LUẬN VĂN: Công tác vận động thanh niên vùng Công giáo tập trung của tổ chức cơ sở Đoàn ở Thanh Hóa hiện nay - thực trạng và giải pháp pot - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Công tác vận động thanh niên vùng Công giáo
tập trung của tổ chức cơ sở Đoàn ở Thanh Hóa
hiện nay - thực trạng và giải pháp Mở đầu

với tình hình. Thanh niên Công giáo Thanh Hóa chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong bộ
phận thanh niên, họ đang đứng trước những thách thức lớn. Nhiều nơi thuộc vùng Công
giáo tập trung ở Thanh Hóa, tổ chức cơ sở Đoàn chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo. Một bộ phận thanh niên
Công giáo mơ hồ về lý tưởng cách mạng, thờ ơ với chính trị, với hoạt động của Đoàn
thanh niên; tích cực tham gia các hoạt động trong đời sống tôn giáo. Việc tìm ra những
phương hướng và giải pháp đúng đắn để nâng cao chất lượng công tác vận động thanh
niên Công giáo của các tổ chức cơ sở Đoàn vùng Công giáo tập trung là một nhiệm vụ
cấp bách hiện nay đang thu hút sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý ở Thanh Hóa,
mà trực tiếp là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Với khát vọng muốn đóng góp phần nhỏ bé
của mình vào công việc chung đó của tỉnh, tôi chọn vấn đề: "Công tác vận động thanh
niên vùng Công giáo tập trung của tổ chức cơ sở Đoàn ở Thanh Hóa hiện nay - thực
trạng và giải pháp" làm đề tài tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Do tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng tín đồ tôn giáo tham gia sự
nghiệp cách mạng của Đảng, trong một số năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên
cứu vấn đề này dưới những góc độ khác nhau, như: "Vấn đề xây dựng Đảng ở một số
vùng có đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở miền Bắc" đề tài khoa học cấp Bộ, Viện xây dựng
Đảng - Viện Mác - Lênin - Hồ Chí Minh, thực hiện năm 1995; "Công tác đoàn kết tập hợp
thanh niên tín đồ tôn giáo trong thời kỳ mới", báo cáo khoa học của Trung ương Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, thực hiện năm 1999;
"Phát triển Đảng trong các vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa" của tiến sĩ Ngô Hữu
Thảo, Tạp chí Xây dựng Đảng số 4 năm 1999; "Công tác vận động quần chúng theo đạo
Thiên Chúa ở miền Bắc nước ta hiện nay (dưới góc độ tâm lý xã hội)", Luận văn thạc sĩ
khoa học lịch sử của Hoàng Mạnh Đoàn; "Tìm hiểu mặt chính trị của vấn đề Thiên Chúa
giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành
CNXHKH của Nguyễn Văn Luyện; "Vận dụng quan điểm khoa học về tôn giáo trong

công tác đối với Thiên Chúa giáo hiện nay ở Việt Nam", Luận án tiến sĩ triết học của
Nguyễn Văn Long

4.1.Cơ sở lý luận: Đề tài được nghiên cứu, thực hiện trên quan điểm lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về công tác vận động tín
đồ tôn giáo tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; những chủ trương của
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về công tác vận động thanh niên nói chung, thanh
niên Công giáo nói riêng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng triệt để những quan điểm
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc
biệt chú ý phương pháp kết hợp lịch sử và lôgíc, đối chiếu so sánh qua thực tế điều tra,
khảo sát địa bàn vùng Công giáo tập trung ở Thanh Hóa.
5. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần đánh giá thực trạng hoạt động của tổ chức cơ sở Đoàn trong
công tác vận động thanh niên vùng Công giáo tập trung ở Thanh Hóa. Trên cơ sở đó, đề
xuất một số nội dung, giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở Đoàn
trong việc nâng cao chất lượng công tác vận động thanh niên vùng Công giáo tập trung ở
Thanh Hóa.
6. ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Luận văn góp phần giúp cho các tổ chức cơ sở Đoàn ở vùng Công giáo làm tốt
công tác vận động thanh niên Công giáo tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy chuyên
đề về công tác vận động quần chúng ở các trường Chính trị tỉnh, huyện.
7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.

