh Long có 6 huyện, 1 thị xã, 6 thị trấn, 7 phường, 94 xã, 734 ấp, khóm. Diện
tích tự nhiên 148.738 ha, dân số 1.010.555 người, trong đó số người sống ở nông thôn
chiếm 85,33%, số người ở thành thị 14,67%, mật độ dân số 764 người/km
2
. Các thành
phần dân tộc sinh sống: dân tộc Kinh 978.893 người, chiếm tỷ lệ 97,40%; dân tộc Khơ-
me 20.204 người, chiếm tỷ lệ 2,01%, dân tộc Hoa 5.710 người chiếm tỷ lệ 0,56%, số còn
lại các dân tộc khác 223 người chiếm 0,3%; các tín đồ tôn giáo có 252.498 người, chủ
yếu tín đồ Phật giáo có 167.973 người; tín đồ Công giáo 36.752 người, tín đồ Tin lành
3.028 người, còn lại các tôn giáo khác; không tôn giáo 752.299 người.
Vĩnh Long là tỉnh sản xuất nông nghiệp, lao động trong độ tuổi chiếm 59% trên
tổng số dân trong đó lao động nông nghiệp chiếm 71%, và mới đạt khoảng 60% quỹ thời
gian lao động, lao động thất nghiệp chiếm 5,8%; trình độ của nhân dân nông thôn phổ
biến còn thấp (tiểu học có 72%, phổ thông cơ sở có 16%, trung học phổ thông có 10%)
và có khoảng 10% lao động ở nông thôn được qua đào tạo tay nghề; tỷ lệ tăng dân số ở
nông thôn cao hơn thành thị.
Năm 2000 tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 6,6%, GDP đầu người tăng 1,65 lần so
với năm 1995 [53, tr. 12], cây lúa năng suất bình quân đạt 4,4 tấn/ha/vụ, kinh tế vườn tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm 10,41%/năm, chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng bình
quân 8,67%/năm [53, tr. 13].
quân đầu người thấp hơn so với mức bình quân cả nước [53, tr. 14].
Lao động xã hội có nguồn năng lực dồi dào nhưng phần lớn chưa qua đào tạo tay
nghề, chất lượng lao động thấp, lao động thiếu việc làm còn nhiều, nhất là ở nông thôn.
Văn hóa phẩm độc hại, các tệ nạn xã hội còn xảy ra một số nơi, phong trào thực hiện nếp
sống văn minh, gia đình văn hóa chưa đồng đều; thực hiện các chính sách xã hội, chính
sách đào tạo và sử dụng nhân lực chưa đồng bộ [53, tr. 14].
Về quốc phòng an ninh và thực thi pháp luật, việc thực hiện kế hoạch sẵn sàng
chiến đấu ở cơ sở có nơi bổ sung chậm, giáo dục ý thức quốc phòng chống tội phạm chưa
mạnh; công tác điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn sai sót [53, tr. 16].
Về công tác quần chúng còn một số cấp ủy và cơ quan chính quyền nhận thức
chưa đầy đủ quan điểm quần chúng và công tác vận động quần chúng của Đảng, thực hiện
"quy chế dân chủ ở cơ sở" còn nhiều hạn chế. Việc đổi mới nội dung và hình thức hoạt
động vẫn chưa theo kịp yêu cầu [53, tr. 17].
Công tác xây dựng Đảng, chính quyền còn một số đảng viên sa sút ý chí, phai
nhạt lý tưởng, một ít nơi nội bộ mất đoàn kết, trong 5 năm 1996-2000 xử lý kỷ luật 724
đảng viên. Công tác cải cách hành chính chậm, chất lượng sinh hoạt ở nhiều Đảng bộ
chưa cao; công tác quy hoạch cán bộ và kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ còn nhiều
vướng mắc về cơ chế chính sách và thiếu đồng bộ; cơ chế hoạt động giữa Đảng, chính
quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị, xã hội còn một vài đơn vị chưa xác định rõ về
chức năng, nhiệm vụ, nên công tác có lúc còn chồng chéo [53, tr. 18].
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VI tỉnh Đảng bộ Vĩnh Long đề ra, đòi
hỏi phải có sự phấn đấu nỗ lực của toàn hệ thống chính trị và nhân dân trong tỉnh, nhưng
các TCCSĐ nông thôn có vai trò vị trí quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết của
tỉnh Đảng bộ, để nhằm phát huy mặt làm được, khắc phục những mặt còn hạn chế, từng
bước nâng cao chất lượng lãnh đạo của các TCCSĐ nói chung và các TCCSĐ cấp xã ở
Vĩnh Long trong thời gian tới nói riêng.
1.2.2. Thực trạng chất lượng của các tổ chức cơ sở Đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh
Long
Bước vào giai đoạn mới Vĩnh Long có những thuận lợi: