Mục lục
Mở đầu
Chương I: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng trong tình hình hiện nay
1.1. Khái niệm.
1.1.1. Tổ chức cơ sở Đảng.
1.1.2. .
1.1.3. .
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng về tổ chức cơ sở đảng
1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
1.3. Một số vấn đề về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
các tổ chức cơ sở Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Chương II: Thực trạng về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang
trong những năm qua
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội
của Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và tình hình tổ
chức cơ sở Đảng.
2.2. Thực trạng tổ chức cơ sở đảng ở Đảng bộ Thành phố
Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang trong những năm 2007-2010.
2.2.1. Về tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên của Đảng
bộ thành phố Tuyên Quang.
2.2.2. Thực trạng năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức
3
5
5
3.2.5. Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng
đối với chính quyền và các tổ chức chính trị- xã hội.
3.2.6. Tăng cường sự lãnh đạo của Thành uỷ đối với các chi,
Đảng bộ cơ sở.
3.3. Đề xuất và kiến nghị
Kết luận
Tài liệu tham khảo.
38
45
45
46
46
47
51
53
54
56
57
59
61
...................................................................................
MỞ ĐẦU
2
1. Lí do chọn đề tài:
Đảng cộng sản Việt Nam là đội quân tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt
Nam. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Trong quá trình đấu tranh và
cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các chi bộ và của toàn
Đảng bộ là một nhiệm quan trọng hiện nay.
Là Bí thư chi bộ Đội Quản lí thị trường số 1 thành phố Tuyên Quang,
tỉnh Tuyên Quang trực thuộc Đảng bộ Thành uỷ Tuyên Quang, sau khi được
học tập và nghiên cứu chương trình lý luận Chính trị tại Học viện Chính trị -
Hành chính khu vực I năm học 2010-2011, bản thân được trang bị lý luận một
cách cơ bản, kết hợp với thực tiễn công tác tại địa phương tôi chọn đề tài :
"NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ
ĐẢNG Ở THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY"
làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài :
* Mục đích :
Đề tài làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Thông qua đó
đánh giá thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang đồng thời đề xuất giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở
Đảng bộ thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Phân tích những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về tổ chức cơ sở đảng.
- Đánh giá thực trạng năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang, nguyên nhân của thực trạng đó.
4
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ thành phố Tuyên Quang cho ngang tầm
yêu cầu nhiệm vụ mới.
3. Phạm vi nghiên cứu :
quốc lần thứ X thông qua ngày 25/4/2006 đã ghi rõ: Tổ chức cơ sở đảng (chi
bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở,
được lập ra ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn vị
sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an và các đơn vị cơ sở khác có từ
3 đảng viên chính thức trở lên…
Khái niệm trên chỉ rõ tổ chức cơ sở đảng được gọi chung cho cả chi
bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở tùy thuộc vào số lượng đảng viên và yêu cầu nhiệm
vụ cụ thể của từng cơ sở. Theo đó, hình thức tổ chức cơ sở Đảng cũng được
phân ra nhiều loại khác nhau, nhưng có 3 hình thức cơ bản sau:
- Cơ sở có từ 3 đảng viên chính thức đến dưới 30 đảng viên thành lập
chi bộ cơ sở, dưới chi bộ có thể lập các tổ Đảng.
- Cơ sở có từ 30 đảng viên trở lên thành lập Đảng bộ cơ sở và có các
chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở.
- Đảng bộ có số lượng đảng viên đông, có thể thành lập Đảng bộ, bộ
phận trực thuộc Đảng uỷ cơ sở, dưới Đảng bộ, bộ phận có các chi bộ trực
thuộc.
- Những nơi do đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ muốn thành lập Đảng bộ
cơ sở có dưới 30 đảng viên, chi bộ cơ sở có trên 30 đảng viên hoặc thành lập
Đảng bộ, bộ phận thì phải được cấp uỷ cấp trên đồng ý mới thực hiện.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương
khoá VIII “Về những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện
nay” đã đề ra các nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn đảng; phải: "Kiểm tra, bổ
sung, hoàn thiện quy định chức năng, nhiệm vụ và quy chế hoạt động cụ thể
của các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Chấn chỉnh nền nếp sinh hoạt chi bộ,
6
phân công và kiểm tra công tác đảng viên. Đảng viên đang công tác ở các cơ
quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ,
đảng uỷ cơ sở nơi cư trú theo quy định cụ thể của Bộ Chính trị và gương mẫu
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr.139-140.
