Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở các tỉnh miền núi tây bắc nước ta - Pdf 13

HC VIN CHNH TR - HNH CHNH QUC GIA H CH MINH
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
TI KHOA HC CP B NM 2011
Mó s: B.11-28 NĂNG LựC LNH ĐạO Và SứC CHIếN ĐấU CủA Tổ
CHứC CƠ Sở ĐảNG CấP X ở CáC TỉNH MIềN NúI
TÂY BắC NƯớC TA - THựC TRạNG Và GIảI PHáP

C quan ch trỡ: HC VIN CT-HC KHU VC I
Ch nhim ti: THS NGUYN VIT PHNG
Th ký ti: CN NG MINH PHNG 2 CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tổ chức cơ sở đảng: TCCSĐ
Xã hội chủ nghĩa: XHCN
Chủ nghĩa xã hội: CNXH
Tư bản chủ nghĩa: TBCN
miền núi Tây Bắc
39
2.2. Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ cấp
xã tại các tỉnh miền núi Tây Bắc hiện nay 52
2.3. Nguyên nhân và một số kinh nghiệm 84
Chơng 3: Định hớng và giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ cấp xã ở các
tỉnh miền núi Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay
98
3.1. Yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cấp xã các tỉnh miền núi Tây Bắc
trong giai đoạn hiện nay
98
3.2. Những định hớng cơ bản nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của TCCSĐ cấp xã các tỉnh miền núi Tây Bắc trong
giai đoạn hiện nay
103
3.3. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của TCCSĐ cấp xã các tỉnh miền núi Tây Bắc 108
kết luận 132
Tài liệu tham khảo 133
Kiến nghị 137

4

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tây Bắc là địa bàn có tầm quan trọng đặc biệt trên các phơng diện địa -
chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh, môi trờng sinh thái và quan
hệ lân bang với một số nớc láng giềng (Lào, Trung Quốc). Tính cấp thiết của

đến nguồn phát triển đảng viên, gây nên tình trạng trắng đảng viên ở nhiều
thôn/bản Trong khi đó, các quy định về xây dựng TCCSĐ ở vùng đa tộc
ngời, có nhiều đặc thù và khó khăn nh Tây Bắc vẫn cha đợc cụ thể hoá,
gây không ít khó khăn cho hoạt động thực tiễn. Tất cả những vấn đề đó đang
đặt ra trớc mắt đối với TCCSĐ ở Tây Bắc một cách bức xúc, nếu không kịp
thời đợc giải quyết thực tế sẽ xuất hiện nhiều nguy cơ đẩy TCCSĐ nhiều nơi
tê liệt, mất sức chiến đấu.
Thứ ba
, các xã ở Tây Bắc cũng là nơi có nhiều biến động lớn do tác động
của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh, đặc biệt tác động của tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sự phát triển nhiều công trình quốc gia, đặc biệt là
các công trình thủy điện đã buộc các tỉnh Tây Bắc phải tiến hành nhiều dự án
tái định c với một số lợng lớn dân c khỏi các làng/bản truyền thống, mất
những diện tích ruộng đất thung lũng tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp. Các
dự án đó không chỉ giản đơn là tổ chức lại dân c, mà thực chất là tái cấu trúc
lại cả những đơn vị hành chính cơ sở và TCCSĐ vừa đảm bảo giữ vững giá trị
truyền thống, vừa đảm bảo an sinh và phát triển trên vùng đất mới. Vấn đề này
nếu thực hiện không khéo sẽ gây nên những đảo lộn về tổ chức và hoạt động
của tổ chức đảng, ảnh hởng tiêu cực đến đời sống của nhân dân, gây ra các bất
ổn xã hội. Càng phát triển kinh tế thị trờng thì khoảng cách về trình độ phát
triển giữa các tộc ngời thiểu số tại chỗ với tộc ngời đa số nhập c càng bị đẩy
ra xa thêm, đặt ra rất nhiều vấn đề về sinh kế và phát triển xã hội tộc ngời bền
vững. Tình trạng du canh, du c ở Tây Bắc diễn ra phức tạp, gây ra tình trạng
bất ổn định của kết cấu dân c, tạo khó khăn trong xây dựng đội ngũ cốt cán
bộ cốt cán, bồi dỡng đảng viên cũng nh công tác lãnh đạo của tổ chức đảng.
Đây là những khó khăn đặc thù của Tây Bắc so với các vùng khác.
Thứ t,
lợi dụng khó khăn của Tây Bắc, các thế lực thù địch đã và đang
ra sức chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện chủ nghĩa ly khai, phá hoại
từ cơ sở - các tế bào phát triển của thể chế và xã hội. Sự chống phá của các

