LUẬN VĂN:Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng cấp xó ở tỉnh Vĩnh Long - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở
Đảng cấp xó ở tỉnh Vĩnh Long
hiện nay

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) cấp xã là cầu nối liền giữa Đảng với nhân dân, nơi
trực tiếp tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi nắm mọi tâm tư nguyện vọng và những yêu cầu
chính đáng của nhân dân, thực hiện đổi mới và phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội ở
nông thôn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) xây dựng nông thôn mới.
Từ khi đổi mới và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ
3 khóa VII và Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đến nay, chất lượng của tổ chức
cơ sở đảng nói chung - TCCSĐ ở nông thôn nói riêng được nâng lên về mọi mặt, TCCSĐ

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 1995.
- Khắc phục sự thoái hóa, biến chất của đảng viên trong công cuộc đổi mới ở
nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Xây dựng Đảng của Ngô Kim
Ngân, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 1996.
- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ nông thôn tỉnh
Long An hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Xây dựng Đảng của Nguyễn
Văn Dũng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2000.
Các bài nói, bài viết đã tạo tiền đề cho tác giả kế thừa về tư tưởng, nội dung và
phương pháp.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ
thống về "Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay".
Vì vậy, tác giả chọn vấn đề này làm đề tài luận văn của mình nhằm đáp ứng phần nhỏ sự
đòi hỏi đó.

3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Góp phần nâng cao chất lượng các Đảng bộ cấp xã tỉnh Vĩnh Long trong giai
đoạn cách mạng mới.
3.2. Nhiệm vụ
+ Làm rõ vị trí, vai trò của TCCSĐ nông thôn, từ đó khẳng định việc nâng cao
chất lượng TCCSĐ nông thôn là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, góp phần thắng lợi
của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
+ Phân tích thực trạng chất lượng của các Đảng bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long, xác
định rõ nguyên nhân của mặt mạnh, thiếu sót tồn tại trong công tác lãnh đạo của các
Đảng bộ trong thời gian từ năm 1996 đến nay.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để giải quyết một số vấn đề cấp thiết đang đặt ra
nhằm nâng cao chất lượng các Đảng bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long.
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các Đảng bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long. Thời gian nghiên cứu, khảo sát thực tế


1.1. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các Đảng bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh
Long
1.1.1. Vị trí, vai trò của các Đảng bộ cấp xã
Ngay từ những ngày đầu của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, vấn đề
TCCSĐ đã được C.Mác Ph.Ăngghen nhấn mạnh. C.Mác, Ph.Ăngghen là những người
đầu tiên đưa ra các tư tưởng, quan điểm về vị trí, vai trò của TCCSĐ; TCCSĐ là một bộ
phận cấu thành nên Đảng với vai trò là nền tảng của Đảng, bảo đảm cho Đảng là một
chỉnh thể thống nhất, không có TCCSĐ thì không có Đảng, sự vững chắc từ nền tảng của
Đảng để bảo đảm sự vững chắc của toàn Đảng.
Điều lệ Liên đoàn của những người Cộng sản xác định: "Về cơ cấu liên đoàn
gồm những chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban chấp hành Trung ương và Đại hội" [36, tr.
132].
Từ những kinh nghiệm của cuộc cách mạng 1848-1849, C.Mác - Ph.Ăngghen kết
luận:
Để khỏi một lần nữa bị tụt xuống làm vai trò của kẻ vỗ tay hoan
nghênh bọn dân chủ tư sản, công nhân và trước hết là Liên đoàn phải cố gắng
thành lập song song với phái dân chủ chính thức một tổ chức đảng riêng biệt,
bí mật và công khai của công nhân và biến mỗi chi bộ thành trung tâm và hạt
nhân của các hội Liên hiệp công nhân [37, tr. 348].
Như vậy, tuy C.Mác Ph.Ăngghen chưa dùng thuật ngữ TCCSĐ, song những tư
tưởng và quan điểm của hai ông về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của TCCSĐ đã được
nêu ra.

