những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong đảng bộ khối cơ quan dân chính đảng ở quảng bình hiện nay - Pdf 10

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam;
đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và
của dân tộc. Mục đích của Đảng là xây dựng nớc Việt Nam hoà bình, độc lập,
dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, nhân dân ta đợc ấm no hạnh
phúc và có những đóng góp vào công cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì
những mục tiêu tiến bộ.
Với tinh thần đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã vận
dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh vào thực
tiễn cách mạng nớc ta. 77 năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững
vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị, tiến hành Cách mạng Tháng 8 thành công
lập nên nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nớc Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lợc, xoá bỏ chế độ
thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nớc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững
chắc nền độc lập của Tổ quốc. Đảng ta đã trở thành một Đảng cầm quyền,
Đảng lãnh đạo Nhà nớc và toàn xã hội trong phạm vi cả nớc, năng lực và ph-
ơng thức lãnh đạo của Đảng đã có những chuyển biến tích cực, từng bớc đáp
ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới.
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn chăm lo xây dựng và phát huy
vai trò của hệ thống tổ chức cơ sở đảng, coi đó là cầu nối giữa dân với Đảng,
là nơi đề xuất cũng là nơi trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trơng, đờng lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nớc, tổ chức cơ sở đảng đã có những đóng góp
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, củng cố quốc
phòng - an ninh, từng bớc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân. Nhiều nhân tố mới tích cực đã xuất hiện, nhất là ở cơ sở, tác động tích
cực đến sự lãnh đạo của Đảng và tổ chức cơ sở đảng.
Tuy nhiên, do tính chất đa dạng của các loại hình tổ chức cơ sở đảng,
vai trò chức năng nhiệm vụ của nó cũng khác nhau, nhng thực tế nhận thức

kiêm nhiệm. Trong thời gian qua Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng Quảng
Bình đã lãnh đạo 71 tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Khối thực hiện nhiệm vụ
chính trị, chăm lo công tác xây dựng Đảng gắn với xây dựng cơ quan và các
đoàn thể trong sạch vững mạnh, góp phần quan trọng trong việc đa tỉnh Quảng
Bình phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Song nhìn lại và đánh giá thực
chất phong trào, thì tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính
Đảng Quảng Bình, không tránh khỏi những hạn chế; chất lợng còn cha đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ mới. Nhận thức đợc những hạn chế và tầm quan trọng của vấn
đề này, tôi chọn đề tài "Những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở
2
đảng trong Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng ở Quảng Bình hiện nay"
làm Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong các khoa học chính trị ở nớc ta cho đến nay có một số đề tài,
công trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và nhiều bài viết về đổi mới, nâng
cao chất lợng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
1) Một số đề tài khoa học:
"Phơng thức Đảng lãnh đạo Nhà nớc , đề tài cấp bộ, cơ quan chủ trì, Học
viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội 2001, Chủ nhiệm PGS. Trần Đình Huỳnh.
"Đảng cầm quyền trong thời đại ngày nay và những vấn đề rút ra cho
công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng ta", đề tài cấp bộ, Hà Nội 1993 do GS.
Đậu Thế Biểu làm chủ nhiệm và PGS. Mai Trung Hậu làm th ký khoa học, cơ
quan chủ trì Viện nghiên cứu khoa học - Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh.
Bảy m ơi năm Đảng Cộng sản Việt Nam , Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội 2000.
"Đổi mới tổ chức và phơng thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong
Doanh nghiệp Nhà nớc". Đề tài cấp bộ, cơ quan chủ trì Phân viện Báo chí và
Tuyên truyền (nay là Học viện Báo chí và Truyên truyền), năm 2002, chủ
nhiệm đề tài là PGS.TS. Dơng Xuân Ngọc.

