NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ TRỰC THUỘC HUYỆN NẬM PỒ GIAI ĐOẠN 2016-2020 - Pdf 33

1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

TRẦN ĐÌNH NHUẬN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ TRỰC THUỘC HUYỆN NẬM PỒ
GIAI ĐOẠN 2016-2020

ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


2

HÀ NỘI, THÁNG 11 NĂM 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ TRỰC THUỘC HUYỆN NẬM PỒ
GIAI ĐOẠN 2016-2020

Người thực hiện: Trần Đình Nhuận
Lớp: Cao cấp lí luận chính trị Điện Biên (2013 - 2015)
Chức vụ: UVTV-Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy
Đơn vị công tác: Ban Tổ chức Huyện ủy Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên



vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường
xuyên tự đổi mới, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo
đức và năng lực lãnh đạo. Điều đó phải được quán triệt và thực hiện ở hệ thống các
tổ chức đảng, trước hết là tổ chức cơ sở đảng.
Trong những năm qua, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Điện Biên đã ban
hành chương trình hành động với các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên
trong tỉnh. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Điện Biên, Huyện ủy Nậm Pồ, công
tác xây dựng đảng trong đảng bộ huyện đạt được những kết quả nhất định.


5

Nhiều tổ chức cơ sở đảng giữ vững và phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ
quan, đơn vị lãnh đạo cán bộ, đảng viên thực hiện tốt chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ
chính trị được giao. Tuy nhiên, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, công tác xây
dựng tổ chức cơ sở đảng còn nhiều hạn chế trên tất cả các mặt: chính trị tư
tưởng, tổ chức và cán bộ. Năng lực nhận thức, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính
trị còn nhiều hạn chế, chưa đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh ở
cơ sở. Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên ở không ít cơ sở
còn bị coi nhẹ, chưa có những giải pháp đủ sức ngăn ngừa, đấu tranh và xử lý
kịp thời những vi phạm của đảng viên…
Những hạn chế trên đã được các cấp uỷ đảng trong huyện quan tâm chỉ đạo
và tìm những biện pháp khắc phục, song việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của các tổ chức đảng thuộc đảng bộ cơ sở có những đặc điểm riêng,
cần có những giải pháp phù hợp. Để có điều kiện đi sâu nghiên cứu một cách
khoa học, toàn diện và khắc phục đối với vấn đề này, tôi xây dựng đề án “Nâng
cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ cơ sở trực thuộc huyện Nậm Pồ
giai đoạn 2016 - 2020” với mong muốn cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo

những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.
+ 100% chi bộ có Quy chế hoạt động; duy trì và thực hiện đúng quy chế;
100% đảng viên đang sinh hoạt được phân công nhiệm vụ; 100% chi bộ, đảng
viên, 85% trở lên đối với quần chúng được học tập quán triệt chỉ thị, nghị quyết
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
+ 100% chi bộ sinh hoạt theo quy định của Điều lệ Đảng; mỗi quí chi bộ
sinh hoạt chuyên đề 01 lần; trên 90% số chi bộ đổi mới được nội dung, hình
thức sinh hoạt chi bộ; 100% đảng viên ở các cơ quan, đơn vị được giới thiệu về
sinh hoạt ở nơi cư trú;
+ Có 100% chi ủy viên khối cơ quan hành chính, sự nghiệp, lực lượng vũ
trang có trình độ trung cấp chuyên môn, trong đó 85% có trình độ đại học; 80%
có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên. Có 75% chi ủy viên chi bộ thôn,
bản, chi bộ trực thuộc đảng bộ, chi bộ cơ sở có trình độ văn hóa từ trung học cơ
sở trở lên; 50% có trình độ trung cấp chuyên môn; 50% có trình độ trung cấp lý
luận chính trị.
+ Hằng năm có trên 50% tổ chức cơ sở Đảng đạt TSVM; số cơ sở Đảng
yếu kém dưới 1%; có trên 95% cấp ủy, 75% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt


7

nhiệm vụ trở lên; giảm tỷ lệ đảng viên vi phạm tư cách không hoàn thành nhiệm
vụ dưới 0,5%.
+ Hàng năm kết nạp 100 đảng viên trở lên; Mỗi năm chi bộ có quần chúng,
phải bồi dưỡng kết nạp ít nhất 01 đảng viên trở lên.
3. Giới hạn của đề án
Đối tượng nghiên cứu của đề án: Các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Đảng bộ huyện.
- Phạm vi nghiên cứu: Đảng bộ huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên.
- Thời gian nghiên cứu: Đề án được nghiên cứu áp dụng thực hiện trong
giai đoạn 2016 - 2020.

- Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên.
- Lập chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở có hơn ba mươi đảng viên.
- Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng uỷ cơ sở.
Tổ chức cơ sở đảng nói chung được thành lập theo ba mô hình cơ bản:
- Chi bộ cơ sở, dưới chi bộ cơ sở có các tổ đảng.
- Đảng bộ cơ sở, dưới đảng bộ cơ sở có các chi bộ trực thuộc đảng uỷ, dưới
chi bộ trực thuộc có thể có các tổ đảng.
- Đảng bộ cơ sở, dưới đảng bộ cơ sở là các đảng bộ bộ phận và các chi bộ
trực thuộc đảng uỷ. Dưới đảng bộ bộ phận là các chi bộ, dưới các chi bộ có thể
có các tổ đảng.
Đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên của tổ chức cơ sở đảng do cấp uỷ cơ sở triệu tập
năm năm một lần; có thể triệu tập sớm, hoặc muộn hơn nhưng không quá một năm.
Đảng uỷ, chi uỷ cơ sở họp thường lệ mỗi tháng một lần; họp bất thường khi
cần. Đảng bộ cơ sở họp thường lệ mỗi năm hai lần; họp bất thường khi cần. Chi
bộ cơ sở họp mỗi tháng một lần, họp bất thường khi cần.
* Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng:


9

Tổ chức cơ sở đảng giữ vị trí là nền tảng của Đảng, có vai trò là hạt nhân
chính trị ở cơ sở, biểu hiện cụ thể ở những nội dung sau:
- Tổ chức cơ sở đảng là nơi nối liền các cơ quan lãnh đạo của Đảng với
quần chúng nhân dân; nơi trực tiếp đưa đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước tới quần chúng nhân dân, đồng thời lắng nghe tâm tư, nguyện
vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh lên tổ chức đảng cấp trên.
- Tổ chức cơ sở đảng là nơi trực tiếp cụ thể hóa đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp ủy cấp trên và
lănh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân
dân thực hiện.

+ Củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao
chất lượng đội ngũ đảng viên, kết nạp đảng viên mới.
+ Thực hiện tốt chế độ sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ
luật và sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ Đảng.
+ Kiểm tra đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, đường lối, Điều lệ Đảng
và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp trên và cấp mình.
+ Trực tiếp hoặc gián tiếp bầu các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng;
tham gia xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, nghị quyết của cấp trên.
+ Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.
+ Tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp trên và cấp mình;
tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên.
- Nhiệm vụ
Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định tất cả các tổ chức cơ
sở đảng đều có 5 nhiệm vụ sau:
“1. Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề
ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có
hiệu quả.
2. Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng
sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường


11

đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý
cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình
độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.
3. Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự

1


12

phẩm chất, giá trị của con người, một sự vật. Chất lượng hằn sâu sự thay đổi của
các yếu tố, tạo nên phẩm chất toàn vẹn trong chỉnh thể hệ thống.
Chất lượng tổ chức cơ sở đảng là tổng hợp chất lượng của từng tổ chức
đảng thuộc TCCSĐ; nó thể hiện ở sự phù hợp về số lượng
1.1.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng của tổ chức cơ sở đảng
* Sự phù hợp về số lượng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của
TCCSĐ.
* Khả năng hoàn thành các nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng được quy định
tại Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
* Chất lượng cán bộ, đảng viên của tổ chức cơ sở đảng:
- Bản lĩnh, ý chí kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
- Trình độ trí tuệ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, tính
tiền phong gương mẫu và bản lĩnh chính trị vững vàng trước những biến động
phức tạp của tình hình chính trị - xã hội;
- Việc chấp hành tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt và kỷ luật đảng;
- Tinh thần đấu tranh trong tổ chức và với các lực lượng thù địch.
- Khả năng hoàn thành nhiệm vụ chính trị.
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
* Nhóm các văn bản của Đảng:
- Quy định 76- QĐ/TW ngày 16/6/2000 về việc đảng viên đang công tác
thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú;
- Quy định 98- QĐ/TW ngày 22/3/2004 về chức năng, nhiệm vụ của
TCCSĐ trong cơ sở cơ quan;
- Quy định 165- QĐ/TW ngày 21/4/2006 về chức năng, nhiệm vụ của Đảng

- Nghị quyết số 22-NQ/TW của Chấp hành Trung ương về nâng cao năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng
viên.
- Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW, ngày 02/3/2012 về nội dung sinh hoạt chi
bộ;
- Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW, ngày 25/9/2014 về kiểm điểm đối với tập
thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên
hằng năm.
* Nhóm các văn bản của tỉnh uỷ Điện Biên, huyện uỷ Nậm Pồ:


14

- Hướng dẫn số 01-HD/TU, ngày 28/11/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
về việc kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ
sở đảng, đảng viên hằng năm.
- Kế hoạch số 17-KH/HU, ngày 05/12/2014 của Ban Thường vụ Huyện ủy
Nậm Pồ về kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức
cơ sở đảng, đảng viên hằng năm.
1.3. Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua, Tỉnh uỷ Điện Biên, huyện uỷ Nậm Pồ và cấp ủy đã
tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng nâng cao chất lượng tổ chức
cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và
đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhiều tổ chức
cơ sở đảng đã giữ vững và phát huy được vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở,
lãnh đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên; chất lượng
hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở được nâng lên. Công
tác nhận xét, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ ở cơ
sở thường xuyên được chăm lo. Đội ngũ cán bộ công chức được trưởng thành từ

Nguyên nhân của những hạn chế yếu kém trên là do mặt trái của cơ chế thị
trường và các tiêu cực xã hội tác động không nhỏ đến tư tưởng và sự phấn đấu
của cán bộ, đảng viên. Một số cấp ủy đảng nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc vị trí,
vai trò và chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng; chưa đầu tư nhiều cho việc
nghiên cứu, tìm tòi nâng cao chất lượng hoạt động, chưa quan tâm đúng mức
chỉ đạo công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng ở cơ sở. Mặt khác, bản thân
cấp uỷ cơ sở ở không ít nơi thiếu chủ động, còn trông chờ, ỷ lại vào cấp trên.
Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên chưa
được coi trọng đúng mức, có nơi bị buông lỏng. Chưa thực hiện tốt mối quan hệ
phối hợp giữa cấp ủy, tổ chức đảng với thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác
xây dựng Đảng, công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên. Một số đảng viên
giữ chức vụ lãnh đạo chưa thật sự gương mẫu trong sinh hoạt, thực hiện quy chế
của cơ quan; tư phê bình và phê bình chưa tốt, chưa thật sự chăm lo công tác xây
dựng Đảng tại cơ quan, đơn vị.
Do vậy đòi hỏi Đảng bộ huyện phải tăng cường các biện pháp nâng cao
chất lượng các tổ chức cơ sở đảng.


16

2. Nội dung thực hiện của đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
Nậm Pồ là một huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Điện
Biên, được thành lập theo Nghị quyết số 45/NQ-CP, ngày 25 tháng 8 năm 2012
của Chính phủ; có 15 xã, trong đó có 8 xã biên giới; diện tích tự nhiên
149.812,96 ha. Dân số có 8.143 hộ, 45.554 khẩu; gồm có 08 dân tộc cùng sinh
sống, trong đó dân tộc Mông chiếm 69,18%; Thái 18,50%; Kinh 3,21%; Dao
4,15%, còn lại là các dân tộc khác.
Đây là khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều
đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; cơ sở hạ tầng thấp kém, dân trí thấp, hệ

Tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị từ huyện đến các xã được củng cố,
kiện toàn. Việc nhận xét, đánh giá, quy hoạch, rà soát, bổ sung quy hoạch, đào
tạo, bố trí sử dụng cán bộ được thực hiện đúng quy định. Rà soát xây dựng quy
hoạch cán bộ của huyện giai đoạn 2015-2020, phục vụ Đại hội Đảng các cấp và
bầu cử HĐND, UBND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; Tập trung lãnh đạo nâng cao
chất lượng hoạt động của tổ chức Đảng. Đẩy mạnh việc kết nạp đảng viên mới,
bình quân mỗi năm kết nạp 127 đảng viên, vượt 27% so với nghị quyết đề ra.
Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; giải quyết kịp thời những vấn đề
chính trị nội bộ, phục vụ công tác cán bộ;
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai đồng bộ nhiệm vụ kiểm tra,
giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng, chương trình kiểm tra, giám sát của
Tỉnh ủy. Giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến cán bộ,
đảng viên. Cấp ủy, UBKT các cấp đã kiểm tra 27 tổ chức đảng; giám sát chuyên
đề 02 tổ chức đảng và 15 cấp ủy viên; giám sát thường xuyên đối với 26 tổ chức
đảng và 497 đảng viên; Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới phương thức
tuyên truyền, vận động, tập hợp quần chúng, nắm diễn biến tư tưởng trong nhân
dân.
Công tác dân vận trong các cơ quan Nhà nước, MTTQ, đoàn thể nhân dân có
bước đổi mới theo hướng sâu sát cơ sở. Hướng dẫn, giúp đỡ Nhân dân đẩy mạnh phát
triển sản xuất, kinh doanh, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm quốc phòng, an ninh, củng cố
khối đoàn kết các dân tộc; Cấp ủy đảng các cấp triển khai sâu rộng, toàn diện trong cán
bộ, đảng viên Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị khóa XI, Chỉ thị
1973/CT-TTg, ngày 07-11-2011 của Thủ tướng Chính phủ "về tiếp tục đẩy mạnh việc
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Hàng năm có 100% các chi,