V.I. Lênin trung thành kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen về
Đảng trong quá trình xây dựng và lãnh đạo Đảng Bônsêvích Nga - Đảng kiểu mới của
giai cấp công nhân. Khi chuẩn bị thành lập Đảng dân chủ - xã hội Nga. V.I. Lênin đã chỉ
rõ: "Xây dựng các tiểu tổ, các nhóm cộng tác trong công nhân công xưởng, nhà máy ở
thành thị là nhiệm vụ đầu tiên và cấp bách của những người dân chủ xã hội" [29, tr. 557].
V.I. Lênin coi trọng TCCSĐ là nơi giáo dục, rèn luyện; phân công công tác, quản

động của mỗi cán bộ đảng viên và tổ chức Đảng trong lãnh đạo và xây dựng nội bộ.
Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về TCCSĐ, Đảng ta khẳng định:
TCCSĐ là khâu nối liền giữa Đảng với nhân dân, là nơi trực tiếp đưa đường lối, chính
sách của Đảng vào quần chúng, tuyên truyền, vận động, tập hợp, giáo dục, thuyết phục
quần chúng thấu hiểu sự đúng đắn của đường lối, chính sách ấy; chủ động tìm giải pháp
lãnh đạo, tổ chức quần chúng thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật
Nhà nước, chủ trương kế hoạch công tác của cấp trên, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo,
Đảng ta chỉ rõ: "Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những
kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà
hạt nhân lãnh đạo là TCCSĐ. Nhưng mặt khác, sự yếu kém của nhiều TCCSĐ đã hạn chế
những thành tựu của cách mạng" [8, tr. 141]. Như vậy, rõ ràng chất lượng của TCCSĐ là
yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với quá trình lãnh đạo cách
mạng. Trong mối quan hệ này, chất lượng của TCCSĐ là nguyên nhân quan trọng trực
tiếp, còn chất lượng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng tại cơ sở là kết quả và cũng
là chuẩn mực, thước đo để đánh giá chất lượng của TCCSĐ. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt
Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: "Tổ chức cơ sở Đảng (chi bộ
cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở" [23, tr. 31].
Khi cách mạng đã chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước, đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với TCCSĐ. Những quan điểm,

chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trên mọi lĩnh vực đời sống của xã hội, theo
hướng dân chủ hóa mở rộng phát huy vai trò sáng tạo, chủ động của đơn vị cơ sở, để khai
thác tốt mọi tiềm năng, lao động nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời tiếp tục
khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH mà Đảng và nhân dân
ta đã lựa chọn. Sự nghiệp đó càng đề cao vị trí, nền tảng của TCCSĐ trong hệ thống tổ
chức và trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi TCCSĐ phải thật sự là hạt nhân lãnh
đạo ở cơ sở. Với vị trí vai trò đó, TCCSĐ phải được nâng cao chất lượng trong hoạt động
của mình, bảo đảm cho công cuộc đổi mới được thực hiện trên thực tế ở đơn vị cơ sở;

Long là cấp trực tiếp hàng giờ, hàng ngày và thường xuyên, liên tục gắn bó với quần
chúng nhân dân, là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Chất lượng của TCCSĐ cơ sở ở tỉnh Vĩnh
Long không chỉ đảm bảo cho các Đảng bộ đạt được sự lãnh đạo của mình ở cơ sở mà còn
góp phần xây dựng tổ chức Đảng cấp trên vững mạnh. Song, hiệu quả lãnh đạo của các
TCCSĐ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội góp phần rất quan
trọng đến sự phát triển đồng bộ về mọi mặt ở tỉnh Vĩnh Long. Bởi vì, Vĩnh Long là tỉnh
nông nghiệp chiếm hơn 80%, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội. Do Vĩnh Long có sản lượng lương thực đứng thứ ba so với các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long, có nhiều tiềm năng trong nuôi trồng thủy sản, gia súc, gia cầm,
vườn cây ăn trái, cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Những tiềm năng sẵn có của Vĩnh
Long có được khai thác hiệu quả và giữ vững sự ổn định chính trị, xây dựng cuộc sống
mới hay không, điều ấy phụ thuộc vào chất lượng các TCCSĐ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long.
Do vậy, việc nâng cao chất lượng các TCCSĐ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long là nhằm bảo đảm
sự lãnh đạo của các TCCSĐ là cần thiết, cấp bách trong giai đoạn cách mạng mới về
trước mắt cũng như lâu dài trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc trên địa
bàn, góp phần thắng lợi vào công cuộc đổi mới ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả
nước.
1.1.2. Đặc điểm của các tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long
Vĩnh Long là tỉnh nằm trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, dân số 1.010.555
người, trong đó, người Kinh 978.893 người, người Khơ-me 20.204 người, còn lại là các