Vận dụng t tởng của Lênin về Đảng cầm quyền vào công cuộc xây
dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong thời kỳ đổi mới , GS. TS. Dơng Xuân Ngọc,
Tạp chí Lý luận chính trị, 6/2006.
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc đẩy mạnh công cuộc đổi mới, sớm đa nớc ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển , Nông Đức Mạnh, Tạp chí Xây dựng Đảng, 5/2006.
Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời
kỳ mới , Trơng Thị Mỹ Trang, Tạp chí Xây dựng Đảng, 2+3/ 2007.
Biện pháp xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh Vũ Cao Hội, Tạp
chí Kiểm tra, 2/2007.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
đất nớc, PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc, Nxb, CTQG, Hà Nội 1999.
Phần lớn các công trình nghiên cứu và các bài viết này đề cập đến vấn
đề Đảng, là cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận về xây dựng Đảng. Cho đến nay
vẫn còn rất ít công trình đề cập vấn đề Đảng trên cơ sở lý thuyết của chính trị
học. Nghiên cứu các nhân tố bảo đảm thực thi quyền lực - quyền lực chính trị,
phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị của một Đảng cầm quyền ở cơ sở,
cũng nh những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng nói chung, chắc chắn là
thuộc về đối tợng nghiên cứu của chính trị học.
3. Mục đích và nhiệm vu nghiên cứu
4
3.1. Mục đích của luận văn
Xác định và phân tích một số nhân tố bảo đảm hiệu lực, hiệu quả sự
lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng
ở tỉnh Quảng Bình hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của tổ chức cơ sở đảng và
những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng hiện nay.
- Phân tích rõ thực trạng, những nhân tố tích cực và tiêu cực ảnh hởng
đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Khối cơ quan Dân

Ba là, xác định một số nhân tố chủ yếu và có tính đột phá nhằm bảo
đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Khối cơ quan Dân
Chính Đảng ở Quảng Bình thời gian tới.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Phân tích một số vấn đề có tính lý luận về tổ chức Đảng trong đó có tổ
chức cơ sở đảng hiện nay từ góc độ chính trị học.
- Phân tích một số vấn đề cần thiết do thực tế đặt ra trong việc phát huy
vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị, tăng cờng sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng ở Quảng Bình hiện nay.
- Do vậy kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo trong trong việc nghiên cứu về các Đảng chính trị, trong các bộ môn chính trị
học và xây dựng Đảng, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nớc ta hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
- Ngoài mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung kết
cấu gồm có 3 chơng, 6 tiết.
Chơng 1. Tổ chức cơ sở đảng và những nhân tố ảnh hởng đến sự lãnh
đạo tổ chức cơ sở đảng ở nớc ta hiện nay.
Chơng 2. Tổ chức cơ sở đảng và những nhân tố ảnh hởng tới sự lãnh
đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng ở
Quảng Bình hiện nay.
Chơng 3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy những nhân tố
bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Khối cơ quan
Dân Chính Đảng ở Quảng Bình.
Chơng 1
Tổ chức cơ sở đảng và những nhân tố ảnh hởng
đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
ở nớc ta hiện nay
1.1. Tổ chức cơ sở đảng và sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng hiện nay
1.1.1. Khái niệm về tổ chức cơ sở đảng nói chung

- Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở cha đủ ba mơi đảng viên.
- Lập chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở có hơn ba mơi đảng viên.
- Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng uỷ cơ sở [31, tr.34,35]
7
Nh vậy, tổ chức cơ sở đảng gồm chi bộ cơ sở hoặc đảng bộ cơ sở, việc lựa
chọn mô hình tổ chức nào (chi bộ cơ sở hoặc đảng bộ cơ sở) phụ thuộc vào số l-
ợng đảng viên chính thức và phải đợc cấp uỷ cấp trên trực tiếp quyết định.
Trong quá trình thực hiện đờng lối đổi mới, do yêu cầu của việc phát
triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa và chính sách đối ngoại
mở rộng của Đảng, nên ngoài các loại hình tổ chức cơ sở đảng đợc tổ chức,
các đơn vị cơ sở hành chính (xã, phờng, thị trấn), các đơn vị sự nghiệp, cơ
quan, doanh nghiệp nhà nớc, đơn vị cơ sở trong công an, quân đội v.v. còn
xuất hiện loại hình tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị doanh nghiệp t nhân, các
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
1.1.2. Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức cơ sơ đảng
nói chung hiện nay
1.1.2.1. Vị trí, vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
Trong quá trình thực thi quyền lãnh đạo, tổ chức cơ sở đảng có một vị
trí, vai trò hết sức quan trọng, tác động đến quá trình phát triển một cách toàn
diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và t tởng, C.Mác và Ph.ăng
ghen là những ngời đầu tiên chỉ ra vị trí, vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở
đảng, hai ông cho rằng nếu các chi bộ buông lỏng về mặt tổ chức, sẽ làm cho
Đảng "mất chỗ dựa vững chắc và duy nhất v.v " [47, tr.167]. C.Mác và
Ph.ăngghen luôn luôn coi trọng việc củng cố các chi bộ, làm cho chi bộ thành
trung tâm và hạt nhân của các hiệp hội công nhân. Phát triển t tởng đó, Lênin
trong quá trình xây dựng và lãnh đạo Đảng Bônsêvích Nga - Đảng kiểu mới
của giai cấp công nhân, đã xây dựng và kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, làm nơi
rèn luyện, phân công công tác, quản lý, sàng lọc đảng viên, biến mỗi chi bộ
thành trung tâm hạt nhân của các hiệp hội công nhân, là điểm tựa để tiến hành
công tác tuyên truyền, cổ động và tổ chức thực hiện mọi chủ trơng đờng lối

