LUẬN VĂN: Tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất bia hiện nay. Thực trạng và giải pháp pot - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Tiêu thụ sản phẩm ở các doanh
nghiệp sản xuất bia hiện nay.
Thực trạng và giải pháp

lời mở đầu
Cùng với xu hướng mở cửa của nền kinh tế và sự phát triển mạnh mẽ của thị
trường hàng hoá và dịch vụ. Nền nông nghiêp nước ta có những bước chuyển biến
mạnh mẽ. Tuy vậy trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại khi mà khả năng
cung ứng hàng hoá ra thị trường của các doanh nghiệp ngày càng đa dạng và nhu cầu
của khách hàng đòi hỏi phải thoả mãn chất lượng ngày càng cao, cũng như mức độ
cạnh tranh để giành lấy khách hàng ngày càng khốc liệt thì hoạt động tiêu thụ sản
phẩm cần phải được xem trong đúng mức và thực hiện một cách khoa học.
Tiêu thụ sản phẩm là một khâu không thể thiếu đựơc của quá trình sản xuất kinh
doanh, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Hoạt động tiêu thụ

I.1.1. Quan niệm về tiêu thụ sản phẩm trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung:
Nền kinh tế hoạch hoá tập trung là cách tổ chức nền kinh tế - xã hội trong đó mọi
vấn đề kinh tế - xã hội đều được giải quyết từ một trung tâm. Nhà nước quản lý kinh tế
chủ yếu bằng mệnh lệnh. Trong nền kinh tế này, các cơ quan quản lý hành chính kinh
tế can thiệp sâuu vào nghiệp vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại
không chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Quan hệ giữa các ngành là quan
hệ dọc, được kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm. Hoạt động tiêu
thụ sản phẩm trong thời kỳ này chủ yếu là giao nộp sản phẩm cho các đơn vị theo địa
chỉ và giá cả do Nhà nước định sẵn. Vì vậy 3 vấn đề kinh tế sản xuất cái gì ? Sản xuất
như thế nào và sản xuất cho ai đều do Nhà nước quyết định. Do vậy hoạt động tiêu thụ sản
phẩm thực chất là việc tổ chức bán sản phẩm hàng hoá sản xuất ra theo kế hoạch và giá cả
được ấn định từ trước.
Từ đặc trưng trên của nền kinh tế hoạch hoá tập trung nên quan niệm về tiêu thụ
sản phẩm trong thời kỳ này chưa được nhìn nhận đúng ý nghĩa và vai trò của nó. Dường như vai trò và ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ sản phẩm bị che lấp bởi sự bao
tiêu của Nhà nước. Do đó các doanh nghiệp không cần phải làm sao để tiêu thụ sản
phẩm và từ đó không nâng cao được hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói
riêng và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
I.1.2. Quan niệm về tiêu thụ sản phẩm trong nền kinh tế thị trường:
- Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền kinh tế xã hội, trong đó các quan hệ kinh
tế của các cá nhân các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá - dịch vụ trên
thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên chủ thể kinh tế hướng vào việc tìm kiếm lợi
ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.
- Kinh tế thị trường dựa trên cơ sở một nền sản xuất hàng hoá phát triển, kinh tế thị
trường không thể ra đời và phát triển trên nền tảng của một nền sản xuất hiện vật tự cấp tự
túc, phát triển của sản xuất hàng hoá, thực hiện tự do lưu thông hàng hoá vừa là tiền đề
vừa là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường.

tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp,
chất lượng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng và sự hoàn thiện
của các hoạt động dịch vụ. Nói cách khác tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ những
điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp. Công tác tiêu thụ sản phẩm gắn người sản
xuất với người tiêu dùng, nó giúp cho các nhà sản xuất hiểu thêm về kết quả sản xuất
của mình và nhu cầu của khách hàng.
Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc cân
đối giữa cung và cầu, vì nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với những cân
bằng, những tương quan tỷ lệ nhất định. Sản phẩm sản xuất được tiêu thụ tức là sản
xuất đang diễn ra một cách bình thường trôi chảy, tránh được sự mất cân đối, giữ được
bình ổn trong xã hội. Đồng thời tiêu thụ sản phẩm giúp cho các đơn vị xác định
phương hướng và bước đi của kế hoạch sản xuất cho giai đoạn tiếp theo.
Thông qua tiêu thụ sản phẩm có thể dự toán nhu cầu tiêu dùng của xã hội nói
chung và từng khu vực nói riêng đối với từng loại sản phẩm. Trên cơ sở đó, các doanh
nghiệp sẽ xây dựng được các kế hoạch phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao.
Tóm lại, để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
thường xuyên hiệu quả thì công tác tiêu thụ sản phẩm phải được tổ chức tốt. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì việc tiêu thu sản phẩm có ý nghĩa quan trọng,
quyết định sự sống còn của các doanh nghiệp.
II-/ các vấn đề cơ bản của công tác tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp sản
xuất.
Vấn đề tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất ở đây được hiểu theo
nghĩa rộng. Nó bao gồm các vấn đề cơ bản sau:
II.1. Điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường:
Điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên đối với bất
kỳ doanh nghiệp sản xuất nào, đây là khâu đóng vai trò quan trọng trong việc thành
công hay thất bại của hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời
câu hỏi. Thị trường đang cần những loại sản phẩm gì? Đăc điểm kinh tế kỹ thuật của

cơ lý hoá, sinh học, độ nhạy cảm với các giác quan của con người. Những đặc trưng
trên sẽ khác nhau ở mỗi loại sản phẩm và không phải bất kỳ sản phẩm nào cũng phải
có hoặc đạt được tất cả những yêu cầu chất lượng như vậy. Vấn đề chính là sản phẩm
của doanh nghiệp đạt tới mức nào khi so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh
tranh. Một vấn đề cần chú ý là chất lượng sản phẩm còn tuỳ thuộc vào sự thoả mãn
đúng nhu cầu của khách hàng hay không? Một thực tế là có nhiều sản phẩm dù chất
lượng rất tốt nhưng không tiêu thụ được dù người tiêu dùng cũng có nhu cầu về nó
nhưng không hợp với túi tiền của khách hàng hay nói cách khác là sản phẩm không
thoả mãn được đồng bộ nhu cầu của khách hàng. Do đó khi xác định chất lượng sản
phẩm phải tính đến yếu tố khách hàng. Ví dụ nếu đem các loại bia như Carbeng về các
vùng nông thôn thì có tiêu thụ được không?
 Về giá cả sản phẩm, đây là yếu tố cấu thành nên phương án sản phẩm thích
ứng. Giá cả mang lại tính cạnh tranh giữa các sản phẩm thuộc các doanh nghiệp sản
xuất khác nhau. Giá cả hợp lý sẽ là thứ vũ khí lợi hại đem lại lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Giá cả hàng hoá luôn được người tiêu dùng coi như đó là một chỉ dẫnvề chất
lượng và các chỉ tiêu khác về hàng hoá. Do vậy, chính sách giá đúng giữ vai trò nhất
định đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Tuỳ thuộc vào mục tiêu của từng doanh nghiệp
và từng giai đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà lựa chọn một trong các
mục tiêu định giá khác nhau. Có các mục tiêu định giá chủ yếu sau: Mục tiêu tồn tại, mục tiêu đối đa hoá lợi nhuận hiện tại, mục tiêu dẫn đầu về chỉ tiêu thị phần dẫn đầu
về chỉ tiêu chất lượng. Doanh nghiệp cần phân định mức cầu thị trường, mỗi mức giá
của doanh nghiệp sẽ dẫn tới mức cầu khác nhau . Mặt khác, để xây dựng chính sách
giá doanh nghiệp phải dựa trên phân tích chi phí và cấu trúc của nó, phân tích giá và
chất lượng sản phẩm của đối thủ canh tranh. Một khi doanh nghiệp chuẩn bị được từng
bước từ khâu xác định mục tiêu, đánh giá đến khâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến giá cả. Doanh nghiệp đã có một chính sách đúng đắn giúp cho doanh nghiệp bán
được nhiềuhhchính sách đúng đắn giúp cho doanh nghiệp bán được nhiều hàng hoá,
thực hiện được các muịc tiêu lợi nhuận, vị thế và an toàn, tăng uy tín của doanh nghiệp

