Chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước ở đảng bộ tổng công ty xây dựng sài gòn hiện nay thực trạng và giải quyết - Pdf 28

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Những năm qua, các tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà
nước đã phát huy vai trò của mình trong việc lãnh đạo các doanh nghiệp hoàn
thành nhiệm vụ. Qua hoạt động sản xuất, kinh doanh trong cơ chế thị trường
định hướng XHCN, nhiều tổ chức cơ sở đảng cũng như cán bộ, đảng viên đã
trưởng thành vượt bậc về mọi mặt, tỏ rõ tính tiên phong trong mặt trận kinh
tế.
Tuy nhiên, gần 20 năm đổi mới đất nước, Đảng đã đề ra và lãnh đạo thực
hiện nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt
động của các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước đã vượt
qua nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát triển, đã góp phần quan
trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.
Doanh nghiệp nhà nước chủ yếu là các cơ sở sản xuất công nghiệp, hoạt động
sản xuất kinh doanh dịch vụ, đồng thời có vai trò rất quan trọng trong việc
xây dựng, nâng cao chất lượng giai cấp công nhân Việt Nam.
Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước đang quản lý và sử dụng một khối
lượng tài sản to lớn của nhân dân, chi phối các ngaønh, các lĩnh vực then chốt
của nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước ngày càng thích ứng với cơ chế thị
trường định hướng XHCN, năng lực sản xuất tiếp tục được tăng cường, cơ
cấu ngày càng hợp lý hơn, trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ,
hiệu quả cạnh tranh từng bước nâng lên, bảo đảm việc làm và đời sống cho
hàng triệu người lao động.
Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước cũng còn những hạn chế, yếu kém
như : quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật sự tập trung vào
những ngành, lĩnh vực then chốt kết quả kinh doanh chưa tương xứng với
nguồn lực đã có, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, lao động thiếu việc làm,
dôi dư còn lớn. Nhiều doanh nghiệp đang đứng trước những thách thức gay
gắt, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới, phát triển, nhất là trong xu thế của hội nhập
kinh tế quốc tế.
Tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước là một loại hình

Đảng ta đã đề ra Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII (tháng 6-1992),
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII (ngày 2/2/1999) về xây dựng và
2
chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết Trung ương 3 – khóa IX (ngày 24/9/2001) về
tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Các đồng chí lãnh đạo Đảng có những bài viết và bài phát biểu mang tính
định hướng và chỉ đạo rất quan trọng trong việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng
nói chung và tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước nói riêng.
Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu chung quanh vấn đề
nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng như :
- "Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn ở đồng bằng sông
Hồng"; luận án tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Xây dựng Đảng của tác giả Đỗ
Ngọc Ninh – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1995.
- “Khắc phục sự thoái hóa biến chất của đảng viên trong công cuộc đổi
mới ở nước ta hiện nay”, luận án tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Xây dựng
Đảng của tác giả Ngô Kim Ngân, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 1996.
-“Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long hiện
nay”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng của Nguyễn Văn Bé Tư,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
-“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
ở các đơn vị sản xuất kinh doanh (không có vốn đầu tư nước ngoài) thuộc
Tổng Công ty dầu khí Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, thực trạng và giải pháp”, luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng của Hà Huy Dĩnh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2003.
-“ Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà
nước ở khu công nghiệp Biên Hòa I trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng của Nguyễn Thị Lệ
Hồng. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000.

đoạn mới.
- Nêu lên và phân tích thực trạng, chất lượng của các đảng bộ, chi bộ cơ
sở trong doanh nghiệp ở Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn, xác định rõ
nguyên nhân của mặt mạnh, của những thiếu sót trong hoạt động lãnh đạo của
đảng bộ, chi bộ cơ sở của Tổng Công ty từ năm 2000 đến năm 2004.
- Làm rõ những yêu cầu mới về nâng cao chất lượng của các tổ chức cơ
sở đảng, trên cơ sở đó nêu lên phương hướng và đề xuất một số giải pháp chủ
yếu để giải quyết một số vấn đề cấp thiết đang đặt ra nhằm nâng cao chất
lượng các đảng bộ, chi bộ cơ sở tại các doanh nghiệp ở Đảng bộ Tổng Công
ty Xây dựng Sài Gòn hiện nay.
4
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các đảng bộ, chi bộ cơ sở trong doanh nghiệp nhà nước ở Đảng bộ Tổng
Công ty Xây dựng Sài Gòn; phạm vi thời gian nghiên cứu, khảo sát thực tế là
từ năm 2000 đến nay.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng tổ chức cơ sở đảng.
- Các quan điểm của Đảng thể hiện trong các văn kiện của Đảng Cộng
sản Việt Nam, của Đảng bộ TP.Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung và
tổ chức cơ sở đảng nói riêng.
- Các báo cáo tổng kết chuyên đề, đề tài khoa học.
- Thực tiễn xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà
nước nói chung và các doanh nghiệp nhà nước ở Tổng Công ty Xây dựng Sài
Gòn nói riêng từ năm 2000 đến nay.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử với phương pháp lôgíc, phương pháp
điều tra, khảo sát thực tế, xử lý số liệu thống kê, tổng hợp, kết hợp giữa lý luận với
thực tiễn, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn.

thuộc, trong đó có 3 nhà máy:
- Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng NAVIFICO chuyên sản xuất tấm
lợp, vách ngăn Fibro xi măng.
- Nhà máy sản xuất gạch ngói Long Bình chuyên sản xuất các loại gạch
4 lỗ, gạch đinh, gạch block và một số sản phẩm khác thuộc ngành sứ nung cao
cấp.
- Nhà máy sản xuất xi măng P2000 và vữa xây tô, cùng một số cơ sở xí
nghiệp nằm ở huyện Thủ Đức.
Xét về công nghệ sản xuất, cả 3 nhà máy này đều tiếp thu từ ngày giải
phóng, không đầu tư để nâng cấp và sửa chữa kịp thời các hư hao nên hiệu
quả sản xuất thấp.
Moät số đơn vị khác của Tổng Công ty là những Công ty mà hoạt động
chủ yếu là thiết kế công trình, thi công xây lắp, đó là :
- Công ty xây dựng số I (COFICO), có trụ sở chính ở số 108 Cao Thắng,
Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty xây dựng số III (COSECO), có trụ sở chính ở số 553 Xô Viết –
Nghệ Tĩnh, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty xây dựng Sài Gòn (COSACO), có trụ sở chính ở số 5, Nguyễn
Siêu, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty Xây lắp Dầu khí (PECCO), có trụ sở chính tại số105/7 C Điện
Biên Phủ, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty Sài Gòn Trang trí và xây dựng (SAPECO), có trụ sở chính tại
số 40 Lý Chính Thắng, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
7
- Công ty Cơ khí Xây dựng (COMECO), có trụ sở chính tại số 447, Điện
Biên Phủ, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty Xây dựng Điện (SECMC), có trụ sở số 62 Nguyễn Đình
Chiểu, Quận I.
- Công ty san nền và hạ tầng ở Kỳ Đồng, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng Công ty chỉ hoạt động như là một cơ quan tổng hợp, các số liệu từ

ty Xây dựng điện, Công ty san nền và hạ tầng.
Đứng trước tình hình cạnh tranh gay gắt và quyết liệt buộc cán bộ quản
lý của Tổng Công ty nói riêng, các đơn vị thành viên trong Tổng Công ty nói
chung phải nhanh chóng đổi mới cách làm ăn, suy nghĩ phải năng động để
thích nghi với thị trường mới, phải thực sự là cán bộ hiểu biết và giỏi về năng
lực chuyên môn, vững về chính trị.
Các cán bộ quản lý của Tổng Công ty tự hào rằng : Công ty là một doanh
nghiệp nhà nước. Phải khẳng định vị trí của Tổng Công ty trong thành phố là
một doanh nghiệp nhà nước về xây dựng, nó thực hiện vai trò chủ đạo, để
thực hiện tất cả các công tác về xây dựng của thành phố nói riêng, cả nước nói
chung. Khi nó thể hiện đúng vai trò của mình, điều đó có nghĩa là bảo đảm
cho sự lãnh đạo của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh và của Đảng ủy Tổng
Công ty được tốt hơn. Ngoài sự nỗ lực bản thân của cán bộ quản lý Tổng
Công ty, thì lãnh đạo của UBND thành phố cũng phải quan tâm sâu sát đến tổ
chức của Tổng Công ty, phải xem Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn là “con
ruột” của mình. Thành phố phải củng cổ, ổn định về mặt tổ chức, để vực dậy
và đưa Tổng Công ty phát triển ổn định, lâu dài.
Nhằm đáp ứng yêu cầu bức bách đó, ngày 30/12/1996 Tổng Công ty Xây
dựng Sài Gòn “mới” ra đời.
1.1.1.2. Quá trình hoạt động từ 30/12/1996 đến nay
Vaøo ngày 30/12/1996, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định
số : 6211/QĐ-UB-K7 thành lập Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn (căn cứ
Quyết định số 90/TTg ngày 09/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, về việc tiếp
tục sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, nên còn gọi là “Tổng Công ty 90”.
Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn có tên giao dịch đối ngoại là Saigon
General Construction Company (viết tắt là SAGECO).
Với tổng nguồn vốn Nhà nước giao (tại thời điểm 31/12/1995 là 126 tỷ
934 triệu đồng Việt Nam, (trong đó vốn đưa vào tham gia liên doanh là 68 tỷ
234 đồng Việt Nam). Trong đó :
Vốn cố định : 84 tỷ 38 triệu đồng Việt Nam.

- Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng : kinh doanh địa ốc, kinh doanh
đa ngành theo quy định của pháp luật.
Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn có các đơn vị thành viên là doanh
nghiệp nhaø nước hạch toán độc lập, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, các
đơn vị thành viên có đủ tư cách pháp nhân, có con dấu, có trụ sở được mở tài
10
khoản tại Ngân hàng phù hợp với phương thức hạch toán được quy định tại
Điều lệ Tổng Công ty và điều lệ riêng của mỗi Công ty. Các đơn vị thuộc
Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn theo Quyết định 6211/QĐ-UB-K7 gồm có
20 đơn vị, đó là :
1. Công ty Xây dựng số 1 (COFICO).
2. Công ty Xây dựng số 2 (COSECO).
3. Công ty Xây dựng số 3 (CONARCO)
4. Công ty xây lắp dầu khí (PECCO)
5. Công ty Sài Gòn Xây dựng (COSACO)
6. Công ty Xây dựng Điện (SECM) (sau này đổi thành Công ty xây dựng
số 4).
7. Công ty san nền và xây dựng hạ tầng.
8. Xí nghiệp Sài Gòn trang trí xây dựng (SADECO)
9. Công ty gạch ngói Long Bình (SATIC)
10. Công ty xây lắp công nghiệp (SA&E).
11. Công ty xây lắp nông nghiệp (EXPLABCO).
12. Công ty tư vấn kiến trúc và xây dựng (ACCCO)
13. Công ty xây dựng và trang trí nội thất (CODECO)
14. Công ty xây dựng và phát triển kinh tế Quận 6 (SICEDCO)
15. Công ty kỹ thuật xây dựng Quận Phú Nhuận (PHUNHUAN TECO)
16. Xí nghiệp dịch vụ trang trí nội thất Sài Gòn (ZSASCIDDE)
17. Công ty tư vấn quy hoạch xây dựng và dịch vụ phát triển đô thị (CPCCO).
18. Công ty xây dựng dân dụng và công nghiệp (ICC).
19. Công ty cơ khí xây dựng (COMECO).