một thành viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở, tổ chức cơ sở đảng có vị trí,
vai trò đoàn kết, lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở.
Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân.
Trong mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của tổ chức cơ sở đảng là
những "sợi dây chuyền" nối liền Đảng với dân.
1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
Tổ chức cơ sở đảng nói chung có hai chức năng quan trọng:
Một là, lãnh đạo thực hiện đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nớc ở cơ sở.
Hai là, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, phát triển sản
xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả công tác của cơ sở; chăm lo cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân; động viên quần chúng hoàn thành đầy
đủ nghĩa vụ của cơ sở, đơn vị đối với Nhà nớc.
9
Từ chức năng nói trên, Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, đợc
thông qua Đại hội lần thứ X của Đảng năm 2006, quy định năm nhiệm vụ của
tổ chức cơ sở đảng nh sau:
1. Chấp hành đờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nớc; đề ra chủ trơng, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và
lãnh đạo thực hiện có hiệu quả.
2. Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh về chính
trị, t tởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ;
nâng cao chất lợng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình,
giữ gìn kỷ luật và tăng cờng đoàn kết thống nhất trong Đảng; thờng
xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao
phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức,
năng lực công tác; làm tốt công tác phát triển đảng viên.
3. Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành
chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã
hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy

các nhân tố hay yếu tố cũng có sự chuyển hoá lẫn nhau, sự phân biệt các nhân
tố, yếu tố chỉ có ý nghĩa tơng đối. Các nhân tố, các yếu tố không chỉ khác
nhau về tính chất do cách tiếp cận khác nhau mà còn khác nhau về cấp độ,
trình độ. Nghiên cứu nhân tố có thể đợc xem là một hớng hay, một phơng
pháp nghiên cứu của nhiều nghành khoa học, trong đó có chính trị học.
2) Các lọai nhân tố: Dới góc độ triết học - góc độ nhận thức luận, ngời
ta có thể nhận thấy những loại nhân tố chủ yếu sau đây.
- Nhân tố khách quan là những điều kiện không phụ thuộc vào con ngời
và quyết định phơng hớng, qui mô hoạt động của họ. Có thể nhận thấy một số
nhân tố khách quan tiêu biểu nh: những biểu hiện của tự nhiên, những trình độ
phát triển của sản xuất, của xã hội, những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội
v.v Nhân tố chủ quan là hoạt động của quần chúng, của các giai cấp, các đảng
phái, nhà nớc hay những con ngời cá biệt với ý thức, ý chí và khả năng hoạt động
của họ v.v Có thể thấy một số nhân tố chủ quan tiêu biểu, biểu hiện nh hoạt
động của quần chúng, của các giai cấp, đảng phái, nhà nớc, những con ngời cá
biệt với ý thức, ý chí, khả năng của họ v.v
Trong đời sống xã hội những nhân tố khách quan bao giờ cũng là những
nhân tố quyết định, nhng tác động của chúng chỉ thể hiện thông qua sự tác
động của các nhân tố chủ quan của con ngời. Những nhân tố chủ quan chỉ có
thể đóng vai trò quyết định chỉ khi nào những điều kiện khách quan đã đợc
chuẩn bị cho chúng. Sự tác động của các nhân tố chủ quan đến sự phát triển
của xã hội tăng lên cùng với sự quá độ từ một hình thái kinh tế - xã hội này
sang một hình thái kinh tế - xã hội khác, tiến bộ hơn. Vai trò của những nhân
11
tố chủ quan tăng lên đặc biệt mạnh mẽ trong xã hội xã hội chủ nghĩa, khi lần
đầu tiên trong lịch sử loài ngời có khả năng phát triển sáng tạo và hài hoà tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, khi đông đảo quần chúng nhân dân đợc
thu hút tham gia một cách tự giác vào công cuộc xây dựng xã hội mới.
- Nhân tố bên ngoài, là sự phản ánh phía mặt ngoài của sự vật hiện tợng,
mà cảm giác của con ngời thu nhận đợc hoặc phản ánh hiện thực tồn tại bên