còn có khả năng làm cho các nguy cơ lớn dần lên, vừa ảnh hởng trực tiếp đến
sự phát triển của bản thân các tỉnh Tây Bắc, vừa tạo lực cản đối với tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các vùng khác trên cả nớc.
Với những lý do nêu trên, việc thực hiện đề tài: Năng lực lnh đạo và
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cấp x ở các tỉnh miền núi Tây Bắc
nớc ta - Thực trạng và giải pháp là yêu cầu cấp bách và có ý nghĩa hết sức
quan trọng cả về phơng diện lý luận và thực tiễn.

7
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tây Bắc là vùng có vị trí chiến lợc trên nhiều phơng diện của Việt
Nam. Là vùng rất đa dạng về địa hình, hệ sinh thái, tộc ngời, bản sắc văn hóa
nên Tây Bắc có nhiều tiềm năng để phát triển nhng còn có quá nhiều khó
khăn, thách thức đặt ra trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá hiện nay. Do đó, nghiên cứu về Tây Bắc trên nhiều phơng diện, trong đó
có đề cập trực tiếp, hoặc gián tiếp về một số khía cạnh cụ thể của thực trạng
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ cấp xã tại các tỉnh miền núi
Tây Bắc đã trở thành vấn đề thu hút đợc sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều
nhà khoa học trong và ngoài nớc thuộc các chuyên ngành khác nhau. Hiện
có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về Tây Bắc, về những vấn đề có
liên quan đến đề tài đã đợc công bố. Có thể tóm lợc thành các nhóm sau:
Thứ nhất: Những chuyên khảo, đề tài, bài viết nghiên cứu tổng quan về
miền núi Tây Bắc trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, đặc biệt là về
phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số Tây Bắc. Trên cơ sở phân tích
những "đặc tính vùng, các công trình nghiên cứu của nhóm này tìm ra đặc
trng của vùng Tây Bắc trong liên hệ với không gian lịch sử - văn hóa đặc thù,
độc đáo của toàn vùng Những nội dung nghiên cứu đó có giá trị đối với đề
tài khi triển khai nghiên cứu những yếu tố ảnh hởng, những yêu cầu đặt ra
trong xây dựng TCCSĐ cấp xã tại các tỉnh miền núi Tây Bắc hiện nay. Tiêu
biểu nh:

năm 1998. Vai trò của TCCSĐ xã đã đợc đề cập và thể hiện trong việc hiện
thực hóa chính sách dân tộc tại các địa phơng trên địa bàn. Từ đó, chất lợng
hoạt động của TCCSĐ cấp xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc đã đợc phản ánh
một cách gián tiếp thông qua những thành công và hạn chế trong quá trình các
TCCSĐ cấp xã chỉ đạo triển khai nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lợc này ở Tây Bắc.
+ Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên, 2000): Hệ thống chính trị cấp cơ sở và
dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi vùng dân tộc thiểu số các
tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta. Công trình nghiên cứu này đã phân tích và
trình bày về thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở
vùng nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc
trớc yêu cầu thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Trong nội dung nghiên cứu
trên, vai trò và hoạt động của TCCSĐ cấp xã của các tỉnh miền núi Tây Bắc
đợc phân tích nh một yếu tố quan trọng, có tính quyết định trong triển khai