Công ty nhận thầu và trúng thầu một số công trình lớn ở thành phố Hồ Chí
Minh và các tỉnh khác. Thị trường được mở rộng không chỉ trong nước mà
còn ở một số nước như Lào, Campuchia…, sản phẩm vật liệu xây dựng
không những được tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước Đông
Nam Á. Tính đến năm 2000, kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty
đạt như sau :
- Giá trị sản lượng : Thực hiện được trong năm 800 tỷ 531 triệu đồng.
+ Trong đó xây lắp : 594 tỷ 643 triệu đồng
+ Đầu tư phát triển : 144 tỷ 152 triệu đồng
+ Sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng : 37 tỷ 288 triệu đồng
+ Thiết kế tư vấn : 19 tỷ 308 triệu đồng
- Và tại thời điểm đầu năm 2000, số vốn toàn Tổng Công ty do tự cân
đối và huy động, sáp nhập đã nâng lên 268 tỷ 379 triệu đồng, trong đó:
+ Vốn sản xuất kinh doanh : 252 tỷ 379 triệu đồng
+ Vốn lưu động : 32 tỷ 478 triệu đồng
12
+ Voán đầu tư xây dựng cơ bản : 4 tỷ 542 triệu đồng
- Quỹ phát triển kinh doanh : 9 tỷ 842 triệu đồng.
- Quỹ dự phòng : 2 tỷ đồng
+ Trong đó tổng lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh : 11 tỷ đồng
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đạt : 1,65%
- Các khoản thuế nộp cho Nhà nước : 33 tỷ 674 triệu đồng.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX và Nghị quyết 02/NQ-TU
ngày 16/10/2001 của Thành ủy về tiếp tục sắp xếp đổi mới nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp nhà nước, UBND thành phố Hồ Chí Minh có đề án kế hoạch số
1416/UB-CNV ngày 06/5/2002 về sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước
của thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến 2005, trong đó: Sắp xếp lại 7
Tổng Công ty hiện có theo hướng giảm về số lượng, tăng về quy mô, hoạt
động đa ngành và có ngành chuyên sâu, điều chỉnh lại các đơn vị thành viên
trực thuộc Tổng Công ty nhằm tạo sự liên kết và hỗ trợ về sản xuất kinh

19/- Công ty Xây lắp công nghiệp (SA&E)
20/- Công ty cổ phần sản xuất - thương mại - xây dựng Long Bình (cổ phần)
21/- Công ty Cổ phần Xi măng Sài Gòn (cổ phần)
22/- Công ty Cổ phần Nam Việt (cổ phần)
23/- Công ty Cổ phần Sài Gòn đầu tư kỹ thuật - xây dựng (cổ phần)
24/- Công ty Khách sạn GRAND IMPERIAL
25/- Công ty Liên doanh khí đốt Sài Gòn
26/- Công ty liên doanh bình khí đốt
27/- Công ty Xây dựng CAMPENON SAIGON TNHH
28/- Công ty liên doanh cao ốc Sài Gòn
29/- Công ty liên doanh Thuận Việt
30/- Công ty phát triển căn hộ hướng công viên
1.1.2. Vị trí, vai trò của các tổ chức cơ sở Đảng trong doanh nghiệp
nhà nước ở Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn
C.Mác. Ph.Ănghen là những người đầu tiên đưa ra tư tưởng, quan điểm
về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng. Trong “Điều lệ của Liên doàn những
người Cộng sản” có nêu: Các chi bộ của “Liên đoàn” được thành lập dưới
hình thức các hội bí mật trong các hiệp hội công nhân. “Chi bộ” gồm ít nhất là
03 và nhiều nhất là 20 hội viên [28, tr.494]. “Về cơ cấu – Liên đoàn bao gồm
những chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ Ban chấp hành Trung ương và Đại hội”
[23, tr.494]. Như vậy, tổ chức cơ sở đảng là một bộ phận cấu thành nên Đảng,
không có tổ chức cơ sở đảng thì không có Đảng, sự vững chắc từ nền tảng của
Đảng là đảm bảo cho sự vững chắc của toàn Đảng.
14
Trong điều kiện “Liên đoàn những người cộng sản” chuyển từ hoạt động
bí mật sang hoạt động công khai, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển tư
tưởng của mình về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở, chỉ rõ sự mơ hồ của phần
lớn đảng viên trong bước chuyển đổi ấy. Nhiệm vụ mà hai ông đề ra lúc này
là phải tổ chức lại “Liên đoàn” làm cho Đảng công nhân phải hành động sao
cho có tổ chức nhất, thống nhất và độc lập nhất. Đặc biệt quan trọng là củng