7
phân tích, đánh giá chất lượng các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên”
3
. “Cấp ủy
viên, nhất là cán bộ chủ chốt, có chương trình công tác ở cơ sở, tiếp xúc, lắng
nghe ý kiến và trả lời chất vấn của đảng viên và nhân dân”
4
.
Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX tổng kết nửa
nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đề ra giải pháp thực hiện thắng lợi
các mục tiêu, nhiệm vụ trong nửa nhiệm kỳ còn lại. Về công tác xây dựng
Đảng, Hội nghị đã yêu cầu: Trung ương, các cấp uỷ và tổ chức đảng phải
hướng về cơ sở, tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố cơ sở, coi đây là công
tác trọng tâm từ nay đến cuối nhiệm kỳ, nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt, góp
phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đặc
biệt là chi bộ. . Thực hiện tốt chính sách chế độ, tạo điều kiện cho cán bộ cơ
sở hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Xây dựng và thực hiện hệ thống quy
chế hoạt động của tổ chức đảng; làm tốt nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế,
chăm lo đời sống của nhân dân; thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm túc duy
trì kỷ luật, kỷ cương của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong từng chi bộ,
từng tổ chức cơ sở đảng và trong toàn Đảng
5
.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục xác định: Xây
dựng tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ
sống xã hội ở cơ sở, nhất là những địa bàn, lĩnh vực trọng yếu, có nhiều khó
khăn”
7
.
Những nghị quyết của Đảng về xây dựng tổ chức cơ sở đảng đó thể
hiện rõ quan điểm của Đảng ta về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của việc
xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng. Đây là vấn đề then chốt của nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết
định đến sự sống còn của Đảng và sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay.
Để thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ mà nghị quyết Đại hội
Đảng đã đề ra và đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, Đảng phải có những biện pháp phát huy ưu điểm, kiên
quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố, chỉnh đốn, nâng cao hơn
nữa sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của mình để ngày càng vững mạnh về
mọi mặt, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay.
Lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, coi
trọng tổng kết công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức cán bộ,
tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng, ngăn
chặn khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, đổi mới phương thức
hoạt động, nâng cao trình độ hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống
6
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.2006, tr. 132-133.
7
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.94.
9
ánh và thể hiện ở các tổ chức cơ sở đảng .
1.1.3. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
Là tổng hợp các thuộc tính cơ bản của người lãnh đạo, nhằm đáp ứng
những yêu cầu và hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng, đảm bảo hoạt động đạt
hiệu quả cao. Đó là khả năng đề ra chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chính
trị sát thực với thực tế ở địa phương và là khả năng thực hiện chủ trương thực
hiện công tác kiểm tra. Năng lực lãnh đạo gồm hai yếu tố: năng lực hiểu biết
và năng lực tổ chức thực hiện.
Năng lực hiểu biết. là tri thức toàn diện, khả năng nhận thức quan
điểm, đường lối chủ trương, nghị quyết, chính sách, pháp luật của Đảng và
Nhà nước để vận dụng sáng tạo, khoa học, phù hợp thực tiễn, có hiệu quả cao.
Năng lực tổ chức. là khả năng đề ra chủ trương, phương hướng công
tác đúng của Đảng bộ, tổ chức thực hiện chủ trương, phương hướng đó tại cơ
sở đạt hiệu quả cao: kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn
thiện các chủ trương công tác của Đảng bộ.
Để có được năng lực lãnh đạo, người cán bộ, đảng viên phải có trình
độ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ tốt, phải nắm vững, quán triệt chủ trương
đường lối, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và cấp trên. Hiểu biết sâu sắc về
công nghệ tiến tiến để áp dụng vào công việc của mình. Đồng thời, nắm vững
tình hình đặc điểm của đơn vị, khai thác thế mạnh, tiềm năng và tổ chức vận
dụng sáng tạo, biết tổ chức, vận động quần chúng thực hiện nghị quyết của
Đảng.
Biết tổ chức bộ máy hoạt động có hiệu quả, tích cực áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào công tác và đời sống. Năng lực lãnh đạo còn thể
hiện ở năng lực kiểm tra các tổ chức, đoàn thể và mỗi người thực hiện nghị
quyết trên cơ sở đó, rút ra kinh nghiệm, phát huy ưu điểm, khắc phục nhược
điểm để tổ chức thực hiện nghị quyết sau tốt hơn.
Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng thể hiện trước hết ở năng
lực ban hành nghị quyết; năng lực tuyên truyền cổ động, đưa đường lối của
và được cuộc sống đón nhận, nếu nó phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị và
12
đáp ứng được những nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đông đảo quần
chúng.
Sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được thể hiện ở việc thực hiện
các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; ở kết quả xây dựng tổ chức cơ
sở đảng trong sạch vững mạnh và chất lượng đội ngũ đảng viên.
Sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X khái quát như sau:
- Ý chí phấn đấu quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chính trị;
- Phẩm chất đạo đức, tác phong lối sống của cán bộ, đảng viên;
- Tinh thần tự phê bình và phê bình, sự đoàn kết thống nhất nội bộ.
* Mối quan hệ giữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng:
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu là hai yếu tố tạo nên sự lãnh đạo
của Đảng. Nếu thiếu một trong hai yếu tố đó thì Đảng không giữ được vai trò
lãnh đạo cách mạng và Đảng không thể tồn tại được. Năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng là mối liên hệ hữu cơ chặt chẽ, chúng thâm nhập vào
nhau, tác động thúc đẩy nhau, làm tiền đề để tồn tại và phát triển của nhau.
Đó là mối liên hệ nhân quả trong sự lãnh đạo cách mạng của Đảng. Năng lực
lãnh đạo của Đảng càng được nâng lên bao nhiêu thì sức chiến đấu của Đảng
càng được củng cố bấy nhiêu, ngược lại sức chiến đấu càng được củng cố,
nâng cao thì năng lực lãnh đạo của Đảng càng được nâng lên.
Khi năng lực lãnh đạo của đảng được nâng lên, đảng có nhận thức lý
luận sâu rộng, có tư duy khoa học, nắm bắt được quy luật vận động của sự
vật, đủ kiều kiện vận dụng tri thức khoa học và tổ chức thực tiễn, đưa ra chủ
trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của quần chúng, cổ vũ
phong trào cách mạng, thì khối đoàn kết trong đảng được củng cố, sức chiến
thành trung tâm và hạt nhân của các hiệp hội công nhân, trong đó, lập trường và
lợi ích của giai cấp vô sản có thể đưa ra thảo luận độc lập với những ảnh hưởng
tư sản”
8
. Đó là những quan niệm đầu tiên của Mác và Ăng ghen về vị trí, vai trò
của tổ chức cơ sở đảng.
8
C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1995, tr.348.
14
Nhận thức ra vị trí, vai trò quan trọng của các tổ chức Đảng ở cơ sở,
trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn chăm lo
xây dựng Đảng, xây dựng các chi bộ đảng ở cơ sở, gắn với các hoạt động của
quần chúng ở cơ sở. Những quan điểm lý luận của các ông đó trở thành lý
luận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng ở các giai đoạn sau này.
Sau khi C.Mác và Ph.Ăngghen qua đời, V.I.Lênin là người kế tục sứ
mệnh của hai ông. Lênin khẳng định: Đảng phải là tổ chức chính trị cao nhất,
có tổ chức chặt chẽ của giai cấp công nhân. Trong việc xây dựng tổ chức bộ
máy của Đảng, Lênin đặc biệt chú ý đến xây dựng các “nhóm” các “tiểu tổ”
công tác ở các công xưởng, nhà máy, hầm mỏ (các tổ chức đảng ở cơ sở).
Người coi đó là nhiệm vụ đầu tiên và cấp thiết của Đảng, để Đảng thật sự là
cơ thể sống bám chắc vào cơ sở, vào quần chúng lao động từ Trung ương đến
địa phương.
Trong cuộc đấu tranh để xây dựng “Đảng kiểu mới” của giai cấp công
nhân, V.I.Lênin hết sức coi trọng chăm lo xây dựng các tiểu tổ công nhân dân
chủ-xã hội, phát triển những tiểu tổ đó trở thành những chi bộ cơ sở trong các
nhà máy, công xưởng, khu dân cư của Đảng Bônsêvích Nga.
Khi Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Mười
Nga giành thắng lợi, đứng trước những nhiệm vụ nặng nề, phức tạp của đảng
triển và trong sự lãnh đạo cách mạng của đảng. Đảng mạnh là nhờ các tổ chức
cơ sở đảng mạnh. Những luận điểm và tư tưởng đó đã soi sáng cho công tác
xây dựng Đảng trong mọi thời kỳ và ngày nay đó trở thành cơ sở lý luận cho
quá trình xây dựng Đảng và nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đảng của
Đảng ta.
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh
Vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về chính Đảng
vô sản, Hồ Chí Minh đó có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Trong hành trình tìm đường cứu nước, mối quan tâm lớn
của Hồ Chí Minh là bằng cách nào để tập hợp được lực lượng dân tộc thành
một khối đoàn kết, thống nhất. Câu hỏi đó đã được giải đáp khi đến với chủ
nghĩa Mác-Lênin. Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin không những
9
V.I. Lênin: Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.232-233.