; vùng
trung du và miền núi 7.893,41 km
2
; còn lại là đảo, sông và hồ (268,47 km
2
).
Hệ thống sông ở Thanh Hóa theo bướng Tây-Bắc - Đông-Nam và Đông-Tây đều
đổ ra biển Đông.
Biển Thanh Hóa thuộc vịnh Bắc Bộ, phía ngoài cách bờ biển khoảng 290 km có
đảo Hải Nam (của Trung Quốc) diện tích thềm lục địa 18.000 km
2
, biển nông và bằng phẳng.
Có thể nói Thanh Hóa như là một hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam với đủ
các vùng rừng núi, trung du, đồng bằng và thềm lục địa, có khả năng xây dựng và phát
triển tương đối toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
Thanh Hóa là một tỉnh dân số đông, (tính đến tháng 1 năm 2000 là 3 triệu 562
nghìn 357 người), đứng thứ hai so với các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Toàn tỉnh Thanh Hóa có 27 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; trong đó có 11
huyện miền núi, 5 huyện miền biển, 8 huyện đồng bằng,
1 thành phố và 2 thị xã; có 630 đơn vị xã, phường, thị trấn; có 48 xã ven biển, 195 xã, thị
trấn miền núi (có 88 xã vùng cao, 13 xã có chung đường biên giới với nước bạn Lào) [16,
tr. 6-7].
Thanh Hóa là một trong những cái nôi của nền văn hóa dân tộc với: Văn hóa Núi
Đọ (Sơ kỳ thời đại đá cũ); Văn hóa Sơn Vi (Hậu kỳ thời đại đá cũ); Văn hóa Hòa Bình;
Văn hóa Bắc Sơn; Văn hóa Đa Bút (thời đại Đá mới); Văn hóa Hoa Lộc (thời Đồng Đá);
Văn hóa Đông Sơn và Bộ Cửu Chân thời Hùng Vương. Nhân dân Thanh Hóa cũng đã
đóng góp nhiều sức người, sức của vào quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tên
tuổi của Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân
luôn là niềm tự hào của nhân dân Thanh Hóa, của dân tộc Việt Nam. Trong hai cuộc

tiếp tục sứ vụ đã bắt đầu. Trong ít ngày đã có 32 người dân ở cửa Bạng và các vùng lân
cận chịu phép rửa tội. Trong thời gian này, hai giáo sĩ đã chọn ngày thứ 6 Tuần Thánh
làm ngày suy tôn Thánh giá, tổ chức lễ dựng Thánh giá trên núi, đánh dấu điểm bắt đầu
cuộc truyền bá của Giáo hội xứ Bắc [18, tr. 124-125].
Đến tháng 2-1896, thị xã Thanh Hóa lúc bấy giờ (nay là thành phố Thanh Hóa)
chưa có nhà xứ, chỉ có một nguyện đường nhỏ với phòng lợp tranh thuộc họ Thí Trường
(Trường Thi) và nhà nuôi cô nhi. Thời gian này, Đức cha Thành (Giám mục phó Giáo
phận Hà Nội), tới Thanh Hóa, ngỏ ý muốn lập Tòa giám mục cho Giáo phận mới sẽ được
thiết lập. Nhưng lúc ấy, thị xã Thanh Hóa giáo dân quá ít, ở rải rác xa nhau. Do đó, ông
đã thay đổi ý định và chỉ lập ở đây một giáo xứ quy tụ các họ đạo Thí Trường, Đức Thọ,
Yên Vực (phía nam cầu Hàm Rồng) Đại Tiền, Kẻ Son, Phù Chẩn, Bình Đơn và Giàng,
cách nhau từ 1-5 km. Tất cả 8 họ đạo với 350 tín hữu gọi là Giáo xứ Thí Trường. Linh
mục Huyền được cử là chính xứ đầu tiên.
Cuối năm 1896, Đức cha Thành từ Thanh Hóa trở ra Phát Diệm ngỏ lời với cha
Trần Lục muốn đặt Tòa giám mục ở đây. Cha Trần Lục vui vẻ đồng ý ngay. Sau khi báo
cáo với Tòa Thánh Roma, ngày 15 tháng 4 năm 1901, Tòa Thánh Roma đã ra chiếu thư