Đảng, mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng lao động, là một nhân tố chính trị
của tập thể lao động, giáo dục và dẫn dắt quần chúng thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng.
Những tư tưởng, quan điểm của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng
Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng, phát triển, đặc biệt là
về xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngay từ
khi mới ra đời, Đảng ta đã khẳng định :“Căn bản tổ chức của Đảng là chi boä
“ [8, tr.211]. Tại thời điểm 1930, Đảng đã chỉ đạo “Các chi bộ công xưởng và
xưởng chế tạo là cơ sở của Đảng trong các thành phố và trung tâm công
nghiệp. Không có những chi bộ đó làm cơ sở thì chúng ta không thể tiến lên về
mặt tổ chức hay giành được quần chúng, điều đó có nghĩa là chúng ta không thể
mảy may tổ chức và lãnh đạo cách mạng” [8, tr.225]. Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ III của Đảng đã khẳng định : “Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của
Đảng” [7, tr.140]. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập, tổ chức, giáo dục
và rèn luyện Đảng ta đã khẳng định :“Chi bộ nền móng của Đảng, chi bộ tốt
thì mọi việc sẽ tốt” [36, tr.210]. Người còn dạy rằng :“Để lãnh đạo cách
mạng, Đảng phải mạnh. Đảng maïnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do đảng
viên đều tốt” [52, tr.92]. Người luôn nhắc nhở rằng phải :“Xây dựng chi bộ
cho tốt, cho vững mạnh là một việc vô cùng quan trọng” [36, tr.77]. Luận
điểm đó của Người đã trở thành phương châm hành động của mỗi cán bộ,
đảng viên và tổ chức đảng trong lãnh đạo và xây dựng nội bộ.
Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng
định :“Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của
Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở “[15, tr.31]. Sự khẳng định này mang ý
nghĩa vừa là vị trí, vai trò, vừa là chức năng của tổ chức cơ sở đảng, là sự khái
quát hóa trong cả quá trình nhận thức về lý luận và thực tiễn. Quán triệt tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức cơ sở đảng, Đảng ta còn khẳng
định : Tổ chức cơ sở đảng là khâu nối liền giữa Đảng vơí nhân dân, là nơi trực
tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng vào quần chúng, tuyên truyền, vận
động, tập hợp, giáo dục, thuyết phục quần chúng thấu hiểu sự đúng đắn của

Ngược lại các tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh thì những đơn vị
đó hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiêụ quả cao, nâng cao đời sống công
nhân, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, giữ vững định hướng XHCN.
Các đơn vị sản xuất, kinh doanh thuộc Tổng Công ty Xây dựng Sài
Gòn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, với sự phát triển của
đất nước theo định hướng XHCN. Tuy nhiên, để các đơn vị này xứng đáng
17
làm tốt vai trò ấy chỉ khi được các cấp ủy Đảng lãnh đạo, đề ra đường lối,
chủ trương đúng đắn phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và tổ chức thực
hiện đường lối ấy trong đó có chủ trương, giải pháp xây dựng và phát triển
các đơn vị của ngành mình, đơn vị mình. Sự lãnh đạo của các đảng bộ, chi
bộ là đảm bảo cho mọi hoạt động của đơn vị từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh, hoạt động xây dựng doanh nghiệp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công
nhaân viên chức đến các hoạt động của đoàn thể quần chúng trong đơn vị
theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng; Đảng bộ, chi bộ trong các đơn
vị thuộc Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn là hạt nhân lãnh đạo mọi hoạt
động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không can thiệp sâu vào hoạt động sản
xuất, kinh doanh cũng như các hoạt động khác của doanh nghiệp, song
đảng bộ, chi bộ phải định hướng chính trị cho các hoạt động đo theo đúng
đường lối quan điểm của Đảng và phải kiểm tra uốn nắn kịp thời những
lệch lạc. Mọi hoạt động của đơn vị mà trái với đường lối của Đảng thì
trước hết đảng bộ, chi bộ phải chịu trách nhiệm trước Đảng.
Là hạt nhân chính trị lãnh đạo tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp
nhà nước ở Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn, đảng bộ, chi bộ trong các doanh
nghiệp cùng với việc lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước cần đặc biệt coi trọng làm cho doanh nghiệp góp
phần phát huy vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị
trường XHCN và nâng cao đời sống công nhân – viên chức, xây dựng, rèn
luyện đội ngũ công nhân-viên chức-lao động phaùt huy vai trò tích cực, sáng
tạo trong mọi hoạt động của đơn vị.