9
thực hiện nhiệm vụ dân chủ hóa đời sống xã hội nông thôn trên địa bàn Tây Bắc
trong mối quan hệ với các địa bàn khác của vùng miền núi phía Bắc nớc ta.
+ Hoàng Chí Bảo: (chủ biên, 2004): Hệ thống chính trị ở cơ sở nông
thôn nớc ta hiện nay. Đây là công trình nghiên cứu rất công phu về mô hình
tổ chức bộ máy, về thực trạng chất lợng hoạt động của hệ thống chính trị cơ
sở nông thôn của nớc ta thời kỳ đổi mới. Trong nội dung nghiên cứu đó, hệ
thống chính trị cơ sở, trong đó đặc biệt là TCCSĐ cấp xã ở nông thôn miền núi
phía Bắc và Tây Bắc đợc quan tâm, đề cập tơng xứng với vị trí chiến lợc
cũng nh những yêu cầu đặt ra đối với vùng giai đoạn hiện nay.
+ Nguyễn Cúc, Ngô Ngọc Thắng, Đoàn Minh Huấn (2006): Đổi mới
kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Đây là công trình đi sâu nghiên cứu về
mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị ở vùng miền
núi phía Bắc nói chung và Tây Bắc nói riêng từ năm 1986 đến năm 2006. Khi
phân tích về quá trình đó, việc đổi mới nội dung, phơng thức hoạt động của

và sức chiến đấu của TCCSĐ nông thôn vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nớc. Luận án đã trình bày những vấn đề lý luận,
những quan điểm chủ yếu của Đảng ta về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của TCCSĐ nông thôn vùng cao phía Bắc. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, luận
án đã phân tích thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ, từ
đó đề ra những định hớng, giải pháp để các đảng bộ của các tỉnh miền núi
phía Bắc thực hiện tốt nhiệm vụ này trong giai đoạn hiện nay. Trong luận án
này, việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ cấp xã ở
miền núi Tây Bắc đợc đề cập thành một mảng nghiên cứu có dung lợng phù
hợp trong tổng thể vấn đề nghiên cứu rất lớn là chất lợng hoạt động của loại
hình TCCSĐ các cấp của các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nớc.
Thứ t: Những nghiên cứu của ngời nớc ngoài về miền núi phía Bắc,
về vùng Tây Bắc. Tiêu biểu là công trình của Tim Dolling (1999): Moutains
and ethnie minorities North West Viet Nam đã nghiên cứu khá chuyên sâu về
vùng Tây Bắc Việt Nam gắn với khảo sát hơn 40 địa danh của vùng trên các
lĩnh vực chính: địa lý, lịch sử, dân tộc, phong tục, tập quán; Rambo T.A:
Những xu hớng phát triển ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam
(1997) đã nghiên
cứu khá chi tiết, cụ thể mỗi cộng đồng tộc ngời gắn với hệ sinh thái tộc ngời
(rẻo cao, rẻo giữa, thung lũng) và từ đó chi phối đến đặc trng kinh tế - chính

11
trị - xã hội mà mỗi chính sách phát triển tộc ngời cần phải tính toán đầy đủ;
Neil Jamieson với báo cáo: Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội khu vực
miền núi phía Bắc. Dự án xóa đói giảm nghèo ở khu vực miền núi phía Bắc
đã tập trung khảo cứu về những vấn đề về tộc ngời gắn với việc thực hiện các
chơng trình xóa đói giảm nghèo những năm qua. Báo cáo đã chỉ ra nhóm các
dân tộc thiểu số ít đợc thụ hởng lợi ích từ các chính sách u tiên phát triển.
Trên cơ sở đó, bào cáo khuyến nghị Chính phủ Việt Nam cần quan tâm hơn