lưu thông, giảm giá bán sản phẩm.
+ Bao bì có thể giúp cho việc nhận biết sản phẩm tốt hơn. Đặc biệt đối với sản
phẩm bia thì bao bì có vai trò cực kỳ quan trọng vừa làm chức năng bảo quản vừa làm
chức năng để khách hàng nhận biết nhãn hiệu.
 Trình bày nhãn hiệu trên bao bì: Xác định và phát triển chiến lược nhãn hiệu
hàng hoá là một nội dung quan trọng của chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp bởi
nhãn hiệu có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển và tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp trong kinh doanh.
Nhãn hiệu xuất hiện do nhu cầu nhận biết, xác định và phân biệt sản phẩm của
các nhà sản xuất, các nhà buôn khác nhau.
 Nghiệp vụ bảo quản thành phẩm ở kho:
Bảo quản hàng hoá ở kho là bảo vệ sự tồn tại của sản phẩm xã hội về số lượng và
chất lượng bằng cách sử dụng tổng hợp các biện pháp tổ chức, kinh tế kỹ thuật, chống lại
sự ảnh hưởng có hại của môi trường đến số lượng và chất lượng hàng hoá.
Kho hàng là nơi chứa đựng, dự trữ hàng hoá to lớn cho tổng mức lưu chuyển
hàng hoá. Bởi vậy, thực hiện tốt nghiệp vụ bảo quản hàng hoá ở kho có ý nghĩa hết sức
quan trọng.
Đối với sản phẩm bia, do đặc tính của sản phẩm nên kho bảo quản thành phẩm
của Công ty bia phải được xây dựng kín cấu trúc nhà kho phải bền chắc có khả năng
chống khí gây ảnh hưởng đến chất lượng bia và bao bì sản phẩm. II.4. Định giá bán và thông báo giá.
Giá cả là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triển cùng với sự ra
đời và phát triển của sản xuất hàng hoá. Giá cả là tiêu biểu bằng tiền của giá trị hàng
hoá, đồng thời biểu hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế như cung-cầu hàng hoá, tích luỹ
và tiêu dùng, cạnh tranh.
Chính sách giá cả có mối liên hệ mật thiết với chiến lược tiêu thụ chiến lược giá
cả phối hợp một cách chính xác với các điều kiện sản xuất và thị trường; là đòn bảy
hoạt động có ý thức đối với thị trường. Chính sách giá đúng sẽ giúp doanh nghiệp bán

Lượng giá chi phí
Chọn kỹ thuật định giá
thích h
ợp

Chọn giá cuối cùng của
m
ặt hàng
II.5. Lên phương án phân phối vào các kênh tiêu thụ:
Việc lên phương án phân phối vào các kênh tiêu thụ được xây dựng dựa trên
chiến lựơc tiêu thụ sản phẩm cụ thể của từng doanh nghiệp.
Chiến lược tiêu thụ sản phẩm là định hướng hoạt động có mục tiêu của doanh nghiệp
và hệ thống các giả pháp, biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đề ra trong tiêu thụ. Mục tiêu
của chiến lược tiêu thụ thường bao gồm: mặt hàng tiêu thụ, tăng doanh số, tối đa hóa lợi
nhuận, mở rộng thị trường, nâng cao uy tín cho doanh nghiệp.
Chiến lược phân phối sản phẩm dịch vụ là phươg hướng thể hiện cách thức
doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng của mình trên thị trường
mục tiêu.
Chiến lược phân phối có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của mỗi doanh nghiệp. Mỗi chiến lược phân phối hợp lý sẽ làm cho quá trình kinh
doanh an toàn, tăng cường khả năng liên kết trong kinh doanh, giảm được sự cạnh
tranh và làm cho quá trình lưu thông hàng hoá nhanh chóng.
 Chiến lược quảng cáo: Là chiến lược sử dụng các phương tiện thông tin để
truyền tin về sản phẩm hoặc cho người trung gian hoạc cho người cuối cùng trong một
khoảng thời gian và không gian nhất định.
Khi xây dựng một chương trình quảng cáo, Công ty phải xác định các vấn đề cơ
bản có tính nguyên tắc sau:

mình cho người sản xuất cuối cùng không qua khâu trung gian. Hình thức này dcó ưu
điểm: Hệ thống các cửa hàng phong phú, tiện lợi. Doanh nghiệp thường xuyên tiếp xúc
với khách hàng và thị trường, biết rõ nhu cầu thị trường và tình hình giá cả; từ đó tạo điều
kiện thuận lợi để gây thanh thế và uy tín cho doanh nghiệp. Mặt khác trong hình thức
này, hoạt động bán hàng diễn ra với tốc độ chậm, tốc độ chu chuyển vốn chậm, doanh
nghiệp phải quan hệ với rất nhiều bạn hàng. Người tiêu dùng
cu
ối cùng