16
đã chỉ ra mục tiêu, lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
con người, mà còn cung cấp một khoa học về tổ chức lực lượng giai cấp và dân
tộc để thực hiện cuộc cách mạng. Người viết: Muốn làm cách mệnh thì "Trước
hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài
thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách
mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”
10
.
Trên những định hướng ấy, ngay từ Điều lệ vắn tắt của Đảng do Hồ
Chí Minh soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng 3-2-1930 đó
chỉ rõ cách thức tổ chức Đảng từ Trung ương đến chi bộ. Trong đó, "Chi bộ
gồm tất cả đảng viên trong một nhà máy, một công xưởng, một hầm mỏ, một sở
xe lửa, một chiếc tàu, một đồn điền, một đường phố...”.
nhân dân; đối với Đảng thì củng cố tốt và phát triển tốt
12
. Để các chi bộ ngày
càng vững mạnh, Người yêu cầu phải phát huy tinh thần tự phê bình và phê
bình, phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng; "Huyện uỷ, Thành uỷ, Tỉnh uỷ
cần phải đi sâu ,đi sát đến các chi bộ, cần phải giúp đỡ các chi bộ một cách
thiết thực và thường xuyên. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, huyện uỷ cần chỉ đạo riêng
chi bộ để rút kinh nghiệm về xây dựng chi bộ "bốn tốt”
13
. Trong Di chúc, điều
đầu tiên mà Người căn dặn cũng là "nói về Đảng": "Các đồng chí từ Trung -
ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí như giữ gìn con ngư-
ơi của mắt mình"
14
. “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần
chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy
được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng”
15
.
1.2.3. Quan điểm của Đảng về tổ chức cơ sở đảng
Những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng là cơ sở lý luận đó được Đảng ta vận
dụng đúng đắn, sáng tạo trong thực tiễn xây dựng Đảng ta trong hơn 80 năm
qua.
Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng
định tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt
nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức
đảng. Nhưng mặt khác, sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế
tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đạt được
những chuyển biến tiến bộ, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước.
Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của các tổ chức cơ sở đảng chưa ngang tầm.
Thứ hai, hiện nay nước ta đang chuyển sang thời kỳ phát triển mới -
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vững bước tiến
lên chủ nghĩa xã hội. Chính thời kỳ mới đó đặt ra cho việc nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nhiều thuận lợi, thời cơ, vận
19
hội lớn, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức, những nguy cơ không
thể xem thường như: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu
vực; chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tham nhũng và tiêu cực; diễn biến hòa
bình. Không những vậy, chúng ta chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế. Trong cơ chế thị trường,
bên cạnh mặt tích cực nếu không có sự quản lý chặt chẽ, kịp thời, không có
giải pháp điều tiết hữu hiệu thì nền kinh tế có thể bị chệch hướng, một bộ
phận giàu lên nhanh chóng, đẩy nhanh sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn
giữa các giai cấp tầng lớp trong xã hội, xuất hiện khuynh hướng chạy theo
đồng tiền. Hệ quả của khuynh hướng này đang làm thay đổi quan niệm về sự
hóa trong xã hội. Tình hình trên đây đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi Đảng ta phải
trong sạch, vững mạnh. Muốn Đảng ta trong sạch vững mạnh thì Đảng tiếp
tục không ngừng xây dựng và chỉnh đốn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu.
Thứ ba, thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học và công
nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò nổi bật
thủ đoạn phá hoại của địch, nếu không cảnh giác, không chăm lo xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức thì tổn thất đối
với cách mạng là không thể lường hết được.
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ
CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TRONG
NHỮNG NĂM QUA
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của Thành phố
Tuyên Quang
*) Đặc điểm tự nhiên-xã hội:
21
Thành phố Tuyên Quang, có vị trí địa lý: Thành phố nằm hai bên bờ sông
Lô, được che chắn bởi các dãy núi cao và xen kẽ nhiều đồi núi thấp. Độ cao
trung bình dưới 500m và hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, độ dốc thấp dần
dưới 25°. Từ Hà Nội đi lên phía Bắc khoảng 165km theo quốc lộ 2 có thể tới
Thành phố Tuyên Quang (đi đường sơn nam thì chỉ mất 130km).Địa giới
hành chính: Thành phố được xác định: phía đông, phía bắc, phía tây giáp
huyện Yên Sơn; phía nam giáp huyện Sơn Dương. Như vậy, đô thị trong
tương lai sẽ có 3 khu chính: khu nội thị, 2 khu đô thị vệ tinh gồm khu du lịch
sinh thái nằm ở phía Tây Nam và khu công nghiệp nằm ở phía Nam Thành
phố.