về việc thiết lập Giáo phận mới, bao gồm tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa và Châu Lào, mang
tên Giáo phận xứ Thanh (cũng gọi là Bắc kỳ Duyên hải). Từ năm 1924 cải tên là Phát
Diệm - nơi đặt Tòa giám mục. Đức cha Alexandre Marcou Thành làm đại diện Tông tòa
tiên khởi [18, tr. 120-121].
Phát Diệm phát triển nhanh và tăng dân số, vấn đề đặt ra là phải chia Giáo phận.
ở Ba làng đã có trường Bảng rộng lớn, khi thành lập Giáo phận mới sẽ kiêm cả Tiểu
chủng viện và trường Triết học. Tòa giám mục và Sở nhà chung được quyết định đặt ở thị
xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa). Năm 1930, công việc kiến thiết nhà thờ
tỉnh được bắt đầu. Ngày 21-6-1932, sau thời gian chuẩn bị, Tòa thánh ban chiếu thư thiết
lập Giáo phận Thanh Hóa - gồm tỉnh Thanh Hóa (13 phủ, huyện) và tỉnh Sầm Nưa (6 châu
thuộc Lào) với diện tích khoảng 20.000 km
2
, tổng dân số 1.400.000 người Việt, 80.000

ngưỡng", "Chúa đã vào Nam", "Mỹ sẽ ném bom nguyên tử xuống miền Bắc" Bằng
những thủ đoạn tuyên truyền lừa bịp và sự cưỡng ép tàn bạo của địch, hàng ngàn giáo
dân đã lìa bỏ quê hương di cư vào Nam. ở nhiều nơi, bọn phản động lợi dụng tôn giáo đã
tập hợp bọn côn đồ chống đối, vu cáo chính quyền cách mạng" [16, tr. 13-14]. Hoạt động
của bọn phản động cấu kết với các phần tử đội lốt tôn giáo nhằm chống phá chính quyền
cách mạng, lôi kéo giáo dân. Tại Thanh Hóa, hoạt động đó được biểu hiện rõ nhất, phức
tạp nhất là ở Nga Sơn và Tĩnh Gia.
Trước năm 1954, Giáo hội Công giáo Nga Sơn liên kết với đế quốc Pháp và bọn tay
sai, thành lập nhiều tổ chức chính trị phản động chống phá cách mạng nhằm đưa Nga Sơn
thành trung tâm tôn giáo của tỉnh Thanh Hóa tự trị. Chúng đã biến hầu hết các nhà thờ thành
trung tâm đào tạo, huấn luyện phản động tay sai. Thánh đường trở thành "đồn bốt giặc".
Nhiều giáo sĩ không chỉ làm chức năng truyền đạo, mà còn là những tên mật vụ chỉ điểm
cho kẻ thù vây bắt cán bộ, đảng viên. Linh mục Lê Thành Thục đã cùng thực dân Pháp
trực tiếp đem quân đi càn quét vùng giáo Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga Thanh. Nhà
thờ Tam tổng đã trở thành một đồn địch thực sự. Địch bố trí các hỏa lực trên tháp
chuông, các lỗ châu mai xung quanh nhà thờ. Năm 1954, Lê Thành Thục tiếp tục tuyên
truyền thúc ép giáo dân di cư vào Nam, chống phá quyết liệt phong trào xây dựng hợp tác
hóa bằng cách đe dọa giáo dân: nếu không ra khỏi hợp tác xã sẽ bị "rút phép thông công".

ở Tĩnh Gia, bọn phản động đã tập trung bọn côn đồ âm mưu gây bạo loạn, cưỡng
ép 2.000 giáo dân từ Thượng Chiểu về Ba Làng chống lại chính quyền. ở các huyện
Quảng Xương, Nông Cống, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Thành phố Thanh Hóa bọn phản
động đã len lỏi vào nhà thờ, vào khu vực tập trung dân cư theo đạo Công giáo để tuyên
truyền, kích động và tổ chức di cư Đêm ngày 1, rạng sáng ngày 2-1-1955, lợi dụng
chính quyền đuổi bắt 11 tên phản động dùng thuyền đánh cá liên lạc với tàu Pháp, bọn
phản động kích động hơn 1.000 giáo dân vào đâm chém và bắt đi 6 cán bộ, làm bị thương
40 người khác. Chính quyền đã sử dụng lực lượng trấn áp bọn phản động trong nhà thờ
Ba Làng. 400 tên côn đồ, trong đó có những kẻ cầm đầu phải đầu hàng. Trước âm mưu
của bọn phản động, mặc dù các cấp ủy Đảng và Chính quyền đã tích cực tuyên truyền
giải thích cho đồng bào giáo dân thấy được âm mưu của địch, vận động hơn 4.000 giáo