Môi
Doanh nghi
ệp SX * Tiêu thụ gián tiếp: Là hình thức doanh nghiệp sản xuất bán sản phẩm của mình
cho người tiêu dung cuối cùng thông qua các khâu trung gian, bao gồm: người bán buôn,
bán lẻ, đại lý Với hình thức này, các doanh nghiệp có thể tiêu thụ hang hoá trong thời
gian ngắn nhất, từ đó thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm được chi phí bảo quản, hao hụt. Nhưng
với hình thức này, thời gian lưu thông hàng hoá tăng, tăng chi phí tiêu thụ và doanh
nghiệp khó kiểm soát được các khâu trung gian.



Theo nghĩa hẹp, dịch vụ có thể được xem như những hoạt động hỗ trợ cho khách
hàng trong quá trình kinh doanh trước, trong và sau khi bán hàng. Người ta coi dịch vụ
là phần mềm sản phẩm mà chúng ta cung ứng khách hàng. Xu hướgn phần mềm ngày
càng gia tăng trong lĩnh vực kinh doanh.
Về bản chất, dịch vụ là sản phẩm vật chất có những nét rất khác biệt khiến các nhà
kinh doanh dịch vụ thiết kế chương trình hoạt động Marketing không thể bỏ qua.
- Là sản phẩm vô hình, chất lượng dịch vụ rất khó đánh giá, vì nó chịu nhiều yếu
tố tác động như người bán, nguời mua và cả thời điểm bán dịch vụ đó.
- Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, nên cung cầu dịch vụ không
thể tách rời nhau mà phải tiến hành cùng một lúc.
- Dịch vụ không thể cất giữ làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu thị
trường như các sản phẩm vật chất khác.
Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển dịch vụ là một vũ khí cạnh tranh
sắc bén của doanh nghiệp. Dịch vụ xuất hiện ở mọi nơi, mọi giai đoạn của quá trình
bán hàng, nó hỗ trợ cả trước, trong và sau khi bán hàng.
Doanh nghiệp phải biết sử dụng dịch vụ một cách có hiệu quả nhằm thúc đẩy nhanh quá
trình tiêu thụ sản phẩm cũng như tạo được thế cạnh tranh trên thương trường.
 Quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Để quá trình tiêu thụ sản phẩm được tiến hành một cách có hiệu quả đoi hỏi
hoạt động tiêu thụ phải được thực hiện theo một kế hoạch đã định sẵn. Vì vậy doanh
nghiệp phải tiến hành tổ chức quản lý nhằm đạt được kế hoạch đề ra cũng như kịp thời
điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường. Nếu quản lý tốt sẽ đem lại
hiệu quả cao cho quá trình tiêu thụ sản phẩm và ngược lại nếu quản lý không tốt thì sẽ
ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tiêu thụ sản phẩm . Đây cũng là một trong những
công cụ để doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh của mình. Doanh nghiệp nào biết
kịp thời thích ứng và điều chỉnh theo sự thay đổi của môi trường kkd doanh nghiệp ấy
sẽ chiến thắng.
 Kỹ thuật nghiệp vụ bán hàng và đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm.
Đây là nội dung cuối cùng của hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Trong kỹ thuật