Diện tích: Thành phố Tuyên Quang có diện tích 11.917,45 ha đất tự nhiên.
Khí hậu của TP Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu
ảnh hưởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, có hai mùa rõ rệt, mùa đông lạnh -
khô hạn và mùa hè nóng ẩm-mưa nhiều. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt
1.295-2.266 mm. Nhiệt độ trung bình 22°-23°C. Độ ẩm bình quân năm là
85%.
Thành phố có 23.255 hộ, với khoảng 13,9 vạn dân. Có tổng số đơn vị
kinh tế chuyển dịch đúng hướng (tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ
trọng nông, lâm nghiệp), Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm 15%. Công
nhgiệp, TCN và xây dựng 49%. dịch vụ, du lịch 46%. Nông lâm nghiệp 5%.
* Về xã hội: Do quá trình đô thị hoá các khu công nghiệp, các dự án về
công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ trên địa bàn thành phố phát triển
với tốc độ ngày càng tăng; thu nhập của đại bộ phận nhân dân thành phố ngày
càng được nâng lên song bên cạnh đó nảy sinh các vấn đề bất cập. Quỹ đất
nông nghiệp có xu hướng ngày càng thu hẹp, nhu cầu chuyển dịch lao động từ
nông nghiệp sang làm công nghiệp, dịch vụ tăng. Song quy mô phát triển các
ngành công nghiệp, dịch vụ chưa đủ điều kiện để thu hút lao động từ nông
23
nghiệp sang và những hạn chế trong trình độ tay nghề lao động đưa đến nguy
cơ thất nghiệp của bộ phận lao động làm nông nghiệp ngày càng cao. Quá
trình đô thị hoá đã và đang làm cho thu nhập chênh lệch tăng. Các vấn đề về
xã hội như: số lượng người nước ngoài đến lưu trú làm việc trong các cơ
quan, doanh nghiệp và số lượng người vi phạm pháp luật Việt Nam có chiều
hướng gia tăng; tình hình tai, tệ nạn xã hội vẫn còn diễn ra trên địa bàn thành
phố.
2.2. Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Tổ chức cơ sở
đảng ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang
2.2.1. Về tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên của Đảng bộ Thành
phố Tuyên Quang
*) Về tổ chức cơ sở đảng: Đảng bộ Thành phố có 38 Chi, Đảng bộ cơ sở
với 5.981 đảng viên, trong đó có 04 loại hình TCCS Đảng:
- 13 Đảng bộ phường, xã;
- 14 Chi, Đảng bộ cơ quan, đơn vị hành chính;
- 09 Chi, Đảng bộ sự nghiệp;
- 02 Đảng bộ lực lượng vũ trang;
24
Toàn Đảng bộ Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang có 5.981
đảng viên; trong đó: Đảng viên là nữ: 1.767 đ/c chiếm tỷ lệ 29,54%
Dưới 30 tuổi: 854 đ/c = 14,28%
Từ 31 đến 40 tuổi: 1.829 đ/c = 30,58%
Từ 41 đến 50 tuổi: 1.321 đ/c = 22,09%
Từ 51 đến 60 tuổi: 1.084 đ/c = 18,12%
61 tuổi trở lên: 893 đ/c= 14,93%.
Trình độ học vấn:
Tiểu học: 123 đ/c= 2,06%
Trung học cơ sở 841 đ/c = 14,06%
Trung học phổ thông 5.017 đ/c= 83,88%
Trình độ chuyên môn:
Sơ cấp 315 đ/c=5,26%
Trung cấp 421 đ/c=7,04%
Cao đẳng 1.919 đ/c= 32,08%
Đại học 3.189 đ/c= 53,32%
Trên đại học 137 đ/c= 2,3%
Trình độ lý luận chính trị:
Sơ cấp 3.878 đ/c= 64,84%
Trung cấp 1.572 đ/c= 26,28%
Cao cấp, cử nhân 531đ/c = 8,88%
Đảng viên được tặng huy hiệu: 30,40,50,60 năm tuổi Đảng: Trong 4
năm 2007 - 2010 là 1.187 đ/c.
* Trong đó:
+ Đảng viên được tặng 30 năm tuổi Đảng : 501 đồng chí
+ Đảng viên được tặng 40 năm tuổi Đảng : 305đồng chí
+ Đảng viên được tặng 50 năm tuổi Đảng : 247 đồng chí
+ Đảng viên được tặng 60 năm tuổi Đảng : 134 đồng chí