chiến lược của Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay do Vatican chỉ đạo là không nên
manh động, đối đầu với Nhà nước mà phải tập trung vào các hoạt động để phát triển thế
lực của Giáo hội, làm cho Giáo hội có đủ lực lượng để làm đối trọng với Nhà nước ta.
Như vậy, ý đồ của Vatican là củng cố thế và lực cho Giáo hội Công giáo Việt Nam đủ
mạnh để có thể sử dụng Giáo hội như một công cụ, phương tiện chống phá ta lâu dài;
dùng Giáo hội Công giáo Việt Nam để làm xói mòn cơ sở quần chúng và các cơ sở của ta
trong các vùng giáo, biến các địa phận Công giáo thành lãnh địa riêng [32, tr. 61].
Cùng với Vatican, các thế lực phản động quốc tế đứng đầu là Mỹ coi việc lợi
dụng Giáo hội Công giáo nước ta như một công cụ để thực hiện chiến lược "Diễn biến
hòa bình" ở Việt Nam. Theo Giáo sư, tiến sĩ Chu Nguyên Chương, Việt kiều ở Mỹ:
"Giáo hoàng John Paul II sẵn sàng cho Mỹ mượn đạo quân thứ 5 hiện đang nằm vùng
ngay trong nước Việt Nam. Đạo quân gồm 5 triệu người Kytô giáo có tổ chức chặt chẽ,
hết sức cuồng tín và sẵn sàng nhận lệnh của Vatican bất cứ lúc nào" [14, tr. 4].
Biểu hiện rõ nét ở Thanh Hóa, hoạt động của Giáo hội là tăng cường, củng cố cơ
sở vật chất thật vững, dùng nhiều biện pháp hấp dẫn, tâm lý phù hợp với lứa tuổi nhằm
phát triển tín đồ, gây thanh thế Giáo hội. ở tất cả các xứ, Giáo hội dùng giáo quyền đưa
tín đồ vào hội đoàn, củng cố hội đoàn cũ, hình thành các hội đoàn mới, tăng cường các
hình thức hoạt động nhằm hợp thức các tổ chức mà Chính quyền không cho phép. Các

Linh mục được thuyên chuyển để hoạt động phù hợp với từng giáo xứ, đưa các Linh mục
trẻ có năng lực đến các vùng "khó khăn". Tăng cường đào tạo Linh mục. Tăng cường
"rao giảng lời chúa". Tổ chức các lớp học kinh bổn cho mọi lứa tuổi, đặc biệt chú trọng
tới lớp trẻ, đưa nữ tu xuống dạy kinh bổn ở các giáo xứ. Sau khi học là tổ chức các kỳ thi,
sát hạch dưới nhiều hình thức khác nhau, có đánh giá và khen thưởng từng đối tượng.
Một số chức sắc, chức việc có tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, vâng phục, lợi dụng chính
sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đó là việc một số
Linh mục ở Ba Làng (Tĩnh Gia) Sầm Sơn, Hà Trung có những việc làm cố ý không
thông qua chính quyền. Có nơi, chức sắc, chức việc ngăn cản tín đồ tham gia các hoạt
động xã hội, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm cho các tổ
chức quần chúng ở địa phương gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, tổ chức hoạt động.