tầng lớp xã hội đều chịu sự ảnh hởng chi phối của các nhân tố tự nhiên, kinh
tế - xã hội và lịch sử. Các nhân tố lịch sử - xã hội này ảnh hởng ở những mức
độ khác nhau đến hoạt động chính trị, một lĩnh vực hoạt động chính trị quan
trọng của con ngời trong xã hội có giai cấp, có chính trị và nhà nớc.
Dân tộc Việt Nam từ Văn Lang, Âu Lạc cho đến Đại Việt rồi Việt Nam,
đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử lâu dài có thể sánh vai cùng các quốc gia,
dân tộc hình thành sớm nhất trên thế giới. Trong lịch sử ấy, dẫu thuở một
nghìn năm Bắc thuộc đất nớc vẫn chói sáng với những cuộc khởi nghĩa vũ
trang, những anh hùng dân tộc, những tinh thần quật cờng và quật khởi, ý chí
độc lập dân tộc. Lịch sử dân tộc lại càng rạng danh hơn từ khi có Đảng ra đời,
tên tuổi Việt Nam không chỉ đợc khôi phục mà ngày càng thêm rạng rỡ trớc
toàn thế giới. Dân tộc Việt Nam ngẩng cao đầu đi lên.
Có đợc trang sử vẻ vang mấy ngàn năm lịch sử đó chính là nhờ Dân tộc
Việt Nam có truyền thống yêu nớc nồng nàn, tinh thần đoàn kết dân tộc vững
chắc và truyền thống đánh giặc giữ nớc anh hùng bất khuất. Những nhân tố
quan trọng này đợc thấm nhuần, ngấm sâu đối với mỗi con ngời Việt Nam
trong suốt cả chiều dài lịch sử. Nhìn lại lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc
của dân tộc Việt Nam; đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam,
chúng ta càng khẳng định vai trò to lớn của giá trị truyền thống lịch sử - xã
hội, cũng nh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trớc yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, Việt Nam vẫn là một quốc gia có lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và địa
văn hoá, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và khó khăn thách thức lớn đan xen
nhau, thì việc phát huy và nhân lên sức mạnh lịch sử - xã hội, kế thừa có chọn
lọc và phát huy vai trò lãnh đạo của của tổ chức cơ sở đảng trong sự nghiệp
đổi mới là vấn đề cần kíp, đợc quan tâm lãnh đạo của Đảng ta, bởi lẽ đây là
những nhân tố đợc vun đắp và xây dựng nên của bao thế hệ cha ông chính vì
thế mà họ nâng nu, quí trọng. Các giá trị truyền thống trong Đảng càng có ảnh
hởng trực tiếp đến mỗi cán bộ, đảng viên và tăng thêm vai trò lãnh đạo của
Đảng ở cơ sở. Tuy nhiên cũng phải chú trọng khắc phục những mặt trái của