ninh, quốc phòng của doanh nghiệp bao gồm:
- Tham gia xây dựng, lãnh đạo, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp đúng đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần cho cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động trong doanh nghiệp.
- Lãnh đạo xây dựng và thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở ở doanh
nghiệp, thực hiện quyền làm chủ của công nhân viên chức, đấu tranh chống
quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực, nhất là trong hợp
đồng liên doanh, liên kết, xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị vật tư, thực hiện
công khai về tài chính, phân phối lợi nhuận, trả lương, trả thưởng một cách
công bằng, hợp lý; thực hiện công bằng xã hội.
- Lãnh đạo đảng viên và quần chúng, người lao động, giám sát mọi hoạt
động của doanh nghiệp theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước.
- Lãnh đạo xây dựng và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, xây
dựng lực lượng tự vệ tại doanh nghiệp vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị
19
và trật tự an toàn xã hội, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bộ,
bảo vệ tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp.
2. Lãnh đạo công tác tư tưởng:
- Thường xuyên giáo dục bồi dưỡng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh cho cán bộ, đảng viên và người lao động trong doanh nghiệp, phát
huy truyền thống yêu nước, yêu CNXH, xây dựng tinh thần làm chủ, ý thức
cần kiệm và tình đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong công nhân viên
chức. Kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người lao động để giải quyết
và báo cáo lên cấp trên.
- Tuyên truyền, giáo dục và vận động cán bộ, đảng viên và người lao
động hiểu và chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước và các nhiệm vụ của doanh nghiệp, động viên cán bộ và
người lao động trong doanh nghiệp tích cực học tập nâng cao trình độ về mọi

liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác trong doanh nghiệp
và trong xã hội. Thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là
nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; thực hiện có nền
nếp và nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ, bảo đảm
tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu.
- Giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên nêu cao vai trò tiền phong,
gương mẫu thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, xây dựng kế hoạch và tạo
điều kiện để đảng viên thực hiện nhiệm vụ học tập, không ngừng nâng cao
trình độ về mọi mặt.
- Cấp ủy xây dựng kế hoạch, biện pháp quản lý đảng viên, phân công
nhiệm vụ và tạo điều kiện cho đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được giao,
thực hiện tốt việc giới thiệu đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối
liên hệ với chi ủy, Đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân
nơi cư trú. Làm tốt công tác động viên, khen thưởng, kỷ luật đảng viên, biểu
dương, khen thưởng kịp thời những cán boä, đảng viên có thành tích xuất sắc,
xử lý nghiêm, kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, pháp
luật của Nhà nước.
- Làm tốt công tác tạo nguồn phát triển đảng viên, bảo đảm tiêu chuẩn và
quy trình, chuù trọng đối tượng là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh, những quần chúng ưu tú, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ.
- Xây dựng cấp ủy có đủ phẩm chất, năng lực, hoạt động có hiệu quả,
được đảng viên và quần chúng tín nhiệm. Nói chung, bí thư cấp ủy phải là cán
bộ lãnh đạo của doanh nghiệp, tiêu biểu cho đảng bộ, chi bộ, đoàn kết, tập
hợp được cán bộ, đảng viên và quần chúng.
- Cấp ủy thường xuyên kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành
điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và
21
quy định của Bộ chính trị về những điều đảng viên không được làm. Định kỳ
hàng năm, cấp ủy tổ chức để quần chúng tham gia góp ý về sự lãnh đạo của tổ
chức đảng, vai trò tiền phong, gương mẫu của đảng viên.