quyết Trung ơng tiếp theo về công tác xây dựng Đảng đã tạo ra những
chuyển biến quan trọng trong nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của TCCSĐ nói chung và TCCSĐ cấp xã nói riêng đã thực sự trở thành nhiệm
vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng ở nớc ta. Những định hớng và
giải pháp mà đề tài nêu ra sẽ phục vụ cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của TCCSĐ cấp xã tại các tỉnh miền núi Tây Bắc trong 10 năm
tiếp theo, tức là từ năm 2011 đến năm 2020.
- Về không gian: các tỉnh miền núi Tây Bắc nớc ta (trớc đây) gồm 6
tỉnh: Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái nhng đề tài
tập trung khảo sát điểm trên một số địa bàn có khả năng phản ánh rõ nét và
toàn diện nhất về những điều kiện thuận lợi, khó khăn, những nhân tố ảnh
hởng tới thực trạng việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
TCCSĐ cấp xã tại các tỉnh miền núi Tây Bắc từ năm 1992 đến 2010. Cụ thể,
đề tài tiến hành khảo sát điểm tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu; mỗi
tỉnh chọn một số huyện điểm để khảo sát.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phơng pháp luận chủ nghĩa Mác -
Lênin, phép biện chứng duy vật lịch sử.
Đề tài thuộc dạng nghiên cứu tổng kết thực tiễn nên sử dụng chủ yếu
phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgíc, ngoài ra đề tài kết hợp các phơng
pháp sau:
- Phơng pháp thu thập và phơng pháp phân tích: sử dụng để thu thập
và phân tích các nguồn dữ liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề
tài. Bao gồm các tài liệu nh: Văn kiện đại hội, hội nghị Trung ơng Đảng;
nghị quyết của Đảng bộ các tỉnh, huyện ở Tây Bắc, sách, báo chí đề cập đến
công tác xây dựng chỉnh đốn, đổi mới Đảng, đặc biệt là về nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ. Báo cáo của các tỉnh, huyện miền núi
Tây Bắc tổng kết việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của

13

sách, báo, tạp chí và trong quá trình khảo sát thực tiễn trên địa bàn nghiên
cứu của đề tài. 14
5. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp luận cứ khoa học cho việc
đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ cấp xã các
tỉnh miền núi Tây Bắc hiện nay.
- Khuyến nghị sửa đổi, bổ sung những cơ chế, phơng thức bất cập ảnh
hởng đến chất lợng việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
TCCSĐ cấp xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc.
Đề tài sẽ chuyển giao trực tiếp kết quả nghiên cứu cho Ban Chỉ đạo phát
triển bền vững khu vực Tây Bắc; Tỉnh uỷ các tỉnh thuộc khu vực miền núi Tây
Bắc; Học viện CT - HC Quốc gia Hồ Chí Minh.
6. Kết cấu tổng quan
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tổng quan
khoa học của đề tài đợc kết cấu thành 3 chơng:
Chơng 1: Vị trí, tầm quan trọng của TCCSĐ cấp xã và những yêu cầu
đặt ra đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ
cấp xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc hiện nay.
Chơng 2: Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ
cấp xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay.
Chơng 3: Định hớng và giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ cấp xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc
trong giai đoạn hiện nay.


ng Cng sn Vit Nam l i tiờn phong, lónh t chớnh tr ca giai cp
cụng nhõn, i biu trung thnh cho li ớch ca giai cp cụng nhõn, nhõn dõn
lao ng v ca c dõn tc Vit Nam. Theo iu 10 ca iu l ng Cng
sng Vit Nam do i hi i biu ton quc ln th XI thụng qua, H thng
t chc ca ng c lp tng ng vi h
thng t chc hnh chớnh ca
Nh nc
2
. Bn cp tng ng vi h thng t chc hnh chớnh ca Nh
nc m t chc ng c thit lp l Trung ng, tnh/thnh ph trc thuc
Trung ng, qun/huyn (v tng ng), xó/phng/th trn. S thit lp
tng ng vi h thng hnh chớnh nh nc khụng cú ngha l Nh nc cú

1
Nguyn Nh í (ch biờn): i t in ting Vit, Nxb.Vn hoỏ - Thụng tin, H Ni, 1999,
tr.1622.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2011, tr.19.