dân tộc khác. Tỉnh có 5 tôn giáo với 252.498 tín đồ sống xen kẽ ở các vùng nông thôn và
thành thị. Đảng viên là người dân tộc Khơ-me và có đạo chiếm khoảng 0,2% so với tổng
số đảng viên toàn tỉnh.
Hiện nay trình độ năng lực của đảng viên cấp xã đều được nâng cao lên về mọi
mặt, nhưng so với yêu cầu và nhiệm vụ mới chưa đáp ứng ngang tầm; đảng viên người
dân tộc, đảng viên có đạo trình độ năng lực, hiểu biết về chính trị còn nhiều hạn chế so
với đảng viên người Kinh, nhưng đảng viên người dân tộc và đảng viên có đạo là những
người đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục người dân tộc, tín đồ
hiểu và làm theo chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước dễ hơn

nghiệp toàn diện, xây dựng đời sống văn hóa mới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân, khơi dậy các phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân thực hiện tốt
quyền lợi và nghĩa vụ đối với công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc tại địa
phương cơ sở. Mặt khác, hoạt động lãnh đạo của các đảng bộ cấp xã còn phải tiến hành
các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng để nhằm nâng cao chất lượng chính bản thân mình,
góp phần nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng. Do đó, công tác xây
dựng chính bản thân của các Đảng bộ cấp xã là khâu quan trọng trong công tác xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và các mặt công tác khác.
Trên cơ sở chức năng cơ bản và căn cứ vào yêu cầu lãnh đạo của Đảng bộ trong
tình hình mới, các Đảng bộ cấp xã cần thực hiện đúng các nhiệm vụ mà Đảng ta đã xác
định trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: "Tất cả
các Đảng bộ, chi bộ đều phải phấn đấu thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo
chính trị ở cơ sở" [22, tr. 55], vì vậy các TCCSĐ cần thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Xác định chủ trương, nhiệm vụ về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh quốc phòng và lãnh đạo các chủ trương nhiệm vụ đó ở nông thôn.

Lãnh đạo xây dựng và thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đẩy mạnh CNH,
HĐH; phát triển nông thôn, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Chuyển
đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho thích hợp với tiềm năng, thế mạnh của
từng địa bàn cơ sở, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sự nghiệp văn hóa,
giáo dục, y tế, thông tin, dân số kế hoạch hóa gia đình; thực hiện tốt các chính sách xã
hội, tăng hộ giàu, xóa hộ đói, giảm hộ nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân; động viên nhân dân hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước, xây dựng nông thôn
giàu đẹp, văn minh.
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn, nhằm phát
huy vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, thực hiện công khai về tài
chính và phân phối, chống tham nhũng, hà lạm công quỹ, ức hiếp nhân dân, lấn chiếm
ruộng đất, cho vay nặng lãi
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ quốc phòng an toàn xã

Lãnh đạo các đoàn thể nhân dân là thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo điều lệ
của mỗi đoàn thể, phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân thi đua thực hiện có
hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
Lãnh đạo các đoàn thể đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, mở rộng các
hình thức tập hợp quần chúng. Lãnh đạo các đoàn thể và tầng lớp nhân dân tham gia xây
dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, trước
hết là những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Thứ năm: Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh.
Đề ra những chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong
sạch vững mạnh; sắp xếp các tổ chức Đảng, thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và