và nghệ thuật cao.
Xét quan điểm tích cực về Thủ lĩnh chính trị trong lịch sử phơng Tây
nh: Xê-nô-phôn, Pla-ton, ôgruxtanh, Mongtétxkiơ v.v. thì thủ lĩnh chính trị
phải là ngời thông thái, ngời biết chỉ huy, là ngời giỏi thuyết phục, biết vì lợi
ích chung, biết tập hợp mà nhân lên sức mạnh của mọi ngời, biết đa ra những
quyết định đúng ở những thời điểm bớc ngoặt, phải đặt uy quyền vào việc
phục vụ nhân dân, lấy công bằng làm gốc, từ thiện làm ngọn, cầm quyền là
14
gánh nặng, địa vị cao nhất, cũng là nguy hiểm và nặng nề nhất. Họ phải biết
chỉ huy mình trớc khi chỉ huy ngời khác, phải biết phân biệt lợi ích của quốc
gia với những đòi hỏi sai lạc của nhân dân, có đủ năng lực, có tài, có đức tham
gia vào bộ máy quyền lực nhà nớc.
Xét những quan điểm tích cực về Thủ lĩnh chính trị trong lịch sử t tởng
Chính trị phơng Đông, chúng ta thấy điểm chung là đi tìm mẫu hình lý tởng.
Khổng Tử cho rằng Ngời cai trị dân phải có đức độ, công bằng, độ lợng, vì
nhân hậu nên đợc lòng dân, thành thực nên trăm họ tín nhiệm, cần mẫn nên
thành công, công bằng nên mọi ngời vui vẻ. Thủ lĩnh phải tu dỡng, phấn đấu
không ngừng để trở thành ngời có đủ: Trí, Nhân, Trung, Nghĩa, Tín để hoàn
toàn xứng đáng là ngời cai trị dân, có trách nhiệm làm gơng cho dân, chăm lo
cho dân, bảo vệ dân và phải giáo hóa dân, tạo niềm tin cho dân; Mạnh Tử cũng
cho rằng kẻ cai trị phải có đức, có tài; Hàn Phi Tử lại đề ra tiêu chuẩn thủ lĩnh
chính trị là phải biết đề cao pháp luật. Hiểu đạo và cai trị theo đạo; Mặc Tử cũng
cho rằng thủ lĩnh phải là Ngời: Vui với lợi ích của thiên hạ, trừ họa cho thiên hạ,
phép tắc kỷ cơng, đối xử tốt đẹp với mọi ngời xung quanh.
Nh vậy xét về mặt lịch sử, từ phơng Tây đến phơng Đông, tiêu chí bao
quát nhất đối với thủ lĩnh chính trị là đạo đức, trí tuệ và sức khỏe, biết thu
phục nhân tâm, biết tổ chức và phát huy sức mạnh cộng đồng, nếu loại trừ
những hạn chế, thì những t tởng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Lênin ngay từ ngày đầu thành lập Nhà nớc Xô viết, đã rất coi trọng
công tác tổ chức, theo ông lĩnh vực trọng yếu nhất của cuộc cách mạng xã hội

thời có nguy cơ đánh mất vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị. Chính vì thế mà
trong công tác lãnh đạo của Đảng có một nội dung rất quan trọng đó là: Đảng
lãnh đạo toàn diện công tác tổ chức, cán bộ và lãnh đạo toàn thể hệ thống
chính trị thông qua công tác tổ chức và cán bộ.
Ba là, nhân tố nhận thức về Đảng và xây dựng tổ chức cơ sở đảng
Nhận thức mới về Đảng và đổi mới nhận thức trong xây dựng chỉnh đốn
Đảng là nhân tố trọng tâm nhằm bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng. Nhận
thức là điểm khởi đầu quan trọng, nhận thức đúng mới đổi mới đúng, nhận
thức mới về Đảng là căn cứ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, vấn đề trung tâm của sự
nghiệp đổi mới của nớc ta. Từ bài học thành công và thất bại của các Đảng
Cộng sản trên thế giới, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ
Chí Minh, Đảng ta đã có quan điểm, nhận thức đúng về Đảng, về vai trò lãnh
đạo của Đảng và đa ra một hệ thống quan điểm ngày càng hoàn chỉnh về
Đảng và công tác xây dựng Đảng.
Khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách
mạng của dân tộc. Để đảm đơng đợc vai trò lãnh đạo trong thời kỳ mới, Đảng
phải thờng xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đổi mới và chỉnh đốn là yêu cầu
khách quan, gắn chặt với nhau, không thể chỉnh đốn nếu không đổi mới,
không thể đổi mới mà không chỉnh đốn. Đổi mới không phải làm cho Đảng
16
biến màu, biến chất mà làm cho Đảng càng giữ vững bản chất, tăng cờng sức
chiến đấu của Đảng, đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.
Nhận thức mới của Đảng ta còn thể hiện ở sự khẳng định lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t tởng, kim chỉ nam cho hành
động của cách mạng Việt Nam. Đảng ta kiên trì và làm phong phú thêm chủ
nghĩa Mác - Lênin qua thực tiễn cách mạng Việt Nam, biểu hiện rõ trong đ-
ờng lối đổi mới, không khô cứng, giáo điều mà là một hệ thống t tởng sống
động, có khả năng kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hoá nhân loại, bổ sung giữa lý luận và thực tiễn. Không từ bỏ
chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng ta nhận thức