16
t chc no thỡ ng cú t chc ú, khụng phi l thit lp trựng khp t chc
b mỏy ng ging nh b mỏy ca nh nc. T chc ng mi cp l b
phn hp thnh cỏi chnh th thng nht ng Cng sn Vit Nam, c t
chc theo nguyờn tc tp trung dõn ch. Trong ú, TCCS l cp thp nht,
c t
chc theo vựng lónh th, n v cụng tỏc v n v sn xut. S hỡnh
thnh TCCS bt ngun t nhu cu khỏch quan ca ng nhm bỏm r vo
i sng ca qun chỳng nhõn dõn c s v mi lnh vc ca xó hi thc
hin s lónh o.


17
lónh o khỏc nhau ca TCCS. Kinh t khu vc nụng thụn hin nay ang
cú s chuyn dch, nhng c bn vn l kinh t nụng nghip. õy l nhng
thỏch thc ln t ra i vi TCCS trong lónh o chuyn dch c cu kinh
t, bao gm c chuyn dch giỏ tr ngnh ngh v chuyn dch lao ng.
C cu TCCS cp xó bao gm ng b c
s, ng b b phn, chi b
c s thuc ng b c s xó; chi b nh trc thuc ng b b phn. Vai trũ
lónh o ca ng b v chi b i vi cỏc n v chuyờn mụn, on th nhõn
dõn xó th hin rừ tớnh trc tip, ton din v tuyt i. i ng ng viờn
c s ng xó khụng ng
u v trỡnh nhn thc v nng lc. ng viờn
c o to t nhiu mụi trng khỏc nhau nh b i xut ng, cỏn b ngh
hu tr v a phng cụng tỏc, sinh hot, hng ch chớnh sỏch theo bo
him xó hi; cũn nhng ng viờn sinh ra, ln lờn, cụng tỏc ti a phng
phn ln da vo ngun kinh t ti ch hoc i lm nhng ngh
lu ng.
iu ú to ra nhng sc thỏi khỏc nhau trong i sng, sinh hot, mc sng
ca i ng ng viờn ti TCCS xó.
1.1.2. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ
1.1.2.1. Năng lực lnh đạo của TCCSĐ
Năng lực lãnh đạo của TCCSĐ là tổng hợp các thuộc tính cơ bản đáp
ứng đợc những yêu cầu và hoạt động của TCCSĐ nhằm đảm bảo cho mọi
hoạt động đạt kết quả cao. Ngoài ra, năng lực lãnh đạo còn thể hiện qua trình
độ tổ chức, tập hợp đội ngũ ở các cơ sở. Thớc đo năng lực lãnh đạo là hiệu
quả hoạt động thực tiễn của tập thể. Đặc biệt, đối với những cơ sở vùng nông
thôn, để phát triển kinh tế theo hớng sản xuất hàng hoá, khuyến khích các
thành phần kinh tế phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn, các yêu cầu này có ý nghĩa rất quan trọng.

Năng lực thực tiễn và năng lực trí tuệ có quan hệ mật thiết với nhau.
Năng lực trí tuệ là cơ sở của năng lực thực tiễn, năng lực trí tuệ càng phát triển
thì càng thuận lợi hình thành năng lực tổ chức thực tiễn. Ngợc lại, năng lực tổ
chức thực tiễn trong điều kiện nhất định lại tác động trở lại sự phát triển của
nhận thức trí tuệ.
1.1.2.2. Sức chiến đấu của TCCSĐ
Sức chiến đấu của TCCSĐ thể hiện ở sự thống nhất ý chí và hành động
trong Đảng, có sự thống nhất giữa Đảng với nhân dân. Trớc hết đó là sự đoàn
kết thống nhất trong Đảng về chính trị, t tởng và tổ chức, kỷ luật và hành
động, trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh,
lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, lấy tự phê

1
Hồ Chí Minh: Về công tác cán bộ, Nxb.Sự thât, Hà Nội, 1974, tr.86.
2
Lênin: Toàn tập, tập 1, Nxb.Tiến bộ, M, 1977, tr.362.