sinh hoạt Đảng, duy trì thường xuyên nề nếp sinh hoạt Đảng, tự phê và phê bình, thực
hiện tốt các nội dung của công tác đảng viên, tổ chức và kiểm tra việc học tập nâng cao
trình độ của đảng viên, chăm lo tạo nguồn phát triển Đảng, xây dựng cấp ủy và bí thư cấp
ủy có đủ phẩm chất, năng lực, là người tiêu biểu của Đảng bộ, được đảng viên và nhân
dân tín nhiệm. Kiểm tra các chi bộ và đảng viên thực hiện đường lối của Đảng, nghị
quyết của cấp trên và của TCCSĐ, chấp hành điều lệ Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước.
Các nhiệm vụ nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ và không mâu thuẫn với nhau,
thể hiện đầy đủ chức năng của các Đảng bộ cấp xã; đòi hỏi các Đảng bộ nói chung, các
Đảng bộ cấp xã ở Vĩnh Long nói riêng cần thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ trên.
1.1.4. Quan niệm và những tiêu chí để đánh giá chất lượng các tổ chức cơ sở
đảng cấp xã
1.1.4.1. Quan niệm về chất lượng của các TCCSĐ cấp xã
Trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, ở từng loại hình TCCSĐ
có những đặc điểm khác nhau, song khi nói đến chất lượng TCCSĐ cần phải đề cập một
cách đồng bộ, toàn diện trên hai lĩnh vực là vai trò lãnh đạo và công tác xây dựng nội bộ
Đảng của TCCSĐ. Bởi lẽ, trong hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở thì
các TCCSĐ có vai trò đặc biệt quan trọng, vì chất lượng của TCCSĐ là yếu tố tạo nên
chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng và uy tín của Đảng với nhân

nhân dân, tham nhũng, buôn lậu, xa hoa lãng phí trên cơ sở đó phải lãnh đạo hoàn
thành các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng đã được đề ra của từng
Đảng bộ và thực hiện có hiệu quả, thiết thực công tác xây dựng Đảng theo điều lệ Đảng
quy định.
Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã đề ra phương
châm chỉ đạo đổi mới và chỉnh đốn Đảng ở cơ sở: "Lấy yêu cầu chất lượng là chính, lấy
kết quả phát triển kinh tế, xã hội làm mục tiêu và thước đo chủ yếu" [14, tr. 54].

1.1.4.2. Những tiêu chí để đánh giá việc nâng cao chất lượng các TCCSĐ cấp

Từ cơ sở quan niệm về chất lượng các TCCSĐ cấp xã nêu trên, những tiêu chí
đánh giá việc nâng cao chất lượng các TCCSĐ cấp xã có thể đưa ra các nội dung sau:
- Lãnh đạo hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế, xã hội.
Quán triệt và thực hiện đường lối CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn của
Đảng, lãnh đạo và thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng CNH, HĐH: Phát triển nông nghiệp toàn diện, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng trưởng kinh tế đạt và vượt hàng năm theo
chỉ tiêu đề ra, thu nhập đầu người ngày càng tăng, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn,
phục vụ cho sản xuất và đời sống, phát huy vai trò kinh tế hợp tác ở nông thôn.
Hoàn thành nghĩa vụ của cơ sở đối với nhà nước, các chỉ tiêu thu thuế, trả nợ và
các nghĩa vụ khác.
Thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tạo thêm ngành nghề, giải quyết việc
làm cho người lao động theo kế hoạch của Đảng bộ. Phát triển sự nghiệp văn hóa, xây
dựng đời sống văn hóa mới, dân chủ công bằng, văn minh, gia đình hạnh phúc; giáo dục
đấu tranh ngăn chặn và bài trừ có hiệu quả các tệ nạn xã hội, thực hiện các chỉ tiêu về kế
hoạch hóa gia đình.
Thực hiện xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học theo quy định của Nhà nước.
Có nhà trẻ, lớp mẫu giáo, có đủ trường học bảo đảm cho các cháu đến độ tuổi đều được
đến trường học.
Cơ sở y tế, thực hiện các chương trình y tế cộng đồng, bảo đảm phòng, chống

đảm khách quan, chính xác; kiểm tra đảng viên chấp hành điều lệ Đảng và pháp luật của
Nhà nước, xử lý nghiêm minh những đảng viên vi phạm, đưa những người không đủ tư