Đảng, thời gian qua vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng đợc củng cố, giữ
vững và phát huy, các tổ chức cơ sở đảng đã cơ bản xứng đáng là vai trò hạt
nhân lãnh đạo chính trị. Cụ thể hoá đợc đờng lối đổi mới toàn diện của Đảng
và chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh, tập trung
xây dựng Đảng cả về chính trị, t tởng, tổ chức, tôn trọng quy luật khách quan,
khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí. Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng có mặt đợc nâng cao, nhất là lãnh đạo kinh tế, lãnh đạo nhà nớc trong
giai đoạn chuyển đổi; đội ngũ đảng viên phát triển cả về số lợng và chất lợng,
thu hút đợc lực lợng trẻ u tú phấn đấu vào Đảng để cống hiến và trởng thành.
Bốn là, nhân tố về đờng lối và phơng thức lãnh đạo Đảng
Điểm quan trọng nhất trong nhân tố phơng thức lãnh đạo của Đảng đó là
Đảng phải có đờng lối chính trị đúng đắn. Cách mạng Tháng tám 1945 thành
công và lập nên nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mà nay là nớc Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là do Cơng lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 đã
khẳng định đợc con đờng cứu nớc chân chính, gắn liền giải phóng dân tộc với
giải phóng giai cấp và xã hội, gắn liền mục tiêu Độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội. Từ chiến lợc đó Đảng ta đã chú trọng xác định đờng lối cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân, đờng lối kháng chiến, đờng lối chủ nghĩa xã hội, đờng
lối đổi mới với thành tựu 20 năm đã tạo nên sự chuyển biến vợt bậc toàn diện
trên cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại
của Đảng ta. Đờng lối cách mạng dân tộc dân chủ, nhân dân cũng nh đờng lối
kháng chiến, Đảng đã xác định rõ kẻ thù, mục tiêu của cách mạng, sắp xếp và
tập hợp đông đảo lực lợng cách mạng, sử dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo
phơng pháp cách mạng để tạo nên sức mạnh tổng hợp, giành thắng lợi từng b-
ớc tiến tới thắng lợi hoàn toàn của quá trình đấu tranh cách mạng. Đờng lối
cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xác
định rõ mục tiêu, biện pháp thực hiện, những hình thức và bớc đi thích hợp. Đ-
ờng lối của Đảng đã khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc về con đờng
và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, những vấn đề cần đổi mới trong nhận
thức và hành động. Đổi mới chủ yếu là trong giải pháp, hình thức và bớc đi

Phơng thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các phơng pháp, cách thức
Đảng vận dụng để tác động vào hệ thống chính trị - xã hội nhằm đạt đợc mục
tiêu, nội dung lãnh đạo của Đảng; là công nghệ lãnh đạo của Đảng trong việc
thực hiện thắng lợi những nội dung lãnh đạo. Phơng thức lãnh đạo phụ thuộc
là bị chi phối bởi nội dung lãnh đạo của Đảng vì do sự tác động của điều kiện,
hoàn cảnh, hệ thống tổ chức, cơ chế vận hành và năng lực phẩm chất, thực tiễn
19
của đội ngũ đảng viên cán bộ. Phơng thức lãnh đạo có vai trò quan trọng quyết
định sự thành bại của cách mạng. Kinh nghiệm cho thấy, phong trào cách
mạng có dẫm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu phơng h-
ớng và mục tiêu rõ ràng, mà chủ yếu là thiếu phơng pháp cách mạng thích
hợp" [16, tr.32].
Nhân tố về phơng thức lãnh đạo của Đảng có ảnh hởng lớn đến quá
trình lãnh đạo của Đảng, chính vì thế đổi mới phơng thức lãnh đạo của Đảng
là nội dung mà trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng luôn đợc nhấn mạnh
và tập trung chỉ đạo thực hiện. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Đảng ta khẳng định: "Việc đổi mới phơng thức lãnh đạo của Đảng phải đồng
bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế;
thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt
động của Đảng. Tập trung đổi mới phơng thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nớc" [22, tr.137].
Hạn chế lớn nhất hiện nay trong phơng thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng là cha phát huy đợc vai trò lãnh đạo của mình, chậm cụ thể hoá việc xây
dựng các quy định, quy chế lãnh đạo, chậm đổi mới điều hành, lẫn lộn giữa
công tác chuyên môn với công tác lãnh đạo của Đảng. Tác hại lớn nhất của
vấn đề này là đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc
không đi vào cuộc sống, vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng có nơi bị
chính quyền lấn át, có nơi tổ chức Đảng lại lấn sân chính quyền, xẩy ra bao
biện làm thay, dẫn đến cải cách hành chính hiệu quả thấp, hiệu quả lãnh đạo
quản lý của đảng trên một số lĩnh vực kết quả hạn chế. Chất lợng tổ chức cơ