các sản phẩm được sản xuất có tiêu chuẩn về chất lượng, thẩm mỹ, độ bền rất cao và gần như tương tự nhau, do vậy công tác tiêu thụ sản phẩm cần phải làm nổi bật được
các đặc tính về mác nhãn, sao cho khi nghĩ tới một nhu cầu là nghĩ tới nhãn mác , tức
là bằng mọi cách phải tạo được sự ấn tượng, dễ ghi nhận của mác nhãn hoặc Công ty.
- Khoa học -công nghệ hiện đại với phương tiện hiện đại, tạo điều kiện cho quá
trình mua bán diễn ra nhanh gọn. Ví dụ với bia hơi- nếu có công nghệ cao sẽ tạo điều
kiện cho việc tiêu thụ bia được cao hơn.
- Khoa học-công nghệ hiện đại cho phép tạo ra một sản phẩm mới trong một thời
gian ngắn. Do vậy, một nhu cầu của khách hàng sẽ dễ dàng được đáp ứng.
III.1.3. Chính trị-pháp luật:
Chính trị ổn định, pháp luật nghiêm minh và ngày càng một hoàn hảo là cơ sở rất
tốt cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, với điều kiện như vậy, vấn đề chữ
tín trong hoạt động kinh doanh là rất quan trọng, đây là vấn đề khó khăn, nó yêu cầu
thời gian dài, yêu cầu về trình độ. Hiệu quả của tiêu thụ sản phẩm nói lên năng lực
thực sự của doanh nghiệp.
III1.4. Môi trường văn hoá- xã hội:
Môi trường văn hoá xã hội ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi mua sắm của khách
hàng. Các tham số ảnh hưởng tới công tác tiêu thụ sản phẩm bao gồm:
- Dân số và xu hướng vận động của nó (số người, tỷ lệ sinh tử ) đây là cơ sở hình thành cơ
cấu mặt hàng sản xuất. Đối với sản phẩm bia, quy mô dan số cũng như cơ cấu tuổi, giới tính có
tác động manhh đến quy mô sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm bia.
- Thu nhập của dân cư và xu hướng vận động cũng như sự phân bố thu nhập giữa
các nhóm người và các vùng địa lý. Với thu nhập của người dân ngày cang cao nên
khả năng tiêu thụ bia ngày cũng càng cao.
- Công ăn việc làm và vấn đề phát triển việc làm phải có thu nhập mới có khả
năng thanh toán cho sản phẩm của doanh nghiệp.
- Dân tộc và đặc điểm tâm lý. Muốn thâm nhập vào bất kỳ một thị trường nào cũng
cần tìm hiểu đặc điểm dân tộc, tâm lý tiêu dùng của họ. Đặc biệt đối với sản phẩm bia dân

hành chính, tăng lợi nhuận. - Quy trình công nghệ vàcon người lao động. Chỉ có quy trình công nghệ hiện đại
cùng đội ngũ lao động nhanh nhẹn, sáng tạo, nhiệt tình thì mới đưa ra các sản phẩm
thoả mãn tối đa nhu cầu khách hàng.
III.2.2. Đối thủ cạnh tranh: Thị trường là nơi diễn ra các cuộc đấu sức mag tính
cạnh tranh giữa các nhà sản xuất kinh doanh nói chung và các nhà sản xuất bia nói
riêng. Thị trường bia Việt Nam trong giai đoạn này có thể nói là có tính cạnh tranh sôi
động và khốc liệt nhất.
Các hình thức cạnh tranh chủ yếu của các nhà sản xuất hiện nay là:
 Cạnh trạnh bằng giá cả: Người tiêu dung luôn quan tâm đến giá cả hàng hoá và
hàng hoá tiêu thụ được khi giá cả khh được người tiêu dùng chấp nhận.
Trong thực tế, cạnh tranh bằng việc sử dụng chiến lựơc giá cả được coi là biện
pháp nghèo nàn nhất, vì khi gặp đối thủ có tiềm lực lớn, cạnh tranh bằng giá cả sẽ
không phát huy được tác dụng. Tuy nhiên, cạnh tranh bằng chiến lược giá cả có thể áp
dụng thành công và có ưu thế trong việc thâm nhập thị trường mới.
 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm : Hiện nay đời sống của người dân đã có những
thay đổi tốt, nhu cầu về sản phẩm ngày cang rõ rệt, nhất là đối với chất lượng. Chất lượng vẫn
được coi là chỉ tiêu hàng đầu đưa người tiêu dùng đến với sản phẩm.
Ngoài ra còn diễn ra sự cạnh tranh bằng quảng cáo. Trên hầu hết các loại tạp chí,
báo và các loại ấn phẩm đều xuất hiện các trang quảng cáo về bia. Trên vô tuyến
truyền hình tần suất xuất hiện các quảng cáo bia cũng rất cao. Ngoài ra dạng cạnh
tranh bằng khuyến mãi cũng được các nhà sản xuất triệt để áp dụng và mang lại hiệu
quả khá cao.
- Sự đe doạ của những đối thủ mới: Những nhà đầu tư và những nhà sản xuất mới nhảy
vào ngành cũng làm tăng áp lực cạnh tranh với các nhà sản xuất cũ. Sự khác biệt về sản
phẩm bia trong nước là không lớn. Một điều nữa cần nhắc tới là người tiêu dùng nước ta khá
dễ tính trong việc dùng thử sản phẩm và cũng không quá trung thành với nhãn hiệu nào. ở
đây người tiêu dùng không cảm thấy thiệt thòi hay mất mát gì khi từ bỏ một nhãn hiệu bia này