22
8/- Chi bộ Công ty Sài Gòn trang trí XD : 13 đảng viên
9/- Chi bộ Công ty cơ khí xây dựng : 14 đảng viên
10/- Chi bộ nhà máy tấm lợp : 15 đảng viên
11/- Chi bộ công ty gạch ngói Long Bình : 15 đảng viên
12/- Công ty san nền và xây dựng hạ tầng : 05 đảng viên
Các chi bộ cơ sở hoạt động trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được quy
định tại Quyết định 49/QĐ-TW. Đảng bộ cấp trên cơ sở Tổng Công hoạt động
theo Quy định 496/QĐ-TU của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.
Thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định
90/QĐ-TTg ngày 07/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, UBND thành phố Hồ
Chí Minh quyết định thành lập Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn theo nội
dung Quyết định 90/QĐ-TTg (QĐ 6211/QĐ-UB-KT ngày 31/12/1996) đồng
thời bãi bỏ Quyết định 79/QĐ-UB ngày 28/02/1989. Sau khi Tổng Công ty
Xây dựng Sài Gòn (mới) được sắp xếp tổ chức, Thành ủy thành phố Hồ Chí
Minh quyết định giải thể Đảng bộ cấp trên cơ sở Tổng Công ty Xây dựng Sài
Gòn trước đây thành lập theo Quyết định 50/QĐ-TU ngày 21/4/1989 để thành
lập Đảng bộ cấp trên Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn (mới) trực thuộc
Thành ủy gồm 19 cơ sở đảng.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa IX ngày 24/9/2001, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Đảng bộ
thành phố Hồ Chí Minh khóa VII về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển
và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, ngày 07/8/2002 UBND thành
phố Hồ Chí Minh quyết định sáp nhập Tổng Công ty Vật liệu Xây dựng vào
Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn (Quyết định số 249/QĐ-UB-KT). Ngày
29/7/2003 Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, bằng Quyết định
382/NĐNS/TU, saùp nhập Đảng bộ Tổng Công ty Vật liệu xây dựng vào
Đảng bộ Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn và có 25 cơ sở đảng trực thuộc bao
gồm 21 chi bộ, đảng bộ cơ sở doanh nghiệp nhà nước, 4 cơ sở đảng ở Công ty
cổ phần; Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời gồm 26 đồng chí, Ban thường vụ 7

Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là khả năng chủ quan và điều
kiện khách quan của tổ chức cơ sở đảng để thực hiện việc lãnh đạo thực hiện
nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng phải
được thể hiện ở phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận, trình
độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, có vốn sống thực tiễn phong phú, có điều
kiện cần và đủ để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo khi cách mạng chuyển sang giai
đoạn mới mà tổ chức cơ sở đảng đã đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo của
mình. Quan niệm năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong doanh
nghiệp nhà nước bao gồm :
24
- Khả năng nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng,
và vận dụng hệ tư tưởng và cơ sở lý luận đó vào các điều kiện cụ thể của cơ
sở. Đây chính là năng lực chủ quan, là sức mạnh tinh thần, là điểm xuất phát
của năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.
- Chất lượng của tổ chức và cán bộ, là điều kiện chủ quan thứ hai có ý
nghĩa quyết định và là yếu tố vật chất của năng lực lãnh đạo, nhất là vai trò
của công tác cán bộ vừa là chủ thể, vừa là khách thể của bộ máy quản lý, điều
hành.
- Khả năng đề ra chủ trương, biện pháp đúng đắn để thực hiện đường lối,
chủ trương của Đảng, của cấp trên một cách phù hợp với điều kiện thực tiễn ở
cơ sở. Đó chính là đề ra được các chủ trương, giải pháp đúng đắn trong lãnh
đạo nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả và phát triển
sản xuất kinh doanh.
- Khả năng tổ chức thực hiện chủ trương giải pháp đã đề ra, thông qua
các mặt công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra và lãnh đạo các
đoàn thể quần chúng trong doanh nghiệp nhà nước.
- Sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng : là khả năng giải quyết mâu
thuẫn, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất,
giải quyết mâu thuẫn chính là khả năng phát hiện, làm rõ, xử lý mâu thuẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status