chính sách pháp luật của Nhà nớc, đặc biệt là tham gia xây dựng chơng trình
hành động thực hiện Nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ơng khoá
IX. Đổi mới việc nghiên cứu, học tập các nghị quyết của Đảng, việc tuyên
truyền giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, làm cho
chủ trơng của Tỉnh, của Trung ơng đợc cụ thể hoá, có sức sống gắn với thực
tiễn, các tổ chức cơ sở đảng đã tổng kết Nghị quyết Trung ơng năm (khoá
VIII) về "giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc"; sơ kết 3 năm thực hiện
Nghị quyết Trung ơng năm (khoá IX) về công tác t tởng lý luận.
Để phát huy vai trò của nhân tố bản lĩnh chính trị trong cán bộ, đảng
viên, các tổ chức cơ sở đảng đã triển khai thực hiện tốt Quy định số 54 -
QĐ/TW của Bộ Chính trị; Hớng dẫn số 09 - HD/ TTVH ngày 17 tháng 3 năm
2004 của Ban t tởng Văn hoá, Quy định số 05 của Thờng vụ Tỉnh uỷ về "chế
độ học tập lý luận trong Đảng và chơng trình thực hiện Nghị quyết Trung ơng
năm (khoá IX) về công tác t tởng lý luận trong tình hình mới. Triển khai học
tập về t tởng Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 23 - CT/TW ngày 27 tháng
3 năm 2003 của Ban Bí th Trung ơng.
21
Nhợc điểm lớn nhất hiện nay trong phát huy nhân tố xây dựng bản lĩnh
chính trị của Đảng đó là việc triển khai học tập các nghị quyết của Đảng cha
nghiêm và còn thiếu giải pháp cụ thể, cá biệt còn cơ sở rút ngắn thời gian,
triển khai chiếu lệ, thiếu chơng trình hành động. Một số cơ sở giảng viên hạn
chế về năng lực truyền đạt làm giảm hiệu quả tiếp thu. Việc giáo dục chính trị,
t tởng còn thiếu giải pháp sắc bén dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên bị
tác động của mặt trái kinh tế thị trờng nên mơ hồ trớc những âm mu thủ đoạn
của các thế lực thù địch, thiếu lòng tin vào Đảng, vào đờng lối của sự nghiệp
đổi mới, quay đầu kích động, tham gia, tiếp tay cho các thế lực thù địch chống
phá sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nếu không kiềm chế đợc những nhân tố
gây tác động xấu đến bản lĩnh chính trị thì trong mỗi tổ chức cơ sở đảng, trong
mỗi cán bộ, đảng viên, đều luôn luôn tiềm ẩn những yếu tố khó lờng, làm ảnh
hởng đến vai trò lãnh đạo của đảng.