sách mở cửa của Nhà nước ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều cơ sở địa phương
liên doanh vơi nước ngoài để thành lập Công ty liên doanh nước ngoài. Sản phẩm bia
của các bên liên doanh có chất lượng tương đương với hàng ngoại nhập, nhưng có lợi
thế hơn hẳn hàng ngoại nhập bởi giá cả, chi phí vận chuyển bảo quản thấp nên khả
năng cạnh tranh tốt đối với hàng ngoại nhập.
Hàng loạt các nhà máy bia đã có từ trước được đầu tư, cải tạo mở rộng. Các nhà
máy được xây dựng thêm. Các liên doanh với các hãng bia lừng danh trên thế giới
chen nhau ra đời. Chưa kể các ngành "ăn theo" cũng đua nhau mọc lên: vo lon nhôm,
két nhựa, vỏ chai thuỷ tinh và các loại nút chai, bao bì khác.
Hiện tại, năng lực sản xuất bia của các nhà máy đang hoạt động, đang hoàn tất và
đã được cấp giấy phép. Có tổng Công ty suất khoảng 876 triệu lít/năm, được chia ra
như sau: các liên doanh với nước ngoài chiếm 46,4% (405 triệu lít) các nhà máy thuộc
tổng Công ty rượu bia nước giải khát Việt Nam chiếm 23,6% và còn lại là các địa
phương.
Trên cả nước hiện có hơn 320 cơ sở sản xuất bia với quy mô lớn nhỏ khác nhau,
song thêm 87% cơ sở chỉ có công suất "còi cọc", dưới 1 triệu lít/năm mà chiếm trên 12% tổng công suất.
Loại có công suất trên 10 triệu lít/năm (gồn các cơ sở vốn đầu tư nước ngoài
được cấp phép) là 13 nhà máy, chiếm gần 73% tổng năng lực. Số cơ sở có công suất 6-
10 triệu lít/năm chiếm 2,8%, và chiếm 8,4% tổng công suất. Nếu chia đều các nhà máy
cho 61 tỉnh, thành thì ngành sản xuất bia rơi vào tình trạng "bia chảy chỗ trũng". Bởi
dòng chảy bia chỉ đổ dồn vào 2 cái phễu chính là thành phố Hồ Chí Minh (chiếm
32,4% tổng năng lực cả nước) và Hà Nội chiếm 16,2%. Trong khi đó thì 8 tỉnh lại
không có một giọt bia nào là Ninh Thuận, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Dương, Bình Phước,
Bến Tre, Kiên Giang và Minh Hải. Các khu vực Tây Nguyên, đồng bằng Sông Cửu
Long và trung du miên núi phía Bắc hầu như không có năng lực sản xuất. Tuy nhiên,
năm 1995 sản lượng thực tế của cả nước mới đạt 502 triệu lít, chỉ bằng 58% công suất
thiết kế. Không ít dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy từ lâu mà nay vẫn