Thanh Hóa 2 triệu, giáo dân toàn tỉnh 100 triệu [4, tr. 4].
Có thể nói, hoạt động của Giáo hội Thanh Hóa những năm gần đây thực sự đa
dạng, nhiều hình thức mới, cuốn hút đông đảo giáo dân - nhất là lực lượng thanh niên.
Điều đó đang tác động không ít tới tư tưởng, tâm lý quần chúng tín đồ, ảnh hưởng tới đời
sống, sinh hoạt và sự phát triển chung của xã hội. Hiện nay, ở Thanh Hóa tuy chưa thấy
xuất hiện những vấn đề chính trị phức tạp, song tình hình trên vẫn là những vấn đề mà
các cấp lãnh đạo, quản lý ở Thanh Hóa - trong đó có tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
đáng quan tâm.
Từ tình hình đạo Công giáo ở Thanh Hóa, thực tế khảo sát các vùng công giáo
tập trung, bước đầu có thể rút ra một số đặc điểm như sau:
Một là, đạo Công giáo Thanh Hóa không có vùng toàn tòng mà chỉ có vùng tập
trung hoặc đan xen trong các vùng dân cư, có các tôn giáo khác hoặc không có tôn giáo.
Cho đến nay, Thanh Hóa có 18/27 huyện thị, thành phố có tín đồ theo đạo
Công giáo, được rải rác từ vùng biển tới khu vực miền núi. Tổng số giáo dân là
140.000 với 22.316 hộ (thống kê của Tòa giám mục Thanh Hóa là 111.520 người,
của Ban Tôn giáo ủy ban nhân dân tỉnh là 120.000 người). Toàn tỉnh có 46 xứ đạo
và phiên, 232 họ đạo, có 1 Giám mục, 35 linh mục, 7 tu sĩ và 63 nữ tu, có 267 người
tham gia ban hành giáo, 85 phó, chánh trương. Cơ sở thờ tự có 44 nhà thờ xứ, 1 nhà

thờ phiên, 188 nhà thờ họ, 12 nhà huyện, 5 nhà dòng và Tòa giám mục. Một số
huyện có đông tín đồ như Thọ Xuân, Nga Sơn, Tĩnh Gia, Vĩnh Lộc [5, tr. 3].
Hai là, Giáo dân Thanh Hóa phần đông là người lao động, chủ yếu là nông dân,
ngư dân. Họ là những người cần cù lao động, gắn bó với quê hương, có tinh thần đoàn
kết cộng đồng.
Điều kiện tự nhiên của vùng giáo dân Thanh Hóa, trừ thành phố Thanh Hóa, chủ
yếu là ven biển, vùng sâu, vùng xa, vùng thường xuyên gặp nhiều khó khăn về điều kiện
sản xuất, đi lại, điện nước sinh hoạt, điều kiện học hành của các em và các nhu cầu văn
hóa khác.
Những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, đồng bào giáo dân đã
hưởng ứng tích cực, phát huy nguồn lực của cộng đồng, đầu tư sản xuất, chuyển dịch cơ

những năm gần đây, tuy đã được cải thiện, song so với yêu cầu chung thì còn nhiều thấp
kém; giác ngộ chính trị thấp, nhiều người thiếu hiểu biết về pháp luật, ý thức vươn lên
làm chủ chưa cao, nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng có xu hướng tăng.
Trong nhiều khó khăn của giáo dân hiện nay thì vấn đề gia tăng dân số được xem
như là biểu hiện của kết quả và đồng thời là nguyên nhân của tình trạng này. Tỷ lệ tăng
dân số cao, có nơi còn quá cao, tỷ lệ người sinh con thứ 3 khá phổ biến [57, tr. 4]. Ví như
ở xã Thọ Xương (Thọ Xuân) tỷ lệ sinh năm 1998 là 1,4%; năm 1999 là 1,47%; dự kiến
năm 2000 sẽ là trên 1,5%. Trong khi đó, mặt bằng chung của toàn huyện Thọ Xuân về tỷ
lệ sinh là 0,86%.
Trình độ học vấn nhìn chung là rất thấp, tại vùng Công giáo Thanh Hóa phổ biến
là văn hóa tiểu học, trung học cơ sở, trình độ phổ thông trung học rất ít. Một bộ phận tín
đồ mê tín, tính vâng phục cao và dễ bị sai khiến, lợi dụng theo lời chức sắc Công giáo, kể
cả những vấn đề trái với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Gần đây, ở các
vùng Công giáo, thời gian đi lễ nhà thờ, học giáo lý, kinh bổn kéo dài, ảnh hưởng đến sản
xuất, đời sống; giáo dân phải đóng góp tiền bạc xây dựng, sửa chữa nhà thờ dưới sức ép
của chức sắc tôn giáo với nhiều hình thức, và giá trị phân bổ khá lớn nhưng không dám
đấu tranh. Có nơi, giáo dân phải đóng góp cho Giáo hội ít nhất là 200.000 đồng đến