19
bình và phê bình làm quy luật phát triển của Đảng. Lênin nói: "Muốn đa
cách mạng đến thắng lợi, Đảng có một sự thống nhất ý chí hết sức chặt chẽ,
tuyệt đối"
1
. Trong điều kiện Đảng nắm chính quyền "nếu xảy ra chia rẽ thì
không chỉ là nguy hiểm mà còn là cực kỳ nguy hiểm"
2
. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhấn mạnh: "Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công"
3
. Đoàn
kết thống nhất trong đội ngũ đảng viên là nguồn gốc của mọi thắng lợi, là

Hồ Chí Minh: Về xây dựng Đảng, Nxb.Sự thật, H, 1980, tr.138.
4
Hồ Chí Minh: Về quan điểm quần chúng, Nxb.Sự thật, H, 1970, tr.90.

20
Sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của TCCSĐ không phải tự nhiên mà có,
nó phải đợc phấn đấu, rèn luyện và xây dựng thông qua chất lợng đội ngũ
cán bộ đảng viên và TCCSĐ. Phải từ hiệu quả công tác lãnh đạo thực hiện các
nhiệm vụ chính trị để tạo dựng uy tín, lòng tin. Vị trí, vai trò lãnh đạo của
TCCSĐ chỉ có thể đợc khẳng định trên cơ sở kết quả cụ thể đã đạt đợc và
qua thực tiễn kiểm nghiệm, Nghị quyết chỉ đi vào cuộc sống và đợc cuộc
sống đón nhận, nếu nó phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị và đáp ứng
đợc những nguyện vọng, lợi ích hợp pháp chính đáng của đông đảo quần
chúng.
TCCSĐ không thể có vai trò lãnh đạo và xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo
chính trị, nếu TCCSĐ đó có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu mờ nhạt, thụ
động, yếu kém. Đã qua thời kỳ mà nhiều khi ngời ta ngộ nhận giữa năng lực
thực tế với kinh nghiệm công tác "sống lâu lên lão làng". Kinh nghiệm, quả
thực đó là vốn quý, song kinh nghiệm đó phải gắn chặt với trình độ và sự hiểu
biết. Quần chúng không chỉ biết phục tùng, biết thực hiện, mà họ còn biết
sáng tạo. Sự sáng tạo là vô hạn và nảy sinh nhiều nhân tố mới, có năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu thì TCCSĐ mới làm chủ đợc tình hình và xử lý các
vấn đề phát sinh, định hớng mọi hoạt động của tập thể và mỗi cá nhân.
Vai trò lãnh đạo cần thiết phải đợc thể hiện ở trình độ, uy tín, phẩm chất
đạo đức, phẩm chất chính trị niềm tin của quần chúng. TCCSĐ (chi bộ cơ sở,
đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Bởi vì đây
là cầu nối liền Đảng với quần chúng, mọi đờng lối chính sách, luật pháp đều
đợc hình thành, thực hiện và kiểm nghiệm từ cơ sở, đây còn là nơi giáo dục
và rèn luyện, sàng lọc cán bộ, đảng viên, là nơi tạo nguồn giới thiệu cán bộ
cho các cấp, các ngành, đồng thời đây cũng là nơi hầu hết công việc của Đảng

chi bộ hợp thành một công xã gồm từ ba đến hai mơi thành viên, đó là hạt
nhân của công tác chính trị của Đảng trong quần chúng lao động. Đảng phải
Biến mỗi chi bộ của mình thành trung tâm và hạt nhân của các hiệp hội công
nhân, trong đó, lập trờng và lợi ích của giai cấp vô sản có thể đa ra thảo luận
độc lập với những ảnh hởng t sản
1
. Đó là những quan niệm đầu tiên của Mác
và Ăng ghen về vị trí, vai trò của TCCSĐ.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, để Đảng hình thành và phát triển, đủ sức lãnh
đạo phong trào, vấn đề cơ bản là phải tập trung xây dựng cho đợc các tổ chức
Đảng trong các công xởng, nhà máy, nơi khởi nguồn cuộc đấu tranh của giai

1
C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, tập 7, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1995, tr.348.