trên cơ sở giá bán tại nơi sản xuất chưa tính thuế tiêu thụ đặc biệt, với thuế bia hơi và
bia chai bằng 79% và 95% cho bia lon.
- Về bia nhập khẩu.
Trước đây 1993 trở về trước, khi các hãng bia nước ngoài chưa được dphép sản
xuất ở Việt Nam và sản xuất dưới mức cầu khá nhiều, một lượng bia lon đã được nhập
khẩu. Nhập lậu mạnh nhất qua biên giới là bia Trung Quốc. Ước tính khoảng 25-50
triệu lít được chở vào Việt Nam bằng các đường khác nhau. Sau năm 1993, nhà máy
bia Việt Nam đã đi vào sản xuất và đã nhanh chóng "hất" bỏ bia nhập Heineken và
Tiger. Đồng thời, do chất lượng bia chai của bia
Sài Gòn và bia Hà Nội được nâng cao, có chụp bảo hiểm chống làm giả, bia Việt Nam
đã loại bỏ hoàn toàn bia Trung Quốc nhập lậu.
- Cung về các sản phẩm thay thế:
Sản lượng thay thế của bia là các loại đồ uống đóng hộp: nước hoa quả, sữa,
rượu, cà phê, trà, nước khoáng. Cùng với sự gia tăng của bia thì các loại sản phẩm giải
khát thay thế nó cũng chạy theo "cơn lốc" của sự phát triển. Các loại nước giải khát
ngày càng đa dạng về chủng loại, mẫu mã cũng như chất lượng. Một xu thế phổ biến là
mức tiêu dùng các loại nước có gas giảm, người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới sức
khoẻ nên giảm tỷ lệ nước uống có đường, có gas tăng tỷ lệ nước khoáng, nước bổ
dưỡng. Sự ra đời của các Công ty sản xuất nước ngọt Cocacola; Pepsicola trong thời gian qua thực sự là mối đe doạ các nhà sản xuất bia trong nước. Trong cơ cấu IBC,
Pepsico chiếm 30% cổ phần, Mancondray của Hồng Kông chiếm 30% và 40% là do
các Công ty quốc doanh của Việt Nam. Cocacola có mặt tại Việt Nam với Công ty
Coca-Cola Indochine Pte.Ltd, một liên doanh với Fraser và Neave Ltd của Singapo và
Thai Pure Drinks Ltd của Thái Lan (Coca-cola Co, có cổ phần ở cả 2 Công ty này).
Cocacola Indochine có hai liên doanh ở Việt Nam. Pepsi và Cocacola đang quảng cáo
tích cực trên TV và báo chí, và đang tài trợ cho các buổi biểu diễn âm nhạc hay các sự
kiện thể thao, nhằm tranh giành vị trí độc tôn trên thị trường vốn bắt đầu có sự cạnh
tranh gay gắt.

Carlsberg
Hà Nội 200 200 600
Việt Hà Hà Nội 150 150 300
Hà Tây Heineken Hà Tây 600 Nam Hà Nada Nam Định 15 10 25 60
Vinh Vida Nghệ An 50 10 60 70
Thanh Hoá Thanh Hoá Thanh Hoá 100 80 180 200
Công ty khác Miền Bắc 200 200 450 600
Cộng Miền Bắc 825 610 1485 3270
Đà Nẵng Bgi Đà Nẵng 200 200 200
Huế Huda Tuborg

Huế 300 300 500
Rồng Vàng
Sanmiguel
Bed horse
Khánh Hoà 200 200 400
Công ty khác Miền Trung 340 130 470 500
Cộng Miền Trung 1040 1050 1150 1600
Sài Gòn Sài Gòn 333

Sài Gòn 1500 100 1600 2100
Việt Nam
Tieger
Heineken
Sài Gòn 1100 1100 1500
Sông Bé Sabeco Sông Bé 100 100 100
Mỹ Tho Bgilarne Tiền Giang 200 150 350 350

uống vào các dịp lễ tết hoặc các buổi liên hoan.
Nhóm 2: Tập hơp những người thích uống những loại bia nặng. Đây chủ yếu là
những người uống được bia và những người nghiện bia. Họ thích loại bia này vì chúng
mới đủ độ với họ. Những người này thường uống lai rai vì như thế họ uống được
nhiều. Tuy nhiên, số lượng người ở nhóm này lại ít.
Nhóm 3: Gồm những người thích uống loại bia đậm đà, vừa phải vừa là để giải
khát vừa tạo thêm sự ngon miệng trong các bữa ăn. Đây thực sự là một nhón tiêu dùng
lớn. Họ tiêu dùng thường xuyên trong các bữa ăn mỗi ngày. Đối với họ bia vừa là để
giải khát đồng thời có mặt trong các lần bàn bạc làm ăn của mình. Nhóm này chủ yếu
là các cán bộ công nhân trong các Công ty xí nghiệp tại các thành phố và những người
dân buôn bán. Đây chính là nhóm người mà các cơ sở sản xuất bia cần phải nhằm vào
để tạo ra tiền đề tiêu thụ mạnh mẽ hơn nữa.
- Ngoài tính chất thời vụ, thị hiếu người tiêu dùng còn phải tính đến thu nhập của
người tiêu dùng và cách phân bổ thu nhập của họ cho đồ uống trong sinh hoạt hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status