500.000 đồng. ở vùng Công giáo Nga Sơn và một số vùng khác, Linh mục gửi phong bì
đến từng hộ gia đình để quyên tiền. Nhiều hộ giáo dân nghèo phải đi vay để nộp [4, tr. 5].
Nhìn chung vùng Công giáo Thanh Hóa phổ biến là khó khăn, trình độ dân trí
thấp, đời sống còn những thiếu thốn. Đa số giáo dân biết ơn Đảng và Nhà nước đã cứu
vớt họ thoát khỏi áp bức bóc lột, đói nghèo của địa chủ phong kiến và đế quốc. Đời sống
đang được ổn định, cải thiện với những chuyển biến mới, tích cực. Tư tưởng giáo dân
phấn khởi, tin tưởng xây dựng cuộc sống mới. Những mặt hạn chế trong giáo dân và đời
sống của giáo dân, vừa có yếu tố chủ quan từ bản thân nhận thức và hoạt động thực tiễn
của họ, vừa có yếu tố khách quan về điều kiện địa lý, xã hội và sự tác động mạnh mẽ của
tổ chức Giáo hội ở Thanh Hóa.
1.2. Thanh niên Công giáo ở Thanh Hóa vừa là một tín đồ của Giáo hội
Công giáo, vừa là một thanh niên Việt Nam

hạnh trong cuộc sống, bất trắc trong tình yêu. Họ đi lễ thường xuyên hàng tuần ở nhà thờ
còn bởi sự khuyến khích của gia đình, sự ràng buộc của giáo lý, giáo luật; bởi xuất phát
từ đặc điểm tâm lý thanh niên thích hoạt động, thích hòa đồng cùng bạn bè, anh em để
tránh sự lạc lõng, nhàn rỗi (phụ lục 4). Nhìn chung, việc đi lễ ở nhà thờ của thanh niên là
nhu cầu tín ngưỡng, nhu cầu về đời sống tâm linh và đó là việc bình thường. Tuy nhiên,
việc thanh niên đi lễ thường xuyên chưa hẳn đã là sự "sùng đạo" cao. Bằng phương pháp
phỏng vấn sâu, qua trao đổi với nhiều người trong họ, chúng tôi nhận thấy, thanh niên đi
lễ thường xuyên ấy đôi khi chỉ là sự "sùng đạo" về mặt hình thức, nhưng tâm thức tôn
giáo lại bàng bạc. Lý do đi lễ thường xuyên trong đa số thanh niên vì sự khuyến khích, vì
thích hòa đồng, điều đó, thể hiện xu hướng thế tục hóa trong nhu cầu tín ngưỡng của họ.
Điều này cũng nói lên rằng, trong cuộc sống hàng ngày, dưới thời kỳ phát triển kinh tế thị
trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa, thanh niên Công giáo
chịu nhiều sự tác động, sự ràng buộc mà bản thân họ chưa đủ khả năng vượt lên được. Vì
thế, họ cần một chỗ dựa tinh thần ở nơi tôn giáo của họ. Thông qua lễ nghi, mong được
hiệp thông với đấng thiêng liêng. Từ đó cũng cho thấy, trong đời sống tinh thần, thanh