22
cấp công nhân. Những tổ chức Đảng nền tảng đó vững mạnh, bám chắc đợc
phong trào nh vậy sẽ khẳng định đợc vai trò của Đảng trớc phong trào cách
mạng của quần chúng công nhân, và qua đó mà làm cho Đảng ngày càng vững
mạnh. Các ông đã khẳng định: Lý luận cách mạng có đi vào và thấm sâu vào
phong trào công nhân hay không, giai cấp công nhân có đạt đến trình độ tự giác
trong cuộc đấu tranh cho mục đích, lý tởng của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động hay không, vai trò có ý nghĩa quyết định là ở các tổ chức Đảng trong
phong trào cách mạng của quần chúng đặc biệt là trong các cuộc đấu tranh trực
tiếp của bộ phận công nhân ở trong nhà máy, công xởng, cơ sở sản xuất
Nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng của các tổ chức đảng ở cơ sở, trong
suốt cuộc đời hoạt động của mình C.Mác và Ph.Ăngghen luôn chăm lo xây
dựng Đảng, xây dựng các chi bộ đảng ở cơ sở, gắn với các hoạt động của quần
chúng ở cơ sở. Những quan điểm lý luận của các ông đã trở thành lý luận quan
trọng trong công tác xây dựng Đảng ở các giai đoạn sau này.

Một mặt, Lênin phê phán gay gắt những biểu hiện tự do, cục bộ, tuỳ tiện ở
từng tổ chức đảng địa phơng và cơ sở, là nguy cơ phá vỡ tính tập trung thống
nhất của tổ chức đảng và nhà nớc xôviết. Ngời viết: "Tôi cần phải vạch rõ
cái xu hớng không thể chối cãi đợc nhằm bênh vực chế độ tự trị, chống lại
chế độ tập trung, là một đặc điểm có tính nguyên tắc của chủ nghĩa cơ hội
trong các vấn đề tổ chức
2
, vì vậy phải đem hết sức lực ( ), để phát huy một
tính chủ động lớn hơn ở cơ sở. Khi cách mạng chuyển từ thực hiện: Chính
sách cộng sản thời chiến sang Chính sách kinh tế mới là một bớc đột phá
lớn trong t duy nhận thức của Đảng cầm quyền lãnh đạo kinh tế, V.I.Lênin
cho rằng, trách nhiệm đó không chỉ của Ban Chấp hành Trung ơng, mà của
từng TCCSĐ và mỗi đảng viên. Chỉ trên cơ sở tăng cờng vai trò lãnh đạo,
phát huy tính chủ động sáng tạo của cơ sở thì những nhiệm vụ của Đảng
bônsêvích và chính quyền Xô-viết mới thành công.
Từ những quan điểm nêu trên cho thấy, ngay từ khi có tổ chức Đảng
Cộng sản đầu tiên và trong suốt quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng của
các Đảng cộng sản, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, đều khẳng định:
TCCSĐ giữ vị trí, vai trò to lớn trong quá trình hình thành và phát triển và
trong sự lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đảng mạnh là nhờ các TCCSĐ mạnh.
Những luận điểm và t tởng đó đã soi sáng cho công tác xây dựng Đảng
trong mọi thời kỳ và ngày nay đã trở thành cơ sở lý luận cho qúa trình xây
dựng Đảng và nâng cao chất lợng các TCCSĐ. 1
V.I.Lênin: Toàn tập, tập 41, Nxb.Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.232-233.
2
V.I.Lênin: Toàn tập, tập 8, Nxb.Tiến bộ, Mát xcơva, 1979, tr.466.


lãnh đạo thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, giữ vững chính quyền nhân
dân trong những năm 1945-1946, lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ thành công, đa cả nớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status