18

đảng bộ trực thuộc Huyện ủy, 95% cán bộ, đảng viên và 79% quần chúng Nhân dân
trong toàn Đảng bộ huyện được học tập.


huyện có trình độ, có ý thức trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo
trên các lĩnh vực công tác và đời sống xã hội.
* Khả năng hoàn thành các nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng được quy
định tại Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam:
Ban Thường vụ Huyện ủy và các cấp ủy đảng trong huyện đã thực hiện tốt
việc lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 08NQ/TU, của BCH Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết số 02-NQ/HU, ngày 04/3/2014
Ban Thường vụ Huyện ủy, thường xuyên, sâu sát trong vấn đề xây dựng, củng
cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng của chi bộ đảng.
Cấp ủy các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Huyện ủy đã có nhiều cố gắng trong
công tác xây dựng đảng, công tác phát triển đảng viên, từng bước nâng cao chất
lượng hoạt động của các chi bộ đảng; đề ra nhiều giải pháp để nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ và chất lượng đội ngũ đảng viên; lãnh đạo cán
bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật
Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên.
Vai trò lãnh đạo của đa số chi ủy, bí thư chi bộ, người đứng đầu cơ quan,
đơn vị được phát huy, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo
cá nhân phụ trách. Nội dung, phương thức hoạt động của chi bộ có bước đổi mới;
chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng nghị quyết, chương trình hành động, quy
chế làm việc của cấp uỷ; kiện toàn cấp ủy, phân công nhiệm vụ đối với đảng viên.
Phần lớn các chỉ tiêu Nghị quyết số 01-NQ/HU, ngày 31 tháng 12 năm
2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về phát triển kinh tế-xã hội bảo đảm
quốc phòng-an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị của huyện
khóa I, nhiệm kỳ 2013-2020 đề ra đều hoàn thành; chất lượng tổ chức cơ sở
đảng, nhất là chất lượng chi bộ được nâng lên; cán bộ, đảng viên đoàn kết, tin
tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng; vị trí, vai trò của Đảng bộ tiếp tục được
khẳng định, kết quả hoạt động của Đảng bộ đã góp phần xứng đáng vào việc
thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,
xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị của huyện; trên 50% các chi, bộ


trị tại địa phương. Nhiều tổ chức cơ sở đảng tăng cường công tac giáo dục chính trị
tư tưởng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, giữ nghiêm kỷ luật Đảng và chú
trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, nêu cao vai trò tiền phong gương
mẫu của đảng viên. Nhiều tổ chức cơ sở đảng đã khẳng định được rõ hơn vị trí, vai
trò và trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật được nâng cao, từng bước khắc phục sự
bất cập, hạn chế trong tổ chức và sinh hoạt đảng... Các tổ chức cơ sở đảng trong
Đảng bộ huyện còn bộc lộ một số khuyết điểm, yếu kém biểu hiện trên các mặt:


22

như chưa giữ được vai trò lãnh đạo, thậm chí bị “vô hiệu hóa” theo đuôi chính
quyền. Hoạt động của chi bộ chậm đổi mới về nội dung và hình thức sinh hoạt.
Việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức chưa được quan tâm đúng mức dẫn
đến một bộ phận cán bộ đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng,
dao động, mất lòng tin. Không ít cán bộ, đảng viên đã đặt lợi ích cá nhân lên
trên lợi ích của Đảng, tha hóa về đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu xài lãng phí
của công làm tổn hại đến thanh danh và uy tín của Đảng. Năng lực, phẩm chất
của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa đáp ứng được
yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Yêu cầu đặt ra trong thời kỳ mới đòi hỏi
các tổ chức cơ sở đảng, cơ quan, đơn vị phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh
đốn, mục tiêu là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng đảm bảo
thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị đề ra.
Công tác tổ chức là một trong những mặt cơ bản của công tác xây dựng
Đảng. Công tác tổ chức của Đảng là sự xây dựng, kiện toàn các mối quan hệ
trong tổ chức đảng (từ cơ sở đến toàn Đảng), hình thành hệ thống tổ chức, tạo
nên một chỉnh thể thống nhất, có tính ổn định và bền vững. Công tác tổ chức của
Đảng bao gồm những quy định, những nguyên tắc tổ chức và hoạt động buộc tất
cả mọi tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên của Đảng phải chấp hành để tạo nên sự
thống nhất ý chí và hành động, đảm bảo giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao

Việc xây dựng quy chế làm việc của cấp uỷ cơ sở đã đi vào nền nếp: 100%
các chi, đảng bộ cơ sở đã xây dựng quy chế làm việc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
mới. Xây dựng quy chế làm việc của cấp uỷ cơ sở đã bám sát chức năng, nhiệm
vụ của tổ chức cơ sở đảng do Trung ương quy định. Các đảng uỷ cơ sở chỉ đạo
các chi bộ cơ sở trực thuộc xây dựng chức năng, nhiệm vụ cụ thể để thực hiện
nghiêm túc quy chế làm việc của đảng uỷ đề ra. Do thực hiện tốt việc xây dựng
và thực hiện tốt quy chế làm việc, cho nên mối quan hệ công tác giữa cấp uỷ với
tập thể lãnh đạo với thủ trưởng cơ quan và với Ban chấp hành các đoàn thể quần
chúng trong cơ quan, đơn vị được thống nhất, nhịp nhàng hơn. Tuy nhiên, một vài
đơn vị sự phối hợp giữa cấp uỷ với thủ trưởng cơ quan trong công tác xây dựng
Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị có lúc, có việc chưa thực sự hiệu
quả. Các chế độ công tác đảng, nhất là sinh hoạt định kỳ của cấp uỷ, chi bộ cơ
bản được duy trì đều đặn, chất lượng từng bước được nâng lên; trong sinh hoạt
đã đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy được trí tuệ tập thể trong
lãnh đạo thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của


24

cấp trên cũng như nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, khắc phục những
vướng mắc trước đây về lề lối làm việc, mối quan hệ giữa cấp uỷ với lãnh đạo
chuyên môn. Phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ cơ sở từng bước được đổi
mới, đã tăng cường chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ
động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân; thực hiện dân chủ và kỷ cương, giữ gìn
đoàn kết nội bộ, chú trọng rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên.
Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh được Ban
chấp hành đảng bộ huyện quan tâm chỉ đạo, tập trung vào các tổ chức đảng còn
khó khăn. Tỷ lệ các tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh hằng năm
được giữ vững và tăng lên, nhiều tổ chức cơ sở đảng giữ vững danh hiệu trong
sạch vững mạnh tiêu biểu, không có tổ chức cơ sở đảng yếu kém. Hằng năm số

tác quản lý đảng viên.
2.2.2. Những hạn chế, yếu kém
* Sự phù hợp về số lượng tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên của tổ chức
cơ sở đảng:
Nhiều tổ chức cơ sở đảng được thành lập bởi sự ghép, hợp của nhiều cơ
quan, đơn vị trong địa bàn huyện do vậy công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
các nhiệm vụ còn hạn chế, chồng chéo, gặp khó khăn.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt của cấp uỷ cơ sở có sự biến động theo yêu cầu nhiệm vụ.
* Khả năng hoàn thành các nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng được quy
định tại Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam:
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng có việc chưa nghiêm; quản
lý đảng viên chưa chặt chẽ, nhất là quản lý về tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức
và về chấp hành pháp luật; nội dung sinh hoạt chi bộ chưa được cải tiến, duy trì sinh
hoạt chưa đều, chưa đúng định kỳ; đấu tranh tự phê bình và phê bình còn hạn chế,
ngại va chạm…Từ đó cho thấy vai trò, trách nhiệm, năng lực của cấp uỷ cơ sở trong
việc lãnh đạo công tác xây dựng chi bộ còn có những hạn chế: Một số đơn vị chưa
nhận thức đầy đủ, sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng, đối với yêu cầu nâng cao
chất lượng sinh hoạt chi bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên nên trong chỉ
đạo chưa chặt chẽ, thiếu sâu sát. Năng lực lãnh đạo của một số chi bộ cơ sở và chi bộ
trực thuộc đảng bộ cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; việc quán triệt, triển khai,
cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy cấp trên ở một số chi ủy, chi bộ
chưa sâu, chưa kịp thời, chưa cụ thể nên khi tổ chức thực hiện còn lúng túng, hiệu
quả thấp.


Trích đoạn Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện Một số giải pháp để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ huyện Nậm Pồ Tổ chức thực hiện đề án Dự kiến hiệu quả của đề án
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status