niên Công giáo Thanh Hóa còn có nhiều hụt hẫng, thiếu trống khi mà nhu cầu của họ
ngày một cao hơn.
Hai là, hầu hết thanh niên rất tích cực, thậm chí rất say sưa tham gia các hội
đoàn Công giáo.
Để có cơ sở nhìn nhận khách quan về thái độ của thanh niên tham gia các hội
đoàn Công giáo, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, phân tích qua phiếu điều tra thực tế.
Hội đoàn Công giáo thực chất là một hình thức sống đạo tập thể của tín đồ. Giáo hội
thông qua hội đoàn để nắm tín đồ, củng cố đức tin tôn giáo, truyền đạo, đồng thời, sử
dụng hội đoàn vào mục đích của từng giáo hội (kể cả mục đích chính trị). Các hội đoàn
Công giáo vừa hoạt động mang tính thuần túy tôn giáo, vừa có tác dụng củng cố niềm tin,
tăng thêm sự gắn bó của quần chúng với Giáo hội. Ngoài các hoạt động thuần túy tôn
giáo, hội đoàn còn có các hoạt động xã hội trong cộng đồng (như nhân đạo, cứu trợ ),
các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao cũng được sử dụng thường xuyên để
thu hút tín đồ, trong đó có thanh niên. Về tổ chức, hội đoàn khá chặt chẽ, đảm bảo sự chỉ

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Bộ khoa học công nghệ và môi trường thực hiện năm 1999,
có ghi: "ý kiến đánh giá chung thiên về chiều hướng đánh giá tốt cao hơn hẳn, trong đó ý
kiến cho rằng hoạt động của hội đoàn tôn giáo là thiết thực bổ ích (ý kiến 1) chiếm
39,2%, có hình thức hấp dẫn (ý kiến 2) chiếm 22,6%, ý kiến cho rằng hoạt động của hội
đoàn tôn giáo là không cần thiết (ý kiến 4) chỉ có 9,2%. Điều này chứng tỏ rằng trong các
vùng có đông tín đồ tôn giáo, hoạt động của hội đoàn tôn giáo đã có ảnh hưởng và sự thu
hút khá lớn đối với thanh niên. Mức độ ảnh hưởng và thu hút này, đương nhiên là cao
nhất đối với các thanh niên là hội viên hội đoàn tôn giáo. Toàn bộ họ đều đánh giá hoạt
động của hội đoàn tôn giáo theo chiều hướng tốt (ý kiến 1: 42,1%, ý kiến 2: 57,9%) đối
tượng thanh niên chịu ảnh hưởng thu hút nhiều ở mức độ thứ hai là hội viên Hội LHTN
Việt Nam" [61, tr. 69].
Với tư cách là một thanh niên Việt Nam, thanh niên Công giáo ở Thanh Hóa hiện
nay có nhiều chuyển biến tiến bộ trên nhiều mặt.
Có thể nhận thấy, đa số thanh niên phấn khởi với chính sách đại đoàn kết dân tộc
của Đảng và Nhà nước, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới đất nước, có nguyện vọng được

học tập nâng cao trình độ, mong muốn được ổn định và cải thiện đời sống, mong muốn
quê hương sớm thoát khỏi đói nghèo, phát triển và phồn thịnh [54, tr. 12].
Mặc dù còn có những khó khăn, hạn chế, đa số thanh niên Công giáo Thanh Hóa
có tinh thần yêu nước, biết trân trọng truyền thống cách mạng của các thế hệ cha anh; có
ý chí phấn đấu vượt qua những khó khăn, sống và làm việc với tư cách là một người công
dân yêu nước. Họ đã có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Thống kê qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thanh
niên Công giáo Thanh Hóa có 163 người tham gia bộ đội chống Pháp, 3.377 thanh niên
tham gia bộ đội và thanh niên xung phong chống Mỹ; có 607 liệt sĩ và 373 thương binh.
Toàn tỉnh có 14 bà mẹ Việt Nam anh hùng là người Công giáo và 2 anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân. Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, thanh niên Công giáo đã
có nhiều chuyển biến mới. Họ ý thức được sự cần thiết phải học tập nâng cao trình độ để
tiếp cận với kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại và công nghệ mới; sống năng động và
thực tế hơn. Số thanh thiếu niên theo học ở các lớp học tăng hơn so với trước: 17.374 học