vụ, có những hoạt động còn mang tính hình thức.
Khó khăn trong điều kiện hoạt động hiện nay là kinh phí của tổ chức
đảng cơ sở quá hạn hẹp, không đủ để chi phí. Các khoản chi phí phần lớn xin
chuyên môn, phụ thuộc vào chuyên môn, mà trực tiếp là giám đốc hay thủ tr-
ởng cơ quan. Trong lúc đó các chức danh đều là kiêm nhiệm, không có phụ
cấp, điều kiện thời gian lại bị động, cơ sở đảng phải phụ thuộc vào sự sắp xếp
của chuyên môn nên lãnh đạo, điều hành và thực thi quyền lực lãnh đạo của
mình bị động. Đây là điểm yếu nhất hiện nay cần khắc phục trong việc lãnh
đạo của tổ chức cơ sở đảng đối với hệ thống chính trị cơ sở.
23
Chơng 2
Tổ chức cơ sở đảng và những nhân tố ảnh hởng
đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng
bộ khối cơ quan dân Chính Đảng ở Quảng Bình hiện nay
2.1. Tổ chức cơ sở đảng trong đảng bộ khối cơ quan dân
chính đảng quảng bình hiện nay
2.1.1. Khái quát về quảng bình và đảng bộ tỉnh quảng bình hiện nay
2.1.1.1. Khái quát về Quảng Bình
Quảng Bình là một tỉnh thuộc miền Trung, có vị trí quan trọng về địa
chính trị, địa kinh tế, địa quân sự và địa văn hoá. Toàn tỉnh có 07 huyện, thành
phố, 159 xã, phờng, thị trấn; Dân số 845.433 ngời; tổng diện tích 8.037,6 km
2
,
phía Bắc giáp Hà Tĩnh, phía Nam giáp Quảng Trị, phía Tây giáp nớc Cộng hoà
Dân chủ nhân dân Lào, phía Đông giáp Biển Đông.
Về kinh tế, Quảng Bình là một tỉnh kinh tế thuần nông với 90% dân số
nông nghiệp, điều kiện sản xuất gặp nhiều khó khăn. Trong sự nghiệp đổi mới,
nhờ sự năng động, sáng tạo, phát huy đợc nội lực, tranh thủ đợc nguồn lực từ
bên ngoài, tận dụng đợc tài nguyên đất đai, sức lao động, chuyển dịch đợc cơ
cấu sản xuất, kinh doanh, xoá đói, giảm nghèo v.v., làm cho nền kinh tế hàng

Tuy vậy, Quảng Bình vẫn là một tỉnh nghèo. Tốc độ tăng trởng kinh tế
cha tơng xứng với tiềm năng thế mạnh, chất lợng phát triển còn thấp, năng
suất, chất lợng, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu; cơ cấu kinh tế chuyển dịch
chậm. Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, các nhu cầu về xoá đói,
giảm nghèo, giải quyết việc làm, hạ thấp tỷ lệ trẻ em suy dinh dỡng đang là
những thách thức rất gay gắt; trình độ khoa học - công nghệ, chất lợng giáo
dục - đào tạo, điều kiện y tế, đời sống văn hoá của nhân dân còn nhiều hạn
chế, kỷ cơng, kỷ luật cha nghiêm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông và tệ quan
liêu tham nhũng, tiêu cực lãng phí cha đợc ngăn chặn có hiệu quả.
2.1.1.2. Khái quát về Đảng bộ Quảng Bình
Năm 1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên đợc ra đời và sau đó một loạt
tổ chức cơ sở đảng ở Quảng Bình cũng đợc thành lập và từ đó cho đến nay tổ
chức Đảng các cấp tiếp tục đợc cũng cố và từng bớc nâng cao chất lợng hoạt
động. Bộ máy cấp ủy đợc từng bớc sắp xếp, kiện toàn chất lợng ngày càng cao
thông qua các nhiệm kỳ đại hội. Đảng bộ đã chú trong công tác xây dựng
đảng bộ, chi bộ, gắn với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, tạo chuyển biến
tích cực, phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng. Toàn tỉnh hiện có 559 tổ chức
cơ sở đảng; có 13 đảng bộ huyện, thành phố và đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy.
Đội ngũ đảng viên phát triển nhanh về số lợng, chất lợng ngày càng cao; công
tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý đảng viên đợc tăng cờng. Tổng số đảng
viên trong toàn Đảng bộ hiện có 50.331 đồng chí, chỉ tính trong năm năm
(2000- 2005) đã kết nạp đợc 10.658 đảng viên, tỉ lệ tăng bình quân mỗi năm là
25

Trích đoạn Đổi mới phơng thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Khối Cơ quan Dân Chính Đảng Quảng Bình hiện nay Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ trong Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng ở Quảng Bình hiện nay Nâng cao chất lợng sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng ở Quảng Bình hiện Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ suy thoái về t tởng chính trị, đạo đức lố Đổi mới và tăng cờng công tác kiểm tra kỷ luật Đảng trong các tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status