cách đảng viên ra khỏi Đảng; chủ động tạo nguồn và làm tốt công tác kết nạp đảng viên
mới có chất lượng tốt.
1.2. Thực trạng - nguyên nhân - những kinh nghiệm và yêu cầu mới đặt ra
đối với các tổ chức cơ sở Đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long
1.2.1. Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở tỉnh Vĩnh Long
Vĩnh Long là một trong 12 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa hai
nhánh chính của sông Cửu Long (sông Tiền và sông Hậu); phía Bắc giáp sông Tiền, phía
Đông giáp hai tỉnh Bến Tre và Trà Vinh, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ, phía Tây giáp tỉnh
Đồng Tháp.
Vĩnh Long không có biển và núi đồi, địa hình chia cắt bởi nhiều sông rạch, có cù
lao An Bình, Bình Hòa Phước, Đông Phú, Quới Thiện.
Tên Vĩnh Long ra đời khá sớm trong lịch sử khẩn hoang Nam Bộ (năm 1698).
Hiện nay Vĩnh Long có 6 huyện, 1 thị xã, 6 thị trấn, 7 phường, 94 xã, 734 ấp, khóm. Diện
tích tự nhiên 148.738 ha, dân số 1.010.555 người, trong đó số người sống ở nông thôn
chiếm 85,33%, số người ở thành thị 14,67%, mật độ dân số 764 người/km
2
. Các thành
phần dân tộc sinh sống: dân tộc Kinh 978.893 người, chiếm tỷ lệ 97,40%; dân tộc Khơ-
me 20.204 người, chiếm tỷ lệ 2,01%, dân tộc Hoa 5.710 người chiếm tỷ lệ 0,56%, số còn
lại các dân tộc khác 223 người chiếm 0,3%; các tín đồ tôn giáo có 252.498 người, chủ
yếu tín đồ Phật giáo có 167.973 người; tín đồ Công giáo 36.752 người, tín đồ Tin lành
3.028 người, còn lại các tôn giáo khác; không tôn giáo 752.299 người.
Vĩnh Long là tỉnh sản xuất nông nghiệp, lao động trong độ tuổi chiếm 59% trên
tổng số dân trong đó lao động nông nghiệp chiếm 71%, và mới đạt khoảng 60% quỹ thời
gian lao động, lao động thất nghiệp chiếm 5,8%; trình độ của nhân dân nông thôn phổ
biến còn thấp (tiểu học có 72%, phổ thông cơ sở có 16%, trung học phổ thông có 10%)
và có khoảng 10% lao động ở nông thôn được qua đào tạo tay nghề; tỷ lệ tăng dân số ở


Bên cạnh những thành tựu kinh tế - xã hội nêu trên, nông thôn Vĩnh Long còn
một số yếu kém khuyết điểm, nền kinh tế vẫn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chuyển
hướng sản xuất hàng hóa chậm, hiệu quả chưa cao, nền kinh tế tăng trưởng thiếu vững
chắc, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế chưa cao, chất lượng cạnh tranh kém; hầu
hết các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế không đạt so với Nghị quyết Đại hội VI, GDP bình
quân đầu người thấp hơn so với mức bình quân cả nước [53, tr. 14].
Lao động xã hội có nguồn năng lực dồi dào nhưng phần lớn chưa qua đào tạo tay
nghề, chất lượng lao động thấp, lao động thiếu việc làm còn nhiều, nhất là ở nông thôn.
Văn hóa phẩm độc hại, các tệ nạn xã hội còn xảy ra một số nơi, phong trào thực hiện nếp
sống văn minh, gia đình văn hóa chưa đồng đều; thực hiện các chính sách xã hội, chính
sách đào tạo và sử dụng nhân lực chưa đồng bộ [53, tr. 14].
Về quốc phòng an ninh và thực thi pháp luật, việc thực hiện kế hoạch sẵn sàng
chiến đấu ở cơ sở có nơi bổ sung chậm, giáo dục ý thức quốc phòng chống tội phạm chưa
mạnh; công tác điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn sai sót [53, tr. 16].
Về công tác quần chúng còn một số cấp ủy và cơ quan chính quyền nhận thức
chưa đầy đủ quan điểm quần chúng và công tác vận động quần chúng của Đảng, thực hiện
"quy chế dân chủ ở cơ sở" còn nhiều hạn chế. Việc đổi mới nội dung và hình thức hoạt
động vẫn chưa theo kịp yêu cầu [53, tr. 17].
Công tác xây dựng Đảng, chính quyền còn một số đảng viên sa sút ý chí, phai
nhạt lý tưởng, một ít nơi nội bộ mất đoàn kết, trong 5 năm 1996-2000 xử lý kỷ luật 724
đảng viên. Công tác cải cách hành chính chậm, chất lượng sinh hoạt ở nhiều Đảng bộ
chưa cao; công tác quy hoạch cán bộ và kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ còn nhiều
vướng mắc về cơ chế chính sách và thiếu đồng bộ; cơ chế hoạt động giữa Đảng, chính
quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị, xã hội còn một vài đơn vị chưa xác định rõ về
chức năng, nhiệm vụ, nên công tác có lúc còn chồng chéo [53, tr. 18].
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VI tỉnh Đảng bộ Vĩnh Long đề ra, đòi
hỏi phải có sự phấn đấu nỗ lực của toàn hệ thống chính trị và nhân dân trong tỉnh, nhưng
các TCCSĐ nông thôn có vai trò vị trí quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết của