7 đảng viên mới được kết nạp, 6 tháng đầu năm 2000 có 2 đảng viên mới kết nạp. Toàn
huyện Vĩnh Lộc, năm 1999 trong tổng số 112 đảng viên
mới được kết nạp chỉ có 2 là thanh niên Công giáo. 6 tháng đầu năm 2000 có 57 đảng
viên mới kết nạp thì không có thanh niên Công giáo [22]. ở xã
Thọ Xương (Thọ Xuân) năm 1999 có 1 thanh niên Công giáo được kết nạp Đảng trong
tổng số 7 thanh niên được kết nạp Đảng [20]. Từ số liệu trên, đặt ra vấn đề là, tăng cường
giáo dục lý tưởng xã hội chủ nghĩa làm cho thanh niên Công giáo có thái độ chính trị
vững vàng, nâng cao ý thức rèn luyện phấn đấu vào Đảng, vào Đoàn cho họ là một vấn
đề bức xúc đặt ra cho tổ chức cơ sở Đoàn.
Hai là, tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp là một vấn đề xã hội bức xúc
hiện nay trong thanh niên Công giáo.
Đặc điểm nổi bật của vùng Công giáo tập trung ở Thanh Hóa như
đã phân tích, thanh niên chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp (1,4% làm ruộng).
Thời gian lao động của mỗi lao động nông thôn (ở nước ta và ở Thanh Hóa) bình quân

mới sử dụng hết 50%, thu nhập những năm gần đây tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn
rất thấp. Do trình độ văn hóa thấp, lao động thuần nông, nhiều thanh niên không có việc
làm. Số thanh niên có nghề phụ tỉ lệ rất ít (phụ lục 4). Số hộ gia đình trẻ hầu hết kinh tế
khó khăn. Qua trao đổi với một số thanh niên ở huyện Vĩnh Lộc, Tĩnh Gia, Nga Sơn họ
đều có nguyện vọng rất muốn có việc làm ổn định. Nhưng thực tế, họ không có khả năng
giải quyết được. Tổ chức cơ sở Đoàn chưa có những giải pháp trợ giúp họ, tạo điều kiện
để họ tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống.
Ba là, thanh niên Công giáo Thanh Hóa có nhiều tâm tư, suy nghĩ về hoạt động
của Đoàn Thanh niên. Họ có nhiều ý kiến đề xuất và thắc mắc.
Theo kết quả khảo sát, một số ý kiến đánh giá là Đoàn hoạt động yếu, chưa đáp
ứng được nhu cầu thanh niên nhất là các hoạt động tập thể, giao lưu bạn bè, như: hoạt
động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, du lịch, các hoạt động xã hội, từ thiện Họ
mong muốn Đoàn thanh niên và Hội liên hiệp thanh niên cần hoạt động tốt hơn nữa, thiết
thực hơn. Tổ chức Đoàn và Hội phải là tổ ấm, là môi trường để họ rèn luyện, phấn đấu -
số phiếu tổng hợp ở nội dung này là 86,5%. Do chưa đáp ứng được yêu cầu chính đáng

Thanh niên Công giáo đang đứng trước những thử thách gay gắt, nhất là vấn đề
lý tưởng, thái độ chính trị, việc làm và thu nhập Đây là một vấn đề cần được nghiên
cứu để tăng cường công tác vận động thanh niên Công giáo của tổ chức cơ sở Đoàn vùng
Công giáo tập trung ở Thanh Hóa hiện nay nhằm động viên và phát huy năng lực, trí tuệ
của họ cống hiến cho công cuộc đổi mới quê hương, đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
1.3. Thực trạng công tác vận động thanh niên vùng Công giáo tập trung của
tổ chức cơ sở Đoàn ở Thanh hóa và những vấn đề đặt ra hiện nay
Tỉnh Thanh Hóa hiện nay có 1.295 Đoàn cơ sở và Chi đoàn trực thuộc huyện,
630 Đoàn cơ sở khối xã, phường, thị trấn, 8.314 Chi đoàn thuộc Đoàn cơ sở, trong đó có
105 cơ sở và 178 Chi đoàn có thanh niên Công giáo. Tổng số thanh niên toàn tỉnh trong
độ tuổi là 1.091.480 người. Đoàn viên thanh niên tham gia sinh hoạt là 368.149 người,
trong đó, đoàn viên là 189.064 người và thanh niên là 179.084 người [50]. Những năm

Trích đoạn Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đoàn vùng Công giáo tập trung vững mạnh, thực sự là hạt nhân chính trị trong phong trào thanh niên Chủ động phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị ở địa phương; tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc tôn giáo; thực hiện xã hội hóa công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status