kinh tế chuyển dịch chậm, tỷ trọng nông nghiệp còn lớn, công nghiệp chưa thật sự trở
thành động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Công nghệ sản xuất phần lớn
lạc hậu; chất lượng, tính cạnh tranh và thị trường tiêu thụ hàng hóa, nhất là hàng nông sản
còn nhiều khó khăn.
- Đất hẹp, người đông, tài nguyên, khoáng sản ít. Lực lượng lao động dồi dào
nhưng phần lớn chưa qua đào tạo nghề, tỷ lệ lao động thiếu việc làm còn cao. Khả năng
tích lũy của nền kinh tế kém; thu nhập bình quân đầu người đang tiếp tục giảm dần so với
bình quân của cả nước, hạn chế cho quá trình tích lũy và đầu tư cho sản xuất.
- Cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu
CNH, HĐH và khả năng đối tác với các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
- Trong những năm qua các Đảng bộ cấp xã ở Vĩnh Long đã kiên định mục tiêu,
con đường đi lên CNXH mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, nhất quán với
đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Các Đảng bộ đã quán triệt các
quan điểm, nguyên tắc của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước, từng bước khắc phục
khó khăn, năng động, sáng tạo, từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo của các Đảng
bộ đối với chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở, đẩy mạnh sự nghiệp
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; đồng thời làm tốt công tác vận động nhân dân, đoàn
kết dân tộc, lương, giáo, đẩy mạnh phát triển kinh tế, ổn định và nâng cao đời sống nhân
dân. Thực hiện tốt phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ
then chốt.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) về đổi mới chỉnh đốn Đảng và kế
hoạch 02/KH-TU của Tỉnh ủy về xây dựng xã, phường vững mạnh, trong những năm
qua, các TCCSĐ nông thôn Vĩnh Long, đã được tỉnh ủy và các huyện ủy tập trung củng
cố các TCCSĐ, nhất là các Đảng bộ yếu kém kéo dài, đồng thời khen thưởng các Đảng
bộ trong sạch vững mạnh toàn diện để làm gương cho các Đảng bộ khác học tập trong

quá trình lãnh đạo của mình. Các huyện ủy đã triển khai cho các Đảng bộ xây dựng và
thực hiện quy chế làm việc, đổi mới phương pháp làm việc của cấp ủy, phân tích chất
lượng các TCCSĐ và cán bộ, đảng viên, kiện toàn tổ chức từ tỉnh đến cơ sở. Với cách
làm đó mà chất lượng của các Đảng bộ xã được nâng lên, lãnh đạo hoàn thành các nhiệm

 2000: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 1; khá 3; yếu kém 0.
+ Huyện Vũng Liêm:
 1997: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 7; khá 11; yếu kém 1.
1998: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 9; khá 10; yếu kém 0.
 1999: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 10; khá 9; yếu kém 0.
 2000: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 9; khá 10; yếu kém 0.
+ Huyện Tam Bình:
 1997: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 7; khá 9; yếu kém 0.
1998: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 8; khá 8; yếu kém 0.
 1999: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 10; khá 6; yếu kém 0.
 2000: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 11; khá 5; yếu kém 0.
+ Huyện Bình Minh:
 1997: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 8; khá 8; yếu kém 0.
1998: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 9; khá 7; yếu kém 0.
 1999: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 9; khá 7; yếu kém 0.
 2000: TCCSĐ trong sạch vững mạnh 12; khá 4; yếu kém 0.

Trích đoạn Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước tiên là đội ngũ cán bộ chủ chốt Kiện toàn các cấp ủy Đảng Củng cố tổ chức nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng bộ cấp xã đối với hệ thống chính trị ở cơ sở, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, động viên trách nhiệm của Tăng cường đoàn kết thống nhất trong đảng bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status